<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:geo="http://www.w3.org/2003/01/geo/wgs84_pos#" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>QUÊ HƯƠNG TÂN ĐỘ</title>
	<atom:link href="http://giotregiaoxutando.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Thu, 12 Jan 2012 18:45:08 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
<cloud domain='giotregiaoxutando.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://0.gravatar.com/blavatar/63dadcc4d8d2b14e47b74880330b6d0e?s=96&#038;d=http%3A%2F%2Fs2.wp.com%2Fi%2Fbuttonw-com.png</url>
		<title>QUÊ HƯƠNG TÂN ĐỘ</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com</link>
	</image>
	<atom:link rel="search" type="application/opensearchdescription+xml" href="http://giotregiaoxutando.wordpress.com/osd.xml" title="QUÊ HƯƠNG TÂN ĐỘ" />
	<atom:link rel='hub' href='http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?pushpress=hub'/>
		<item>
		<title>Sách Các Vua II</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-ii/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-ii/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 18:41:42 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.7. Sách Các Vua II]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=468</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - 1 Sau khi vua A-kháp qua đời, Mô-áp nổi loạn chống Ít-ra-en. 2 Vua A-khát-gia ngã xuống từ lan can phòng trên của lầu vua ở Sa-ma-ri, nên bị đau ốm. Vua sai sứ giả đi và bảo họ: &#8220;Các ngươi hãy đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn, để [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=468&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau khi vua A-kháp qua đời, Mô-áp nổi loạn chống Ít-ra-en. <sup>2</sup> Vua A-khát-gia ngã xuống từ lan can phòng trên của lầu vua ở Sa-ma-ri, nên bị đau ốm. Vua sai sứ giả đi và bảo họ: &#8220;Các ngươi hãy đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn, để xem ta có thể qua khỏi cơn bệnh này không?&#8221; <sup>3</sup> Nhưng sứ giả của Ðức Chúa nói với ông Ê-li-a người Tít-be: &#8220;Hãy trỗi dậy, lên gặp các sứ giả của vua Sa-ma-ri, và bảo họ: Ở Ít-ra-en không có Thiên Chúa hay sao, mà các anh lại đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn? <sup>4</sup> Vì thế Ðức Chúa phán thế này: Ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên nằm, vì thế nào ngươi cũng chết.&#8221; Rồi ông Ê-li-a đi khỏi đó.</span></p>
<p align="justify"><span id="more-468"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các sứ giả trở về với vua. Vua bảo họ: &#8220;Sao các ngươi lại trở về?&#8221; <sup>6</sup> Họ đáp: &#8220;Một người đã lên gặp chúng tôi và nói với chúng tôi: Hãy đi về với ông vua đã sai các anh đi và thưa với vua: Ðức Chúa phán thế này: Ở Ít-ra-en không có Thiên Chúa hay sao, mà ngươi lại sai sứ giả đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn? Vì thế, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên nằm, vì thế nào ngươi cũng chết.&#8221; <sup>7</sup> Vua hỏi họ: &#8220;Người đã lên gặp các ngươi và nói với các ngươi những lời đó, ăn mặc thế nào?&#8221; <sup>8</sup> Họ trả lời: &#8220;Ðó là một người mặc áo da lông, đóng khố da.&#8221; Vua nói: &#8220;Ðó là ông Ê-li-a người Tít-be!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vua sai một sĩ quan chỉ huy năm mươi quân đem theo năm mươi quân của mình đến với ông Ê-li-a. Viên sĩ quan này đi lên với ông Ê-li-a đang ngồi trên đỉnh núi. Viên sĩ quan thưa ông Ê-li-a: &#8220;Hỡi người của Thiên Chúa, vua bảo: Xin mời ông xuống!&#8221; <sup>10</sup> Ông Ê-li-a trả lời sĩ quan chỉ huy năm mươi quân: &#8220;Nếu ta là người của Thiên Chúa, thì chớ gì một ngọn lửa từ trời xuống thiêu đốt ngươi và năm mươi quân của ngươi!&#8221; Một ngọn lửa từ trời liền xuống thiêu đốt viên sĩ quan và năm mươi quân của ông. <sup>11</sup> Vua lại sai một sĩ quan khác chỉ huy năm mươi quân đem năm mươi quân của mình đến với ông Ê-li-a. Viên sĩ quan đó lên tiếng nói: &#8220;Hỡi người của Thiên Chúa, vua nói thế này: Xin ông xuống mau!&#8221; <sup>12</sup> Ông Ê-li-a trả lời họ: &#8220;Nếu ta là người của Thiên Chúa, thì chớ gì một ngọn lửa từ trời xuống thiêu đốt ngươi và năm mươi quân của ngươi!&#8221; Một ngọn lửa từ trời liền xuống thiêu đốt viên sĩ quan và năm mươi người của ông. <sup>13</sup> Vua lại sai viên sĩ quan thứ ba chỉ huy năm mươi quân đem theo năm mươi quân của mình. Viên sĩ quan thứ ba đi lên, và khi đến nơi, thì quỳ gối trước mặt ông Ê-li-a và khẩn nài: &#8220;Hỡi người của Thiên Chúa, ước gì mạng tôi và mạng của năm mươi tôi tớ ngài đây được coi là quý trước mắt ngài! <sup>14</sup> Một ngọn lửa đã từ trời xuống thiêu đốt hai sĩ quan trước, mỗi người cùng với năm mươi quân của họ. Nhưng bây giờ, ước gì mạng tôi được coi là quý trước mắt ngài!&#8221; <sup>15</sup> Sứ giả của Ðức Chúa nói với ông Ê-li-a: &#8220;Hãy xuống với người này, đừng sợ gì nó!&#8221; Ông trỗi dậy, cùng với viên sĩ quan xuống gặp vua. <sup>16</sup> Ông Ê-li-a nói với vua: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Vì ngươi đã sai sứ giả đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn, &#8211; ở Ít-ra-en không có Thiên Chúa hay sao, mà lại đi thỉnh lời sấm của nó? -, nên ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã lên nằm, vì thế nào ngươi cũng chết!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Vua đã chết, như lời của Ðức Chúa mà ông Ê-li-a đã truyền lại. Vì vua A-khát-gia không có con, nên ông Giô-ram lên ngôi kế vị, vào năm thứ hai triều vua Giô-ram, con ông Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa. <sup>18</sup> Các truyện còn lại của vua A-khát-gia, những gì vua làm, đã chẳng được ghi trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao?</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">VI. Truyện Ông Ê-Li-Sa</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Những Bước Ðầu</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Ê-li-a được đem đi. Ông Ê-li-sa thay thế.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vào thời Ðức Chúa đem ông Ê-li-a lên trời trong cơn gió lốc, ông Ê-li-a và ông Ê-li-sa rời Ghin-gan. <sup>2</sup> Ông Ê-li-a nói với ông Ê-li-sa: &#8220;Xin anh ở lại đây, vì Ðức Chúa sai thầy đến Bết Ên.&#8221; Nhưng ông Ê-li-sa thưa: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống và có thầy đang sống đây, con xin thề sẽ không bỏ thầy!&#8221; Rồi các ông đi xuống Bết Ên. <sup>3</sup> Các anh em ngôn sứ ở Bết Ên ra gặp ông Ê-li-sa và nói: &#8220;Ông có biết không, hôm nay Ðức Chúa sẽ đem thầy của ông lên cao ngay trên đầu ông?&#8221; Ông nói: &#8220;Tôi cũng biết chứ, im đi!&#8221; <sup>4</sup> Ông Ê-li-a bảo ông: &#8220;Này Ê-li-sa, xin anh ở lại đây, vì Ðức Chúa sai thầy đi Giê-ri-khô.&#8221; Nhưng ông Ê-li-sa thưa: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống và có thầy đang sống đây, con xin thề sẽ không bỏ thầy!&#8221; Và các ông đã đến Giê-ri-khô. <sup>5</sup> Các anh em ngôn sứ ở Giê-ri-khô đến gần ông Ê-li-sa và nói: &#8220;Ông có biết không, hôm nay Ðức Chúa sẽ đem thầy của ông lên cao, ngay trên đầu ông?&#8221; Ông nói: &#8220;Tôi cũng biết chứ, im đi!&#8221; <sup>6</sup> Ông Ê-li-a bảo: &#8220;Xin anh ở lại đây, vì Ðức Chúa sai thầy đến sông Gio-đan.&#8221; Nhưng ông thưa: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống và có thầy đang sống đây, con xin thề sẽ không bỏ thầy! &#8221; Rồi cả hai ông cùng đi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Năm mươi anh em ngôn sứ cũng đi, đứng ở đằng xa, phía trước hai ông, còn hai ông thì đứng bên bờ sông Gio-đan. <sup>8</sup> Ông Ê-li-a lấy áo choàng của mình, cuộn lại mà đập xuống nước. Nước rẽ ra hai bên. Hai ông đã đi qua ráo chân. <sup>9</sup> Vậy, khi đã đi qua, ông Ê-li-a nói với ông Ê-li-sa: &#8220;Anh cứ xin đi: thầy có thể làm gì cho anh trước khi thầy được đem đi, rời xa anh?&#8221; Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Xin cho con được hai phần thần khí của thầy!&#8221; <sup>10</sup> Ông Ê-li-a đáp: &#8220;Anh xin một điều khó đấy! Nếu anh thấy thầy khi thầy được đem đi, rời xa anh, thì sẽ được như thế; bằng không, thì không được.&#8221; <sup>11</sup> Các ông còn đang vừa đi vừa nói, thì này một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa tách hai người ra. Và ông Ê-li-a lên trời trong cơn gió lốc. <sup>12</sup> Thấy thế, ông Ê-li-sa kêu lên: &#8220;Cha ơi! Cha ơi! Hỡi chiến xa và chiến mã của Ít-ra-en!&#8221; Rồi ông không thấy thầy mình nữa. Ông túm lấy áo mình và xé ra làm hai mảnh. <sup>13</sup> Ông lượm lấy áo choàng của ông Ê-li-a rơi xuống. Ông trở về và đứng bên bờ sông Gio-đan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông lấy áo choàng của ông Ê-li-a đã rơi xuống mà đập xuống nước và nói: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông Ê-li-a ở đâu?&#8221; Ông đập xuống nước, nước rẽ ra hai bên, và ông Ê-li-sa đi qua. <sup>15</sup> Các anh em ngôn sứ Giê-ri-khô thấy ông ở đằng xa thì nói: &#8220;Thần khí của ông Ê-li-a đã ngự xuống trên ông Ê-li-sa.&#8221; Họ đến đón ông và sụp xuống đất lạy ông. <sup>16</sup> Họ thưa ông: &#8220;Tại đây có năm mươi người dũng cảm đang ở với các tôi tớ ngài. Xin cho phép họ đi tìm thầy của ngài. Có lẽ thần khí của Ðức Chúa đã đem người đi, rồi thả xuống một ngọn núi hay một thung lũng nào đó.&#8221; Nhưng ông nói: &#8220;Ðừng sai ai đi cả!&#8221; <sup>17</sup> Họ cứ một mực nài ép ông, nên ông bảo: &#8220;Thì cứ sai đi!&#8221; Họ sai năm mươi người đi kiếm suốt ba ngày, nhưng không tìm thấy ông Ê-li-a. <sup>18</sup> Họ trở về với ông. Ông đang ở Giê-ri-khô, ông nói với họ: &#8220;Tôi đã chẳng bảo các anh là đừng đi đó sao?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hai phép lạ của ông Ê-li-sa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Người trong thành nói với ông Ê-li-sa: &#8220;Như ngài thấy đó, địa thế của thành thì tốt, nhưng nước thì độc và xứ sở bị nạn vô sinh.&#8221; <sup>20</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Lấy cho tôi một cái tô mới và bỏ muối vào đó.&#8221; Họ đi lấy cho ông. <sup>21</sup> Ông đi ra suối nước, đổ muối xuống và nói: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ta làm cho nước hoá lành, và nước này sẽ không còn gây chết chóc và nạn vô sinh nữa.&#8221; <sup>22</sup> Và nước hoá lành cho đến ngày nay, theo lời ông Ê-li-sa đã nói.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ông rời nơi đó lên Bết Ên. Và khi ông đi lên, thì dọc đường có những trẻ con từ thành đi ra, chúng nhạo ông và nói: &#8220;Lên đi, ông hói đầu ơi! Lên đi, ông hói đầu ơi!&#8221; <sup>24</sup> Ông quay lại, và khi thấy chúng thì nguyền rủa chúng nhân danh Ðức Chúa. Bấy giờ, có hai con gấu từ trong rừng đi ra và xé xác bốn mươi hai đứa trẻ. <sup>25</sup> Từ nơi đó, ông đi tới núi Các-men, rồi trở lại Sa-ma-ri.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Cuộc Chiến Chông Mô-Áp</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời vua Giô-ram cai trị Ít-ra-en</strong> (852-841)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Giô-ram, con vua A-kháp, lên ngôi tại Sa-ma-ri cai trị Ít-ra-en, vào năm thứ mười tám triều vua Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa. Vua trị vì được mười hai năm. <sup>2</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, nhưng không như cha như mẹ của vua, vì vua đã cất bỏ trụ đá thần Ba-an mà vua cha đã dựng. <sup>3</sup> Tuy nhiên, vua vẫn bám lấy tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo; và vua không dứt ra được.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc viễn chinh của Giu-đa và Ít-ra-en đánh Mô-áp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Mê-sa, vua Mô-áp, là người nuôi chiên cừu. Ông thường cống nộp cho vua Ít-ra-en một trăm ngàn con chiên và một trăm ngàn con cừu len. <sup>5</sup> Nhưng sau khi vua A-kháp qua đời, thì vua Mô-áp nổi loạn chống lại vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ngày ấy, vua Giô-ram ra khỏi Sa-ma-ri và kiểm tra dân số toàn thể Ít-ra-en. <sup>7</sup> Rồi vua đi, sai người đến nói với vua Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa: &#8220;Vua Mô-áp nổi loạn chống tôi. Ngài có cùng với tôi đi đánh Mô-áp không?&#8221; Vua Giơ-hô-sa-phát đáp: &#8220;Tôi sẽ lên. Tôi cũng làm như ngài, dân tôi cũng như dân ngài, ngựa của tôi cũng như ngựa của ngài.&#8221; <sup>8</sup> Rồi vua nói tiếp: &#8220;Chúng ta sẽ đi đường nào mà lên?&#8221; Vua Giô-ram trả lời: &#8220;Ðường sa mạc Ê-đôm.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vua Ít-ra-en, vua Giu-đa và vua Ê-đôm lên đường. Họ đi vòng quanh bảy ngày đường; không còn nước cho quân lính và thú vật đi theo nữa. <sup>10</sup> Vua Ít-ra-en mới nói: &#8220;Than ôi! Ðức Chúa đã triệu tập ba vua chúng ta đây để nộp vào tay Mô-áp!&#8221; <sup>11</sup> Vua Giơ-hô-sa-phát nói: &#8220;Ở đây không có một ngôn sứ nào của Ðức Chúa có thể giúp chúng ta thỉnh ý Người sao?&#8221; Một trong những tôi tớ của vua Ít-ra-en trả lời: &#8220;Ở đây có ông Ê-li-sa, con ông Sa-phát, người đã đổ nước trên tay ông Ê-li-a.&#8221; <sup>12</sup> Vua Giơ-hô-sa-phát nói: &#8220;Ông ấy có lời của Ðức Chúa.&#8221; Vua Ít-ra-en, vua Giơ-hô-sa-phát và vua Ê-đôm đi xuống gặp ông. <sup>13</sup> Ông Ê-li-sa nói với vua Ít-ra-en: &#8220;Chuyện đó can gì đến vua và tôi? Vua hãy đi gặp các ngôn sứ của vua cha, các ngôn sứ của thái hậu.&#8221; Vua Ít-ra-en nói: &#8220;Không, vì Ðức Chúa đã triệu tập ba vua chúng tôi đây để nộp vào tay Mô-áp.&#8221; <sup>14</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Có Ðức Chúa, Chúa Tể càn khôn, hằng sống, Ðấng tôi phụng thờ, tôi xin thề: Nếu tôi không nể vua Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa, thì tôi sẽ không để ý đến vua và cũng chẳng nhìn mặt vua. <sup>15</sup> Bây giờ, hãy dẫn đến tôi một người gảy đàn.&#8221; Người gảy đàn vừa đánh đàn, thì bàn tay Ðức Chúa ở trên ông. <sup>16</sup> Ông nói: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Hãy đào trong khe này thật nhiều hố. <sup>17</sup> Vì Ðức Chúa phán thế này: Các ngươi không thấy có gió, các ngươi không thấy có mưa; nhưng khe này sẽ đầy nước, và các ngươi sẽ được uống, các ngươi, súc vật và lừa ngựa của các ngươi. <sup>18</sup> Ðối với Ðức Chúa, đó còn là quá ít. Người sẽ nộp Mô-áp vào tay các ngươi. <sup>19</sup> Các ngươi sẽ hạ mọi thành kiên cố, mọi thành quan trọng, sẽ chặt mọi cây cối tươi tốt, lấp mọi giếng nước và rải đá để tàn phá mọi ruộng đồng phì nhiêu.&#8221; <sup>20</sup> Quả thật, ban sáng, vào giờ dâng lễ tiến, thì nước từ phía Ê-đôm đến, và toàn xứ đều ngập nước.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Khi nghe tin các vua lên đánh chúng, mọi người Mô-áp, những người đến tuổi mang vũ khí và cả những người đã quá tuổi đó, đều được gọi nhập ngũ và đóng ở biên giới. <sup>22</sup> Sáng sớm họ thức dậy; Và khi mặt trời mọc lên, chiếu sáng trên mặt nước, người Mô-áp thấy nước đằng trước chúng đỏ như máu, <sup>23</sup> thì nói: &#8220;Máu đó! Chắc chắn các vua đã đánh nhau, chém giết lẫn nhau. Bây giờ, hỡi Mô-áp, đi hôi của đi!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Chúng đến trại người Ít-ra-en. Nhưng người Ít-ra-en đã vùng dậy, đánh quân Mô-áp, khiến chúng phải tẩu thoát trước mặt họ. Họ tiến vào Mô-áp mà đánh. <sup>25</sup> Họ phá huỷ các thành, mỗi người nhặt đá quăng xuống lấp đầy mọi đồng ruộng phì nhiêu; họ bịt mọi giếng nước và chặt mọi cây cối tốt tươi. Cuối cùng, ở Kia Kha-re-xét chỉ còn trơ lại một đống đá. Lính phóng đá bao vây thành đó và đánh phá. <sup>26</sup> Khi vua Mô-áp thấy cuộc chiến ác liệt, không cầm cự nổi, thì dẫn theo bảy trăm người mang kiếm, mở đường máu đi tới vua Ê-đôm. Nhưng chúng không làm nổi chuyện đó. <sup>27</sup> Khi ấy, vua mới bắt con đầu lòng, là người có quyền lên ngôi kế vị, mà tế trên tường thành làm lễ vật toàn thiêu. Một cơn thịnh nộ lớn giáng xuống Ít-ra-en. Quân Ít-ra-en nhổ trại, rút lui mà trở về xứ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Vài Phép Lạ Của Ông Ê-Li-Sa</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dầu của bà goá</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Có người vợ của một trong những anh em ngôn sứ kêu cứu ông Ê-li-sa: &#8220;Tôi tớ ngài là chồng tôi đã chết. Và ngài biết là tôi tớ ngài kính sợ Ðức Chúa. Nhưng chủ nợ đã đến bắt hai đứa con tôi làm nô lệ.&#8221; <sup>2</sup> Ông Ê-li-sa nói với bà: &#8220;Tôi có thể làm gì cho chị đây? Hãy cho tôi biết: trong nhà chị còn có gì không?&#8221; Bà thưa: &#8220;Trong nhà nữ tỳ của ngài chẳng còn gì cả, trừ một lọ dầu.&#8221; <sup>3</sup> Ông nói: &#8220;Chị hãy đi ra ngoài mượn bà con láng giềng các thứ bình, những bình rỗng, đừng có ít quá! <sup>4</sup> Rồi chị trở về, chị và các con cái chị vào nhà đóng cửa lại. Chị sẽ đổ dầu vào tất cả các bình đó, bình nào đầy thì để riêng ra.&#8221; <sup>5</sup> Bà từ giã ông mà đi; bà và con cái bà vào nhà đóng cửa lại. Chúng đem bình đến cho bà, còn bà thì đổ vào.6 Khi các bình đã đầy, bà nói với con: &#8220;Ðem bình nữa cho mẹ.&#8221; Nhưng nó thưa: &#8220;Hết bình rồi.&#8221; Dầu liền ngưng chảy. <sup>7</sup> Bà đến trình cho người của Thiên Chúa biết. Ông nói: &#8220;Chị đi bán dầu ấy mà trả nợ; phần còn lại thì mẹ con dùng để sinh sống.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ê-li-sa và mẹ con người phụ nữ Su-nêm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Một hôm, ông Ê-li-sa đi qua Su-nêm. Ở đó có một phụ nữ giàu sang. Bà ta giữ ông lại dùng bữa. Từ đó, mỗi lần đi qua, ông đều ghé vào dùng bữa. <sup>9</sup> Bà ấy nói với chồng: &#8220;Này ông! Tôi biết người thường ghé vào nhà chúng ta là một thánh nhân của Thiên Chúa. <sup>10</sup> Mình phải làm cho ông một căn phòng nhỏ trên lầu có tường có vách, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để một cái đèn cho ông dùng. Như thế, khi nào đến nhà mình, ông sẽ lui vào đó.&#8221; <sup>11</sup> Một hôm, ông đến nơi ấy, ông lui vào phòng trên lầu và nghỉ ở đó. <sup>12</sup> Ông nói với Giê-kha-di, tiểu đồng của ông: &#8220;Ði gọi bà Su-nêm.&#8221; Nó đi gọi bà và bà đến trước mặt nó. <sup>13</sup> Ông Ê-li-sa bảo nó: &#8220;Hãy nói với bà ấy: Bà đã quá lo lắng bận rộn vì chúng tôi. Chúng tôi biết phải làm gì cho bà đây? Có cần chúng tôi phải nói một lời với đức vua hay với tướng chỉ huy quân đội cho bà không?&#8221; Bà trả lời: &#8220;Tôi sống yên hàn giữa dân tôi.&#8221; <sup>14</sup> Ông Ê-li-sa nói với tiểu đồng: &#8220;Nên làm gì cho bà ấy?&#8221; Giê-kha-di đáp: &#8220;Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già.&#8221; <sup>15</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Ði gọi bà ấy.&#8221; Nó đi gọi bà, và bà ấy đến đứng ngoài cửa. <sup>16</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai.&#8221; Bà mới nói: &#8220;Không, thưa ngài, người của Thiên Chúa, xin đừng lừa dối nữ tỳ ngài!&#8221; <sup>17</sup> Quả nhiên, bà ấy có thai, và năm sau, vào thời kỳ, vào độ mà ông Ê-li-sa đã nói, thì bà sinh con trai.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ðứa trẻ lớn lên. Một ngày kia, khi đi kiếm cha nó ở giữa những người thợ gặt,19 nó nói với cha: &#8220;Ôi, cái đầu con! Cái đầu con!&#8221; Người cha bảo anh đầy tớ: &#8220;Bồng nó về cho mẹ nó.&#8221; <sup>20</sup> Người tớ trai bồng nó, đem về cho bà mẹ. Ðứa trẻ ngồi trên đầu gối bà đến trưa, rồi nó chết. <sup>21</sup> Bà đem nó lên đặt trên giường dành cho người của Thiên Chúa, đóng cửa lại, để nó ở trong rồi đi ra. <sup>22</sup> Bà đi gọi chồng và nói: &#8220;Xin ông sai đến tôi một anh đầy tớ và một con lừa cái. Tôi chạy đến người của Thiên Chúa, rồi sẽ về.&#8221; <sup>23</sup> Người chồng bảo: &#8220;Tại sao bà lại đi gặp ngài ngày hôm nay? Không phải là ngày đầu tháng, cũng chẳng phải là ngày sa-bát.&#8221; Nhưng bà trả lời: &#8220;Ông cứ yên tâm!&#8221; <sup>24</sup> Rồi bà cho thắng lừa và nói với anh đầy tớ: &#8220;Hãy đưa tôi đi và lên đường! Chỉ dừng xe lại khi tôi bảo.&#8221; <sup>25</sup> Bà lên đường và đi đến với người của Thiên Chúa ở núi Các-men. Vừa thấy bà đằng xa, người của Thiên Chúa nói với Giê-kha-di, tiểu đồng của ông: &#8220;Kìa bà Su-nêm. <sup>26</sup> Con hãy chạy ra đón và nói với bà ấy: &#8220;Bà có được mạnh khoẻ không? Ông nhà có được mạnh khoẻ không? Cậu bé có được mạnh khoẻ không?&#8221; Bà trả lời: &#8220;Vâng, mạnh khoẻ cả.&#8221; <sup>27</sup> Khi đến gần người của Thiên Chúa ở trên núi, bà ôm lấy chân ông. Giê-kha-di tiến tới, đẩy bà ra, nhưng người của Thiên Chúa bảo: &#8220;Ðể yên cho bà ấy, vì tâm hồn bà đang phải cay đắng. Ðức Chúa đã giấu ta điều ấy, Người không cho ta biết.&#8221; <sup>28</sup> Khi ấy, bà nói: &#8220;Nào tôi có xin ngài cho tôi được đứa con đâu? Tôi đã chẳng nói: &#8220;Xin đừng đánh lừa tôi, đó sao?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ông Ê-li-sa bảo Giê-kha-di: &#8220;Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta mà đi! Gặp ai thì đừng có chào, ai chào thì đừng đáp lại. Ngươi sẽ đặt gậy của ta trên mặt cậu bé.&#8221; <sup>30</sup> Mẹ cậu bé nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống và có ngài đang sống đây, tôi xin thề sẽ không rời xa ngài.&#8221; Ông trỗi dậy và đi theo bà. <sup>31</sup> Giê-kha-di đã đi trước hai người và đặt gậy trên mặt cậu bé; nhưng không nghe thấy tiếng, không thấy động đậy. Anh ta quay lại đón ông Ê-li-sa và trình ông: &#8220;Cậu bé đã không thức dậy.&#8221; <sup>32</sup> Khi ông Ê-li-sa tới nhà thì cậu bé đã chết, nằm trên giường của ông. <sup>33</sup> Ông đi vào chỗ cậu bé, đóng cửa lại, chỉ có hai người ở bên trong, rồi cầu nguyện với Ðức Chúa. <sup>34</sup> Ông lên giường nằm lên trên đứa trẻ, kề miệng ông trên miệng nó, kề mắt ông trên mắt nó, đặt bàn tay ông trên bàn tay nó. Ông cứ nằm trên đứa trẻ, da thịt nó nóng lên. <sup>35</sup> Ông đi đi lại lại trong nhà, rồi lại lên nằm trên nó; cậu bé hắt hơi đến bảy lần, và mở mắt ra. <sup>36</sup> Ông Ê-li-sa gọi Giê-kha-di và bảo: &#8220;Ði gọi bà Su-nêm.&#8221; Nó đi gọi bà; bà đến với ông, ông nói: &#8220;Bà hãy đem con đi!&#8221; <sup>37</sup> Bà đi vào, quỳ dưới chân ông, rồi sụp xuống đất lạy ông. Sau đó, bà đem con đi và ra khỏi phòng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nồi cháo độc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Ông Ê-li-sa trở về Ghin-gan, khi nạn đói đang xảy ra trong xứ. Lúc anh em ngôn sứ đang ngồi trước mặt ông, ông nói với tiểu đồng: &#8220;Bắc nồi lớn lên bếp và nấu cháo cho anh em ngôn sứ.&#8221; <sup>39</sup> Một người trong nhóm ra đồng hái rau, tìm thấy một thứ cây giống như nho dại, thì hái trái dưa đắng ấy, đầy một vạt áo, rồi về nhà, thái nhỏ ra, bỏ vào nồi nấu cháo, vì họ không biết đó là thứ gì. <sup>40</sup> Sau đó, họ múc ra cho mọi người ăn. Vừa ăn chút cháo, họ kêu lên: &#8220;Người của Thiên Chúa ơi, thần chết ở trong nồi!&#8221; Và họ không thể ăn được nữa. <sup>41</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Ðem bột đến đây!&#8221; Ông bỏ bột vào và bảo: &#8220;Múc ra cho người ta ăn.&#8221; Trong nồi liền hết chất độc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phép lạ hoá bánh ra nhiều</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Có một người từ Ba-an Sa-li-sa đến, đem bánh đầu mùa biếu người của Thiên Chúa: hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị. Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Phát cho người ta ăn.&#8221; <sup>43</sup> Nhưng tiểu đồng hỏi ông: &#8220;Có bằng này, sao con có thể phát cho cả trăm người ăn được?&#8221; Ông bảo: &#8220;Cứ phát cho người ta ăn! Vì Ðức Chúa phán thế này: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư.&#8221; <sup>44</sup> Tiểu đồng phát cho người ta. Họ đã ăn, mà vẫn còn dư, như lời Ðức Chúa phán.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Na-a-man được chữa khỏi bệnh phung hủi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram, là người có thần thế và uy tín trước mặt chúa thượng của ông, vì Ðức Chúa đã dùng ông mà ban chiến thắng cho A-ram. Nhưng ông lại mắc bệnh phung hủi. <sup>2</sup> Khi những người A-ram đi càn quét, họ đã bắt được một cô bé từ đất Ít-ra-en đưa về. Nó vào giúp việc cho vợ ông Na-a-man. <sup>3</sup> Nó nói với bà chủ: &#8220;Ôi, phải chi ông chủ con được giáp mặt vị ngôn sứ ở Sa-ma-ri, thì chắc ngôn sứ sẽ chữa ông khỏi bệnh phung hủi!&#8221; <sup>4</sup> Ông Na-a-man đến tường trình với chúa thượng của ông: &#8220;Một thiếu nữ xuất thân từ đất Ít-ra-en đã nói thế này thế này.&#8221; <sup>5</sup> Vua A-ram bảo: &#8220;Ngươi cứ lên đường và trẩy đi. Ta sẽ gửi thư cho vua Ít-ra-en.&#8221; Ông Na-a-man lên đường, mang theo ba trăm ký bạc, sáu mươi ký vàng và mười bộ quần áo để thay đổi. <sup>6</sup> Ông trình thư lên vua Ít-ra-en. Thư viết: &#8220;Cùng với bức thư mà tôi gửi tới ngài đây, tôi sai Na-a-man, thuộc hạ của tôi, đến với ngài, để ngài chữa người này khỏi bệnh phung hủi.&#8221; <sup>7</sup> Vua Ít-ra-en đọc thư xong thì xé áo mình ra và nói: &#8220;Ta đâu có phải là vị thần cầm quyền sinh tử, mà ông ấy lại sai người này đến nhờ ta chữa hắn khỏi bệnh phung hủi? Các ngươi phải biết, phải thấy rằng ông ấy muốn sinh sự với ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Vậy, khi ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, nghe biết là vua Ít-ra-en đã xé áo mình ra, thì sai người đến nói với vua: &#8220;Sao vua lại xé áo mình ra? Người ấy cứ đến với tôi, thì sẽ biết là có một ngôn sứ ở Ít-ra-en.&#8221; <sup>9</sup> Ông Na-a-man đi đến cùng với cả xe và ngựa. Ông đứng trước cửa nhà ông Ê-li-sa. <sup>10</sup> Ông Ê-li-sa sai sứ giả ra nói với ông: &#8220;Ông hãy đi tắm bảy lần trong sông Gio-đan. Da thịt ông sẽ trở lại như trước, và ông sẽ được sạch.&#8221; <sup>11</sup> Ông Na-a-man nổi giận bỏ đi và nói: &#8220;Ta cứ nghĩ bụng là thế nào ông ấy cũng đích thân đi ra, rồi đứng mà cầu khẩn danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông ta. Ông ta sẽ quơ tay lên đúng chỗ phung hủi mà chữa khỏi. <sup>12</sup> Nước các sông A-va-na và Pác-pa ở Ða-mát chẳng tốt hơn tất cả nước sông ở Ít-ra-en sao? Ta lại không thể tắm ở các sông ấy để được sạch hay sao?&#8221; Ông quay lưng lại và tức tối ra đi. <sup>13</sup> Bấy giờ, các tôi tớ của ông đến gần và nói: &#8220;Cha ơi, giả như ngôn sứ bảo cha làm một điều gì khó, chẳng lẽ cha lại không làm? Phương chi ngôn sứ chỉ nói: Ông hãy đi tắm, thì sẽ được sạch!&#8221; <sup>14</sup> Vậy ông xuống dìm mình bảy lần trong sông Gio-đan, theo lời người của Thiên Chúa. Da thịt ông lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ. Ông đã được sạch.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Cùng với đoàn tuỳ tùng, ông trở lại gặp người của Thiên Chúa. Ông vào, đứng trước mặt ông ấy và nói: &#8220;Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en. Bây giờ, xin ngài vui lòng nhận món quà của tôi tớ ngài đây.&#8221; <sup>16</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống là Ðấng tôi phụng sự, tôi thề sẽ không nhận gì cả.&#8221; Ông Na-a-man nài ép ông nhận, nhưng ông vẫn từ chối. <sup>17</sup> Ông Na-a-man nói: &#8220;Nếu ngài từ chối, thì xin cho phép tôi tớ ngài đây mang về một số đất vừa sức hai con lừa chở được, vì tôi tớ ngài sẽ không còn dâng lễ toàn thiêu và hy lễ cho thần nào khác ngoài Ðức Chúa. <sup>18</sup> Nhưng xin Ðức Chúa tha thứ điều này cho tôi tớ ngài: Khi ông chủ tôi vào điện của thần Rim-môn để sụp xuống lạy, và khi ông ấy vịn vào cánh tay tôi, thì tôi cũng phải sụp xuống lạy trong điện của thần Rim-môn cùng lúc với ông. Xin Ðức Chúa tha thứ điều ấy cho tôi tớ ngài!&#8221; <sup>19</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Ông đi bằng an!&#8221; và ông Na-a-man đi khỏi chỗ ông Ê-li-sa được một quãng đường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi đó, Giê-kha-di, tiểu đồng của ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, nghĩ bụng: &#8220;Chủ ta đã giữ gìn không nhận những gì ông Na-a-man, người A-ram, tự tay đem dâng. Có Ðức Chúa hằng sống, ta sẽ chạy theo ông ấy để nhận được chút gì chứ!&#8221; <sup>21</sup> Giê-kha-di liền đuổi theo ông Na-a-man. Khi thấy Giê-kha-di chạy theo mình, ông Na-a-man từ trên xe nhảy xuống gặp nó, và hỏi: &#8220;Mọi sự đều yên ổn chứ?&#8221; <sup>22</sup> Nó trả lời: &#8220;Mọi sự đều yên ổn. Chủ tôi sai tôi đi nói với ông: &#8220;Vừa rồi có hai thanh niên thuộc nhóm các ngôn sứ đến với tôi từ vùng núi Ép-ra-im. Xin ông cho họ ba mươi ký bạc và hai bộ quần áo để thay đổi.&#8221; <sup>23</sup> Ông Na-a-man nói: &#8220;Anh vui lòng nhận lấy sáu mươi ký.&#8221; Rồi ông ép nó nhận. Ông nhét sáu mươi ký bạc trong hai bị cùng với hai bộ quần áo để thay đổi, rồi đưa cho hai người tớ trai mang đi trước mặt nó. <sup>24</sup> Khi tới Ô-phen, nó lấy những thứ đó từ tay họ, đem cất vào nhà, rồi từ giã những người ấy, và họ trẩy đi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Còn nó, nó vào hầu chủ. Ông Ê-li-sa hỏi: &#8220;Giê-kha-di, mày đi đâu về?&#8221; Nó đáp: &#8220;Tôi tớ ngài không có đi đâu cả.&#8221; <sup>26</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Trí ta đã chẳng ở đó khi có người xuống xe gặp mày sao? Giờ đây, mày đã nhận tiền bạc, mày có thể sắm quần áo, tậu vườn, vườn ô-liu và vườn nho, mua bò dê chiên cừu và tôi trai tớ gái. <sup>27</sup> Nhưng bệnh phung hủi của ông Na-a-man sẽ mãi mãi bám lấy mày và dòng dõi mày.&#8221; Giê-kha-di rời ông Ê-li-sa; nó mắc bệnh phung hủi, mốc thếch như tuyết.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cái rìu đã mất lại tìm thấy</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Các anh em ngôn sứ nói với ông Ê-li-sa: &#8220;Thầy coi, nơi chúng tôi ngồi nghe thầy đây đã ra quá hẹp, so với số người chúng tôi. <sup>2</sup> Vậy xin cho chúng tôi đi ra bờ sông Gio-đan; ở đó, mỗi người chúng tôi sẽ lấy một cái xà, rồi làm một nơi để ngồi nghe.&#8221; Ông bảo: &#8220;Các anh cứ đi!&#8221; <sup>3</sup> Một người trong nhóm nói: &#8220;Xin thầy vui lòng cùng đi với các tôi tớ thầy.&#8221; Ông đáp: &#8220;Ðược, tôi sẽ đi&#8221;, <sup>4</sup> rồi ông cùng đi với họ. Tới sông Gio-đan, họ đốn cây. <sup>5</sup> Khi một người trong nhóm đang hạ cây làm xà, thì lưỡi rìu bằng sắt văng xuống nước. Người ấy liền kêu lên: &#8220;Chết rồi, ngài ơi! Cái rìu này tôi mượn của người ta!&#8221; <sup>6</sup> Người của Thiên Chúa hỏi: &#8220;Nó văng đi đâu?&#8221; Người ấy chỉ chỗ cho ông. Ông chặt một khúc gỗ, ném xuống đó và làm cho lưỡi rìu bằng sắt nổi lên. <sup>7</sup> Ông bảo: &#8220;Vớt lên đi!&#8221; Người kia đưa tay ra cầm lấy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Chiến Tranh Với A-Ram</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ê-li-sa tóm gọn một toán quân A-ram</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Hồi ấy, vua A-ram đang giao chiến với Ít-ra-en. Vua bàn với các thuộc hạ và bảo chúng: &#8220;Ta sẽ đặt trại quân chỗ này, chỗ nọ.&#8221; <sup>9</sup> Nhưng người của Thiên Chúa nhắn tin cho vua Ít-ra-en: &#8220;Xin ngài đề phòng, đừng đi qua chỗ ấy, vì quân A-ram đi xuống đó.&#8221; <sup>10</sup> Vua Ít-ra-en mới sai lính tới chỗ người của Thiên Chúa đã nói, đã báo cho biết; vua đề phòng, không phải chỉ một hay hai lần mà thôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Lòng vua A-ram rất nao núng vì chuyện này. Vua gọi các thuộc hạ lại và bảo: &#8220;Chẳng lẽ các ngươi không báo cho ta biết ai trong chúng ta đã bỏ theo vua Ít-ra-en sao?&#8221; <sup>12</sup> Một người trong nhóm thuộc hạ đáp: &#8220;Thưa đức vua, chúa công tôi, chẳng có ai đâu! Chính ông Ê-li-sa, ngôn sứ của Ít-ra-en, đã cho vua Ít-ra-en biết những lời ngài nói trong phòng ngủ của ngài.&#8221; <sup>13</sup> Vua nói: &#8220;Ði coi xem ông ấy ở đâu! Ta sẽ sai người đi bắt.&#8221; Người ta cho vua biết: &#8220;Ông ấy đang ở Ðô-than.&#8221; <sup>14</sup> Vua liền phái tới đó một đạo quân lớn, có cả ngựa xe. Chúng đến nơi ban đêm và bao vây thành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Sáng hôm sau, người của Thiên Chúa dậy sớm và đi ra ngoài. Và kìa một toán quân có cả ngựa xe đang vây quanh thành. Người đầy tớ nói với ông: &#8220;Chết rồi, ngài ơi! Làm sao bây giờ?&#8221; <sup>16</sup> Ông trả lời: &#8220;Ðừng sợ, vì những người đi theo chúng ta thì đông hơn những người đi theo chúng.&#8221; <sup>17</sup> Ông Ê-li-sa cầu xin rằng: &#8220;Lạy Ðức Chúa, xin mở mắt cho nó thấy!&#8221; Ðức Chúa mở mắt người đầy tớ của ông và nó thấy núi đầy những ngựa và xe đỏ như lửa vây quanh ông Ê-li-sa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi quân A-ram kéo xuống phía ông Ê-li-sa, thì ông cầu xin Ðức Chúa: &#8220;Xin Chúa đánh mờ mắt những quân này.&#8221; Và Ðức Chúa đã đánh mờ mắt chúng, theo lời ông Ê-li-sa xin. <sup>19</sup> Khi đó, ông Ê-li-sa bảo chúng: &#8220;Ðây không phải là đường, cũng không phải là thành. Các anh đi theo tôi, tôi sẽ dẫn các anh đến người các anh đang tìm kiếm.&#8221; Và ông đã dẫn chúng tới Sa-ma-ri. <sup>20</sup> Khi chúng vào Sa-ma-ri, ông Ê-li-sa lại nói: &#8220;Lạy Ðức Chúa, xin mở mắt cho những người này, cho chúng thấy được.&#8221; Ðức Chúa đã mở mắt chúng và chúng thấy là mình đang ở giữa thành Sa-ma-ri!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Thấy chúng, vua Ít-ra-en nói với ông Ê-li-sa: &#8220;Thưa cha, có phải giết chúng không?&#8221; <sup>22</sup> Ông đáp: &#8220;Ðừng giết! Thử hỏi những kẻ vua đã dùng gươm dùng nỏ bắt làm tù binh, thì vua có giết không? Vua hãy đem bánh và nước tới cho chúng ăn uống, rồi để chúng trở về với chủ của chúng!&#8221; <sup>23</sup> Vua dọn tiệc lớn đãi chúng. Khi chúng ăn uống xong, vua cho chúng đi và chúng trở về với chủ của chúng. Những toán quân A-ram không còn xâm nhập Ít-ra-en nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nạn đói trong thành Sa-ma-ri bị bao vây</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Sau đó, Ben Ha-đát, vua A-ram, tập họp tất cả quân đội lại, tiến lên vây thành Sa-ma-ri. <sup>25</sup> Ở Sa-ma-ri, đang có một nạn đói lớn; thành bị địch bao vây gắt gao đến nỗi một đầu lừa lên tới hai mươi bốn lượng bạc, và một dúm hành dại cũng lên tới mười lăm chỉ bạc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Khi vua Ít-ra-en đang đi lại trên tường thành, thì một phụ nữ kêu với vua rằng: &#8220;Thưa đức vua, chúa thượng tôi, xin cứu tôi với!&#8221; <sup>27</sup> Vua trả lời: &#8220;Nếu Ðức Chúa không cứu ngươi, thì ta biết lấy gì để cứu ngươi? Chẳng lẽ lấy sân lúa hay bồn đạp nho?&#8221; <sup>28</sup> Rồi vua hỏi chị ta: &#8220;Chuyện gì vậy?&#8221; Chị ấy thưa: &#8220;Mụ này đã nói với tôi: &#8220;Ðưa con chị đây, chúng ta ăn thịt nó hôm nay; ngày mai, chúng ta sẽ ăn thịt con tôi! <sup>29</sup> Chúng tôi đã nấu chín con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau, tôi bảo mụ: &#8220;Ðưa con chị đây, chúng ta ăn thịt nó! Nhưng mụ đã giấu con đi.&#8221; <sup>30</sup> Vừa nghe người phụ nữ nói những lời ấy, vua liền xé áo mình ra. Vì vua đang đi lại trên tường thành, nên dân thấy được là bên trong vua mặc áo lót bằng vải thô. <sup>31</sup> Vua nói: &#8220;Xin Thiên Chúa phạt ta thế này và thêm thế kia nữa, nếu hôm nay đầu của Ê-li-sa, con Sa-phát, còn nằm trên cổ của hắn!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ê-li-sa báo tin cơn thử thách sắp chấm dứt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Ê-li-sa đang ngồi trong nhà và có những kỳ mục ngồi với ông, thì vua sai người đến với ông. Nhưng trước khi sứ giả đến nơi, ông Ê-li-sa nói với các kỳ mục: &#8220;Các ông thấy không: Kẻ sát nhân ấy sai người đến lấy đầu tôi! Vậy thế này: Khi nào sứ giả đến, thì đóng cửa lại, lấy cửa đẩy nó ra. Nhưng tiếng chân chủ nó chẳng đang theo sau nó đấy ư?&#8221; <sup>33</sup> Ông còn đang nói, thì vua đã xuống gặp ông và bảo: &#8220;Tai hoạ này do Ðức Chúa giáng xuống, thế thì tôi còn biết trông đợi gì nữa nơi Ðức Chúa?&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Hãy nghe lời của Ðức Chúa: Ðức Chúa phán thế này: Ngày mai, cũng vào giờ này, tại cửa thành Sa-ma-ri, cứ ba chỉ bạc sẽ mua được một thúng tinh bột lúa miến; cứ ba chỉ bạc sẽ mua được hai thúng lúa mạch!&#8221; <sup>2</sup> Viên giám mã đỡ tay vua đáp lời người của Thiên Chúa: &#8220;Cho dù Ðức Chúa có mở cống trên trời, điều đó liệu có xảy ra không?&#8221; Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Chính ông sẽ thấy tận mắt, nhưng sẽ không được ăn!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trại quân A-ram bỏ trống</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Có bốn người phung hủi đang ở lối vào cửa thành. Họ nói với nhau: &#8220;Sao chúng ta cứ ở lại đây mà chờ chết? <sup>4</sup> Nếu chúng ta quyết định vào thành, thì chúng ta sẽ chết trong thành, vì ở đó đang có nạn đói; nếu chúng ta ở lại đây, thì chúng ta cũng sẽ chết. Vậy bây giờ, đến đây, chúng ta cùng trốn sang trại quân A-ram. Nếu chúng để chúng ta sống, thì chúng ta sẽ sống; mà nếu chúng giết chúng ta, thì chúng ta sẽ chết.&#8221; <sup>5</sup> Lúc chập tối, những người phung hủi lên đường đi đến trại quân A-ram. Nhưng khi tới đầu trại quân A-ram, thì họ chẳng thấy có ai! <sup>6</sup> Vì Ðức Chúa đã cho tiếng xe, tiếng ngựa, tiếng một đạo binh lớn vang lên trong trại quân A-ram. Chúng bảo nhau: &#8220;Này vua Ít-ra-en đã thuê các vua Khết và các vua Ai-cập vào đánh chúng ta.&#8221; <sup>7</sup> Vậy chúng đã lên đường, chạy trốn lúc chập tối, bỏ lại lều, ngựa, lừa; tóm lại, chúng để cả trại y nguyên mà chạy thục mạng. <sup>8</sup> Khi tới đầu trại, những người phung hủi kia vào một lều; họ ăn uống, rồi mang bạc, vàng và quần áo đi giấu. Họ trở lại, vào một lều khác, rồi mang đồ vật trong đó đi giấu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hết cuộc bao vây và hết nạn đói</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Bấy giờ, họ nói với nhau: &#8220;Chúng ta làm thế thì không phải. Hôm nay là ngày mang lại tin vui. Nếu chúng ta làm thinh và chần chừ mãi cho tới khi trời sáng, thì chúng ta sẽ mắc tội. Bây giờ, đến đây, chúng ta cùng đi báo tin cho đền vua.&#8221; <sup>10</sup> Họ vào gọi những người canh cửa thành và báo tin: &#8220;Chúng tôi đã vào trại quân A-ram. Chúng tôi chẳng thấy có ai, cũng không nghe tiếng người; chỉ có ngựa còn cột đó, lừa còn cột đó; các lều còn y nguyên.&#8221; <sup>11</sup> Những người canh cửa thành hô lên và báo tin cho đền vua ở bên trong.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ðang đêm, vua trỗi dậy, nói với các thuộc hạ: &#8220;Ðể ta giải thích cho các ngươi nghe những gì quân A-ram làm để hại chúng ta. Chúng biết chúng ta đang bị đói, nên đã ra khỏi trại để nấp ở ngoài đồng, nghĩ bụng rằng: &#8220;Họ sẽ ra khỏi thành; chúng ta sẽ bắt sống họ, rồi vào thành&#8221;.&#8221; <sup>13</sup> Một người trong các thuộc hạ vua trả lời: &#8220;Xin để người ta lấy năm con ngựa trong số những con sống sót còn lại đây, &#8211; nếu không, những con ấy cũng sẽ cùng chung số phận với toàn đám dân Ít-ra-en sống sót trong thành đang chờ chết -; chúng ta cứ gửi đi xem sao.&#8221; <sup>14</sup> Người ta lấy hai cỗ xe, rồi vua sai người đuổi theo quân A-ram, và nói: &#8220;Hãy đi, xem thế nào!&#8221; <sup>15</sup> Họ đã đuổi theo chúng cho đến sông Gio-đan. Trên tất cả quãng đường ấy đều la liệt quần áo và vật dụng quân A-ram đã liệng xuống trong lúc vội vã. Các sứ giả trở về trình lại các sự việc cho vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Dân đi ra hôi của trong trại quân A-ram. Quả thật, theo như lời của Ðức Chúa, cứ ba chỉ bạc sẽ mua được một thúng tinh bột lúa miến; cứ ba chỉ bạc sẽ mua được hai thúng lúa mạch. <sup>17</sup> Vua đã đặt một viên giám mã canh cửa thành, người đó là người đã đỡ tay vua. Dân chúng giẫm lên người đó ở cửa thành, làm cho người đó chết, đúng y như lời người của Thiên Chúa đã nói khi vua xuống gặp ông. <sup>18</sup> Quả thật, khi người của Thiên Chúa nói với vua: &#8220;Ngày mai, cũng vào giờ này, tại cửa thành Sa-ma-ri, ba chỉ bạc sẽ mua được hai thúng lúa mạch, ba chỉ bạc sẽ mua được một thúng tinh bột lúa miến&#8221;, <sup>19</sup> thì viên giám mã trả lời cho người của Thiên Chúa: &#8220;Cho dù Ðức Chúa có mở cống trên trời, điều đó liệu có xảy ra không?&#8221; Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Ông sẽ thấy tận mắt, nhưng ông sẽ không được ăn!&#8221; <sup>20</sup> Ðiều đó đã xảy ra cho viên giám mã: dân chúng giẫm lên ông ở cửa thành, làm ông chết.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết thúc truyện người phụ nữ Su-nêm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ê-li-sa nói với người phụ nữ có đứa con trai ông đã làm cho sống lại: &#8220;Bà hãy trỗi dậy, lên đường, đem theo gia đình của bà. Hãy ra nước ngoài, ở tạm nơi nào ở được, vì Ðức Chúa đã khiến nạn đói xảy ra, hơn nữa nạn đói còn xảy ra trong xứ suốt bảy năm.&#8221; <sup>2</sup> Người phụ nữ trỗi dậy và làm theo lời người của Thiên Chúa dạy. Bà và gia đình bà đã đi và ở tạm bên xứ người Phi-li-tinh bảy năm. <sup>3</sup> Sau bảy năm, người phụ nữ bỏ xứ người Phi-li-tinh trở về. Bà đi cầu cứu với vua về chuyện nhà cửa ruộng đất của bà.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua nói với Giê-kha-di, tiểu đồng của ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa: &#8220;Hãy kể cho ta nghe tất cả những chuyện lớn lao ông Ê-li-sa đã làm.&#8221; <sup>5</sup> Giê-kha-di đang kể cho vua nghe chuyện ông Ê-li-sa đã làm cho người chết sống lại thế nào, thì người phụ nữ có đứa con trai ông đã làm sống lại, đến cầu cứu với vua về chuyện nhà cửa ruộng đất của bà. Giê-kha-di liền trình vua: &#8220;Thưa đức vua, chúa thượng của con, đây là người phụ nữ, và đây là người con trai mà ông Ê-li-sa đã làm cho sống lại.&#8221; <sup>6</sup> Vua hỏi người phụ nữ, và bà kể hết cho vua nghe. Vua chỉ định một viên thái giám lo việc cho bà và nói: &#8220;Ngươi giúp bà này lấy lại tất cả tài sản của bà, cũng như mọi lợi tức ruộng đất, kể từ ngày bà rời xứ cho đến nay.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ê-li-sa và ông Kha-da-ên thành Ða-mát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ông Ê-li-sa vào Ða-mát. Vua A-ram là Ben Ha-đát đang bị bệnh. Người ta báo tin cho vua: &#8220;Người của Thiên Chúa đã đến tận đây.&#8221; <sup>8</sup> Vua nói với ông Kha-da-ên: &#8220;Ngươi hãy mang quà và đi gặp người của Thiên Chúa. Ngươi sẽ nhờ ông thỉnh ý Ðức Chúa và thưa Người: &#8220;Con có được khỏi bệnh này không?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Kha-da-ên đi gặp ông Ê-li-sa, đem theo tất cả những gì tốt nhất ở Ða-mát làm quà, chất trên lưng bốn mươi con lạc đà. Khi tới nơi, ông Kha-da-ên đứng trước ông Ê-li-sa và nói: &#8220;Con của ngài là Ben Ha-đát, vua A-ram, đã sai tôi đến thưa ngài: &#8220;Tôi có được khỏi bệnh này không?&#8221; <sup>10</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Ông đi nói với vua: &#8220;Chắc chắn ngài sẽ sống! Nhưng Ðức Chúa đã cho tôi thấy chắc chắn vua sẽ chết.&#8221; <sup>11</sup> Người của Thiên Chúa nghiêm nét mặt, nhìn chằm chằm khiến ông Kha-da-ên phát ngượng. Ông Ê-li-sa khóc. <sup>12</sup> Ông Kha-da-ên mới hỏi: &#8220;Tại sao ngài lại khóc?&#8221; Ông đáp: &#8220;Vì tôi biết tai hoạ ông sẽ gây cho con cái Ít-ra-en. Ông sẽ phóng hoả đốt các thành trì, sẽ dùng gươm chém giết các trai tráng, ném trẻ con xuống đất cho chết và mổ bụng đàn bà có thai.&#8221; <sup>13</sup> Ông Kha-da-ên nói: &#8220;Tôi tớ ngài, con chó này, là chi mà làm được điều quá thể như vậy?&#8221; Ông Ê-li-sa đáp: &#8220;Ðức Chúa đã cho tôi thấy ông làm vua A-ram.&#8221; <sup>14</sup> Ông Kha-da-ên từ giã ông Ê-li-sa và lại về với chủ mình, vua hỏi: &#8220;Ông Ê-li-sa đã nói gì với ngươi?&#8221; Ông Kha-da-ên đáp: &#8220;Ông ấy nói với tôi là chắc chắn ngài sẽ sống.&#8221; <sup>15</sup> Hôm sau, ông Kha-da-ên đã lấy chăn, nhúng nước, rồi phủ lên mặt vua. Vua đã chết, và ông Kha-da-ên lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giô-ram cai trị Giu-đa</strong> (848-841) (2 Sb 21: 1-20)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Năm thứ năm triều Giô-ram, con vua A-kháp làm vua Ít-ra-en, ông Giơ-hô-ram, con vua Giơ-hô-sa-phát lên làm vua Giu-đa. <sup>17</sup> Ông lên ngôi vua khi được ba mươi hai tuổi, và trị vì ở Giê-ru-sa-lem tám năm. <sup>18</sup> Vua đi theo đường lối các vua Ít-ra-en, hành động như nhà A-kháp, vì vua đã lấy một người con gái của vua A-kháp làm vợ. Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. <sup>19</sup> Nhưng vì vua Ða-vít, tôi trung của người, Ðức Chúa không muốn huỷ diệt Giu-đa, theo lời Người đã phán với vua, là sẽ ban cho vua và con cháu vua một ngọn đèn luôn cháy sáng mọi ngày.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Dưới thời của vua, Ê-đôm thoát ách thống trị của Giu-đa và đặt một vua lên cai trị mình. <sup>21</sup> Vua Giô-ram sang Xa-ia cùng với toàn bộ chiến xa. Ban đêm, vua trỗi dậy, đánh quân Ê-đôm đang bao vây vua và những người chỉ huy chiến xa. Dân chạy trốn về lều của họ. <sup>22</sup> Như thế, Ê-đôm đã thoát ách thống trị của Giu-đa cho đến ngày nay. Rồi Líp-na cũng đã thoát ách thống trị vào lúc ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Những truyện còn lại của vua Giô-ram và mọi việc vua làm đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>24</sup> Vua Giô-ram đã an nghỉ với tổ tiên và được chôn cất với các ngài trong Thành Ða-vít. Ông A-khát-gia-hu, con của vua, lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-khát-gia-hu cai trị Giu-đa</strong> (841) (2 Sb 22: 1-6)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Năm thứ mười hai triều Giô-ram, con vua A-kháp, làm vua Ít-ra-en, ông A-khát-gia-hu, con vua Giơ-hô-ram, lên làm vua Giu-đa. <sup>26</sup> A-khát-gia-hu lên ngôi vua khi được hai mươi hai tuổi, và trị vì ở Giê-ru-sa-lem được một năm. Thân mẫu vua là bà A-than-gia-hu, ái nữ của Om-ri, vua Ít-ra-en. <sup>27</sup> Vua đi theo đường lối nhà A-kháp, đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa như nhà A-kháp, vì có họ hàng với nhà A-kháp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Cùng với vua Giô-ram, con vua A-kháp, vua đi đánh vua A-ram là Kha-da-ên, ở Ra-mốt Ga-la-át. Nhưng quân A-ram đã đánh vua Giô-ram bị thương. <sup>29</sup> Vua Giô-ram đã quay về Gít-rơ-en để chữa trị, vì các thương tích quân A-ram đã gây cho vua ở Ra-ma, trong lúc giao chiến với vua A-ram là Kha-da-ên. Vua Giu-đa là A-khát-gia-hu, con vua Giơ-hô-ram, đã xuống Gít-rơ-en thăm vua Giô-ram, con vua A-kháp, vì vua này đang bị bệnh.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">5. Truyện Vua Giê-Hu</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xức dầu phong vương cho ông Giê-hu</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ngôn sứ Ê-li-sa gọi một người trong nhóm anh em ngôn sứ và bảo: &#8220;Hãy thắt lưng và cầm theo lọ dầu này, mà đi tới Ra-mốt Ga-la-át. <sup>2</sup> Khi đến nơi, anh hãy tìm cách nhận mặt ông Giê-hu, con ông Giơ-hô-sa-phát, cháu ông Nim-si. Anh đến và mời ông ấy đứng lên, ra khỏi chỗ các anh em đồng đội, rồi dẫn vào một phòng kín đáo. <sup>3</sup> Sau đó, anh lấy lọ dầu mà đổ trên đầu ông và nói: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ta xức dầu phong ngươi làm vua Ít-ra-en. Rồi anh mở cửa, trốn ngay đi, đừng chậm trễ.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Người thanh niên, một ngôn sứ trẻ, trẩy đi Ra-mốt Ga-la-át. <sup>5</sup> Khi anh đến nơi, thì các tướng lãnh quân đội đang ngồi với nhau. Người thanh niên nói: &#8220;Thưa tướng quân, tôi có điều phải nói với ngài.&#8221; Ông Giê-hu hỏi: &#8220;Với ai trong chúng tôi?&#8221; Anh trả lời: &#8220;Thưa, với tướng quân.&#8221; <sup>6</sup> Khi đó, ông Giê-hu đứng lên, đi vào trong nhà. Người thanh niên đổ dầu lên đầu ông và nói: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: &#8220;Ta xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Ít-ra-en là dân của Ðức Chúa. <sup>7</sup> Ngươi sẽ đánh phạt nhà A-kháp, chủ ngươi, để ta đòi I-de-ven đền nợ máu các tôi tớ Ta là các ngôn sứ và mọi tôi tớ của Ðức Chúa. <sup>8</sup> Toàn thể nhà A-kháp sẽ bị diệt vong. Ta sẽ diệt trừ mọi đàn ông con trai của nhà A-kháp, nô lệ cũng như tự do ở Ít-ra-en. <sup>9</sup> Ta sẽ xử với nhà A-kháp như với nhà Gia-róp-am, con Nơ-vát, như với nhà Ba-sa, con A-khi-gia. <sup>10</sup> Còn I-de-ven, thì chó sẽ ăn thịt nó ngoài đồng Gít-rơ-en, mà không có người chôn cất.&#8221; Sau đó, người thanh niên mở cửa, chạy trốn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giê-hu được tôn làm vua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Giê-hu ra gặp các thuộc hạ của chủ mình. Họ hỏi ông: &#8220;Bình an chứ? Tại sao tên khùng ấy lại đến gặp ông?&#8221; Ông Giê-hu đáp: &#8220;Các ông biết con người ấy và bài ca lải nhải của y mà!&#8221; <sup>12</sup> Nhưng họ bảo: &#8220;Ông nói dối! Kể lại cho chúng tôi đi!&#8221; Ông nói: &#8220;Y nói với tôi thế này thế này; y bảo Ðức Chúa phán rằng: Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua Ít-ra-en.&#8221; <sup>13</sup> Họ vội vàng lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp, dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên: &#8220;Giê-hu làm vua!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giê-hu chuẩn bị tiếm quyền</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Giê-hu, con ông Giơ-hô-sa-phát, cháu ông Nim-si, âm mưu chống lại vua Giô-ram. Lúc đó, vua Giô-ram và toàn thể Ít-ra-en đang bảo vệ Ra-mốt Ga-la-át chống lại vua A-ram là Kha-da-ên. <sup>15</sup> Nhưng vua Giơ-hô-ram đã về điều trị ở Gít-rơ-en, vì các thương tích quân A-ram đã gây cho vua, trong lúc vua giao chiến với vua A-ram là Kha-da-ên. Ông Giê-hu nói: &#8220;Nếu thực sự các ông đồng lòng với tôi, thì đừng ai thoát khỏi thành mà đi báo tin cho Gít-rơ-en.&#8221; <sup>16</sup> Ông Giê-hu lên xe đi Gít-rơ-en, vì vua Giô-ram đang liệt giường ở đó; vua Giu-đa là A-khát-gia đã xuống thăm vua Giô-ram.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Người lính canh đứng trên tháp Gít-rơ-en nhìn thấy đoàn quân của ông Giê-hu đang đến, thì nói: &#8220;Tôi nhìn thấy một đoàn quân.&#8221; Vua Giơ-hô-ram bảo: &#8220;Hãy chọn một kỵ binh, sai đi gặp họ và hỏi: Bình an chứ?&#8221; <sup>18</sup> Người kỵ binh đi gặp ông Giê-hu và nói: &#8220;Vua phán thế này: Bình an chứ?&#8221; Ông Giê-hu trả lời: &#8220;Bình an hay không, việc gì đến ngươi! Lui ra đằng sau ta!&#8221; Người lính canh lại báo tin: &#8220;Sứ giả đã tới chỗ họ, nhưng không trở về.&#8221; <sup>19</sup> Vua lại sai người kỵ binh thứ hai, người ấy đến với họ và nói: &#8220;Vua phán thế này: Bình an chứ?&#8221; Ông Giê-hu đáp: &#8220;Bình an hay không, việc gì đến ngươi! Lui ra đằng sau ta!&#8221; <sup>20</sup> Người lính canh lại báo tin: &#8220;Sứ giả đã tới chỗ họ, nhưng không trở về. Kiểu đánh xe thì giống như kiểu của ông Giê-hu, con ông Nim-si: Ông ấy đánh xe như điên!&#8221; <sup>21</sup> Vua Giơ-hô-ram bảo: &#8220;Thắng xe đi!&#8221; Và người ta thắng xe. Vua Ít-ra-en là Giơ-hô-ram và vua Giu-đa là A-khát-gia-hu đi ra, mỗi người ngồi trên xe mình. Hai vua đi ra gặp ông Giê-hu và thấy ông ở thửa đất ông Na-vốt, người Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giơ-hô-ram bị sát hại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Vậy vua Giơ-hô-ram vừa thấy ông Giê-hu, thì nói: &#8220;Ông Giê-hu, bình an chứ?&#8221; Ông Giê-hu trả lời: &#8220;Bình an thế nào được, bao lâu I-de-ven, mẹ ông, còn dở những trò dâm đãng và làm bao nhiêu chuyện phù phép như thế!&#8221; <sup>23</sup> Vua Giơ-hô-ram liền cho quay xe lại và chạy trốn. Vua nói với vua A-khát-gia-hu: &#8220;Phản loạn, ông A-khát-gia ơi!&#8221; <sup>24</sup> Nhưng ông Giê-hu, đang cầm sẵn cung trong tay, bắn trúng khoảng giữa hai vai vua Giơ-hô-ram; mũi tên xuyên qua tim vua Giơ-hô-ram mà đi ra, khiến vua gục ngã trong xe. <sup>25</sup> Ông Giê-hu bảo viên sĩ quan Bít-ca: &#8220;Lôi nó ra, ném vào thửa đất ông Na-vốt, người Gít-rơ-en. Anh còn nhớ chứ: Khi tôi và anh cưỡi ngựa song song tháp tùng cha nó là A-kháp, Ðức Chúa đã tuyên sấm về nó như thế này: <sup>26</sup> Hôm qua, Ta đã chẳng thấy máu của Na-vốt, và của con cái Na-vốt sao? &#8211; Sấm ngôn của Ðức Chúa. Ta sẽ bắt ngươi phải trả nợ máu như thế, ngay tại thửa đất ấy- Sấm ngôn của Ðức Chúa! Vậy bây giờ, lôi nó ra, ném vào thửa đất ấy, theo lời Ðức Chúa!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-khát-gia bị sát hại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Thấy thế, vua Giu-đa là A-khát-gia chạy trốn theo đường Bết Ha Gan. Ông Giê-hu đuổi theo và nói: &#8220;Giết cả nó nữa!&#8221; Và người ta đã đánh vua bị thương ngay trên xe, ở dốc Gua gần Gíp-lơ-am. Vua chạy trốn vào Mơ-ghít-đô và chết ở đó. <sup>28</sup> Các thuộc hạ của vua đưa vua lên xe chở về Giê-ru-sa-lem, và chôn cất vua trong mồ bên cạnh tổ tiên vua trong Thành vua Ða-vít. <sup>29</sup> Vua A-khát-gia đã lên ngôi cai trị Giu-đa vào năm thứ mười một triều vua Giô-ram, con vua A-kháp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bà I-de-ven bị sát hại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ông Giê-hu vào Gít-rơ-en. Nghe tin đó, bà I-de-ven đánh phấn tô mắt và trang điểm mái tóc, rồi từ cửa sổ nhìn xuống. <sup>31</sup> Khi ông Giê-hu đi vào cửa thành, bà nói: &#8220;Bình an chứ, Dim-ri, tên giết chủ?&#8221; <sup>32</sup> Ông Giê-hu ngẩng mặt lên phía cửa sổ và nói: &#8220;Có ai theo ta không, có ai không?&#8221; Có hai hoặc ba viên thái giám nhìn xuống phía ông. <sup>33</sup> Ông nói: &#8220;Quẳng nó xuống!&#8221; Họ quẳng bà xuống; máu của bà bắn vào tường và vào các con ngựa. Ông đạp chân lên bà,34 rồi đi vào mà ăn uống. Sau đó, ông nói: &#8220;Các anh lo vụ con khốn kiếp ấy đi và chôn cất nó, vì nó là công chúa.&#8221; <sup>35</sup> Họ đi chôn bà, nhưng chỉ tìm thấy cái sọ, hai chân và hai bàn tay của bà. <sup>36</sup> Họ về báo tin cho ông Giê-hu. Ông nói: &#8220;Ðây là lời Ðức Chúa đã dùng tôi trung Người là ông Ê-li-a, người Tít-be, mà phán: &#8220;Trong thửa đất Gít-rơ-en, chó sẽ ăn thịt I-de-ven. <sup>37</sup> Xác I-de-ven sẽ ra như phân trên mặt đồng ruộng, trong thửa đất Gít-rơ-en, khiến người ta không thể nói được: Ðó là I-de-ven!&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hoàng tộc Ít-ra en bị sát hại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua A-kháp có bảy mươi người con ở Sa-ma-ri. Ông Giê-hu viết thư gửi đến Sa-ma-ri cho các thủ lãnh của Gít-rơ-en, các kỳ mục và các tổng trấn của vua A-kháp. Thư viết: <sup>2</sup> &#8220;Vì các ông có các hoàng tử của chủ các ông ủng hộ, vì các ông có nào xe, nào ngựa, nào thành trì kiên cố, nào khí giới, cho nên khi thư này đến tay các ông, <sup>3</sup> các ông hãy xem ai là người ưu tú và xứng đáng nhất trong số các hoàng tử của chủ các ông, thì đặt người đó lên ngôi kế vị vua cha. Các ông hãy đến chiến đấu cho nhà của chủ các ông.&#8221; <sup>4</sup> Họ hết sức kinh hãi, họ nói với nhau: &#8220;Hai vua còn không đứng vững trước mặt ông ấy, thì làm sao chúng ta đứng vững được?&#8221; <sup>5</sup> Quan đại nội thị thần, ông thị trưởng, các kỳ mục và tổng trấn liền sai người đến nói với ông Giê-hu: &#8220;Chúng tôi là thuộc hạ của ông. Tất cả những gì ông nói với chúng tôi, chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi sẽ không tôn ai lên làm vua cả. Ông cứ làm những gì ông thấy nên làm.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Giê-hu viết cho họ bức thư thứ hai, trong đó ông nói: &#8220;Nếu các ông ủng hộ tôi và nghe lời tôi kêu gọi, thì hãy lấy đầu các người con của chủ các ông, rồi đến gặp tôi ngày mai vào giờ này, ở Gít-rơ-en.&#8221; Bảy mươi người con của vua đang ở tại nhà các quan lớn trong thành. Các quan lớn này có nhiệm vụ dưỡng dục họ. <sup>7</sup> Vậy, thư ấy vừa đến nơi, các quan lớn liền bắt bảy mươi người con của vua, cắt cổ, rồi bỏ đầu vào giỏ mà gửi cho ông Giê-hu ở Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Sứ giả đến báo tin cho ông: &#8220;Họ đã mang đầu các con vua tới rồi.&#8221; Ông bảo: &#8220;Hãy chất làm hai đống nơi cửa thành cho đến sáng.&#8221; <sup>9</sup> Sáng hôm sau, ông ra ngoài, đứng nói với toàn dân: &#8220;Các ngươi đều vô can! Chính tôi đã âm mưu hại chủ của tôi và đã giết ông ấy! Nhưng ai đã hạ sát tất cả những người này? <sup>10</sup> Vậy các người hãy biết rằng không có lời nào của Ðức Chúa, không có lời nào của Ðức Chúa chống lại nhà A-kháp mà lại ra vô hiệu: Ðức Chúa thực hiện những gì Người đã dùng ông Ê-li-a, tôi trung của Người, mà phán.&#8221; <sup>11</sup> Ông Giê-hu hạ sát tất cả những người còn sót lại của nhà A-kháp ở Gít-rơ-en, mọi quan lớn, những người quen biết và tư tế của vua; không để một mạng nào sống sót.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ông hoàng Giu-đa bị hạ sát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Rồi ông Giê-hu lên đường đi Sa-ma-ri. Trên đường đi, lúc ở Bết E-két Ha-rô-im, <sup>13</sup> ông gặp các anh em của ông A-khát-gia-hu, vua Giu-đa, thì hỏi: &#8220;Các ông là ai?&#8221; Họ đáp: &#8220;Chúng tôi là anh em của vua A-khát-gia-hu. Chúng tôi xuống hỏi thăm các hoàng tử và các con bà hoàng thái hậu.&#8221; <sup>14</sup> Ông nói: &#8220;Bắt sống lấy chúng!&#8221; Người ta bắt sống họ và cắt cổ ở bể nước Bết E-két, tất cả là bốn mươi hai người, không sót một ai.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giê-hu và ông Giơ-hô-na-đáp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông rời đó mà đi và gặp ông Giơ-hô-na-đáp, con ông Rê-kháp, ra đón ông. Ông chào và nói: &#8220;Ông có thực lòng với tôi như tôi thực lòng với ông không?&#8221; Ông Giơ-hô-na-đáp nói: &#8220;Có&#8221; Ông Giê-hu nói: &#8220;Nếu có, thì hãy bắt tay tôi.&#8221; Ông Giơ-hô-na-đáp liền bắt tay ông Giê-hu. Ông này đưa ông lên xe, cho ngồi bên cạnh. <sup>16</sup> Ông Giê-hu nói: &#8220;Hãy đi với tôi và chứng kiến lòng nhiệt thành của tôi đối với Ðức Chúa!&#8221; Rồi ông đưa ông ấy lên xe. <sup>17</sup> Vào Sa-ma-ri, ông hạ sát tất cả những người còn lại của nhà A-kháp ở Sa-ma-ri, ông tiêu diệt hết, như lời Ðức Chúa đã phán với ông Ê-li-a.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sát hại các tín đồ thần Ba-an và phá huỷ đền thờ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Giê-hu tập họp toàn dân lại và nói với họ: &#8220;A-kháp phụng sự thần Ba-an còn ít, chứ Giê-hu đây sẽ phụng sự người nhiều. <sup>19</sup> Vậy bây giờ, hãy triệu tập lại đây cho tôi tất cả các ngôn sứ của thần Ba-an, mọi tín đồ và tư tế của thần, đừng có ai vắng mặt, vì tôi sẽ dâng một hy lễ lớn kính thần Ba-an. Ai vắng mặt, sẽ không được sống.&#8221; Ông Giê-hu lập mưu diệt trừ những kẻ phụng sự thần Ba-an. <sup>20</sup> Ông Giê-hu nói: &#8220;Hãy triệu tập một buổi họp long trọng kính thần Ba-an.&#8221; Và người ta đã triệu tập buổi họp đó. <sup>21</sup> Ông Giê-hu sai người đi khắp Ít-ra-en. Mọi tín đồ thần Ba-an đều đến, chẳng còn ai mà lại không đến. Họ vào đền Ba-an. Ðền này chỗ nào cũng chật ních người. <sup>22</sup> Ông Giê-hu bảo người phụ trách phòng lễ phục: &#8220;Ðem lễ phục ra, phát cho mọi người phụng sự thần Ba-an.&#8221; Người ấy đem lễ phục ra cho họ. <sup>23</sup> Ông Giê-hu cùng với ông Giơ-hô-na-đáp, con ông Rê-kháp, vào đền Ba-an, ông nói với những người phụng sự thần Ba-an: &#8220;Hãy lục soát xem: đừng để những người phụng sự Ðức Chúa có mặt ở đây với các người; chỉ để những người phụng sự Ba-an mà thôi.&#8221; <sup>24</sup> Rồi người ta vào dâng hy lễ và lễ toàn thiêu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nhưng ông Giê-hu đã đặt tám mươi người bên ngoài và nói: &#8220;Ai để cho một người nào trong các kẻ ta sắp nộp vào tay các người thoát được, thì phải lấy mạng thế mạng.&#8221; <sup>25</sup> Vậy, khi lễ toàn thiêu đã hoàn tất, ông Giê-hu bảo các thị vệ và sĩ quan: &#8220;Vào giết chúng đi! Ðừng để cho ai ra ngoài!&#8221; Các thị vệ và sĩ quan dùng lưỡi gươm mà giết chúng, quăng xác đi. Rồi họ vào tận cung thánh của đền Ba-an; <sup>26</sup> họ lôi trụ thờ của đền Ba-an ra mà đốt đi. <sup>27</sup> Họ phá huỷ trụ đá kính thần Ba-an, phá huỷ đền Ba-an, biến thành nhà tiêu cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giê-hu làm vua Ít-ra-en</strong> (841-814)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Như thế, vua Giê-hu làm cho thần Ba-an biến khỏi Ít-ra-en. <sup>29</sup> Tuy nhiên, vua Giê-hu không dứt bỏ các tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo: đó là thờ những con bê bằng vàng ở Bết Ên và ở Ðan. <sup>30</sup> Ðức Chúa phán với vua Giê-hu: &#8220;Vì ngươi đã làm đúng những điều Ta coi là ngay thẳng, và ngươi đã xử với nhà A-kháp y như lòng Ta muốn, thì con cháu ngươi sẽ ngự trên ngai cai trị Ít-ra-en cho đến đời thứ bốn.&#8221; <sup>31</sup> Nhưng vua Giê-hu đã không hết lòng hết dạ chú tâm đi theo lề luật Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en: vua đã không dứt bỏ các tội mà vua Gia-róp-am đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Trong những ngày ấy, Ðức Chúa bắt đầu cắt xén lãnh thổ Ít-ra-en. Ông Kha-da-ên đánh bại họ trên toàn lãnh thổ Ít-ra-en, <sup>33</sup> từ sông Gio-đan đến phía mặt trời mọc, toàn miền Ga-la-át, những vùng thuộc các chi tộc Gát, Rưu-vên và Mơ-na-se, từ A-rô-e trên bờ suối Ác-nôn, miền Ga-la-át và Ba-san.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Những truyện còn lại của vua Giê-hu, mọi việc vua làm, cũng như mọi chiến công của vua, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>35</sup> Vua Giê-hu nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất ở Sa-ma-ri. Con vua là Giơ-hô-a-khát đã lên ngôi kế vị vua cha. <sup>36</sup> Thời gian vua Giê-hu cai trị Ít-ra-en ở Sa-ma-ri là hai mươi tám năm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">6. Từ Triều A-Than-Gia Ðến Khi Ông Ê-Li-Sa Qua Ðời</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Truyện bà A-than-gia</strong> (841-835) (2 Sb 22:10-23:21)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bà A-than-gia, thân mẫu vua A-khát-gia-hu, thấy con mình đã chết, thì đứng lên tiêu diệt tất cả hoàng tộc. <sup>2</sup> Nhưng bà Giơ-hô-se-va, ái nữ vua Giô-ram và là chị của vua A-khát-gia-hu, đã ẵm Giô-át, con vua A-khát-gia-hu, lén đưa cậu ra khỏi số các hoàng tử sẽ bị sát hại, giấu trong phòng ngủ cùng với người vú nuôi. Như thế, người ta đã giấu được cậu bé khuất mắt bà A-than-gia, và cậu không bị giết. <sup>3</sup> Cậu Giô-át ở lại với bà Giơ-hô-se-va trong Nhà Ðức Chúa, lẩn trốn ở đó sáu năm, suốt thời bà A-than-gia cai trị xứ sở.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Năm thứ bảy, ông Giơ-hô-gia-đa sai người đi mời các vị chỉ huy một trăm quân thuộc đạo binh Ca-ri và thuộc đoàn thị vệ. Ông cho họ vào trong Nhà Ðức Chúa với ông. Ông kết ước với họ, bắt họ tuyên thệ trong Nhà Ðức Chúa, và cho họ được thấy hoàng tử. <sup>5</sup> Ông truyền lệnh cho họ như sau: &#8220;Ðây là điều các ông phải làm: Một phần ba các ông, những người đang phiên trực ngày sa-bát, sẽ canh giữ đền vua, <sup>6</sup> một phần ba sẽ đứng ở cửa Xua, và một phần ba ở cửa phía sau đoàn thị vệ. Các ông sẽ luân phiên nhau canh giữ đền vua. <sup>7</sup> Hai đội khác của các ông, những người hết phiên trực ngày sa-bát, sẽ canh giữ Nhà Ðức Chúa. <sup>8</sup> Các ông sẽ đứng chung quanh vua, ai nấy đều cầm khí giới trong tay. Kẻ nào xâm phạm hàng ngũ các ông, thì sẽ bị xử tử. Khi vua đi ra đi vào, các ông luôn phải ở bên cạnh vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Các vị chỉ huy một trăm quân làm đúng mọi điều tư tế Giơ-hô-gia-đa đã truyền. Mỗi vị chỉ huy đem theo người của họ, những người đang phiên trực ngày sa-bát, cùng với những người hết phiên trực ngày sa-bát. Họ đến với tư tế Giơ-hô-gia-đa. <sup>10</sup> Tư tế trao cho các vị chỉ huy trăm quân, giáo và thuẫn của vua Ða-vít để trong Nhà Ðức Chúa. <sup>11</sup> Các thị vệ ai nấy đều cầm khí giới trong tay, đứng dàn từ phía nam đến phía bắc Nhà Ðức Chúa, trước bàn thờ và trước Nhà Ðức Chúa cốt để bao quanh vua. <sup>12</sup> Ông Giơ-hô-gia-đa rước hoàng tử ra, đội vương miện và trao cuộn Chứng Ước. Người ta phong vương và xức dầu cho hoàng tử, rồi vỗ tay hô lên: &#8220;Vạn tuế đức vua!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Khi bà A-than-gia nghe tiếng dân chúng la, bà đi về phía họ đang ở trong Nhà Ðức Chúa. <sup>14</sup> Bà nhìn lên, thì kìa vua đứng trên bệ cao theo nghi lễ thường dùng, các vị chỉ huy và các người thổi kèn ở bên cạnh vua. Toàn dân trong xứ hân hoan reo hò giữa tiếng kèn trỗi vang. Bà A-than-gia liền xé áo mình ra và kêu lên: &#8220;Phản bội! Phản bội!&#8221; <sup>15</sup> Tư tế Giơ-hô-gia-đa truyền lệnh cho các vị chỉ huy một trăm quân đứng đầu toán binh, ông bảo họ: &#8220;Lôi nó ra khỏi hàng quân! Ai theo nó, thì lấy gươm chém chết!&#8221; Tư tế nói: &#8220;Nó không được chết trong Nhà Ðức Chúa!&#8221; <sup>16</sup> Họ liền túm lấy bà. Và khi bà đi qua lối Cửa Ngựa để tới đền vua; thì họ giết bà ở đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Giơ-hô-gia-đa lập giao ước giữa Ðức Chúa, vua và dân, nhờ đó dân trở thành dân của Ðức Chúa. Ông cũng lập giao ước giữa vua và dân. <sup>18</sup> Rồi toàn dân trong xứ kéo tới đền Ba-an mà phá huỷ các bàn thờ và tượng thần. Còn Mát-tan, tư tế của thần Ba-an, thì họ giết ngay trước các bàn thờ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Tư tế Giô-hô-gia-đa đặt những trạm canh để giữ Nhà Ðức Chúa. <sup>19</sup> Rồi ông đem theo các vị chỉ huy một trăm quân, quân Ca-ri, các thị vệ và toàn dân trong xứ. Họ rước vua từ Nhà Ðức Chúa xuống, sau đó đi qua Cửa Các Thị Vệ mà tới đền vua. Vua Giô-át ngự lên ngai vua. <sup>20</sup> Toàn dân trong xứ thì vui mừng, còn thành vẫn không động tĩnh. Về phần bà A-than-gia, họ đã lấy gươm giết chết trong đền vua.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giô-át cai trị Giu-đa</strong> (835-796) (2 Sb 24:1-16)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Giô-át lên làm vua khi được bảy tuổi. <sup>2</sup> Năm thứ bảy triều vua Giê-hu, vua Giô-át lên ngôi và đã trị vì ở Giê-ru-sa-lem bốn mươi năm. Thân mẫu vua là bà Xíp-gia, người Bơ-e Se-va. <sup>3</sup> Suốt cả đời, vua Giô-át đã làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, vì vua đã được tư tế Giơ-hô-gia-đa dạy dỗ. <sup>4</sup> Tuy nhiên, các tế đàn ở nơi cao không bị phá huỷ; dân chúng vẫn còn tế lễ và đốt hương trên các nơi cao đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vua Giô-át nói với các tư tế: &#8220;Tất cả số bạc nộp thuế cho Nhà Ðức Chúa, số bạc mỗi người phải dâng, và tất cả số bạc mỗi người tự ý dâng cho Nhà Ðức Chúa, <sup>6</sup> mỗi tư tế sẽ nhận từ những người mình quen biết, và các tư tế sẽ sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa, ở bất cứ nơi nào thấy hư hại.&#8221; <sup>7</sup> Ðến năm thứ hai mươi ba đời vua Giô-át, các tư tế vẫn không sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa. <sup>8</sup> Vua Giô-át mới triệu tập tư tế Giơ-hô-gia-đa và các tư tế khác, rồi nói với họ: &#8220;Sao các ông lại không sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa? Vậy từ nay, các ông đừng nhận bạc từ những người quen biết nữa, nhưng hãy trao lại để sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa.&#8221; <sup>9</sup> Các tư tế bằng lòng không nhận bạc của dân và khỏi phải lo sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Tư tế Giơ-hô-gia-đa lấy một cái hòm, khoét lỗ trên nắp và đặt hòm đó bên cạnh trụ đá, phía bên phải cửa vào Nhà Ðức Chúa. Các tư tế canh ngưỡng cửa bỏ vào hòm tất cả số bạc người ta dâng vào Nhà Ðức Chúa. <sup>11</sup> Khi nào các ông thấy có nhiều bạc trong hòm, thì viên thư ký của vua đi lên cùng với vị thượng tế. Người ta đúc thành thoi, rồi đếm số thoi bạc có trong Nhà Ðức Chúa. <sup>12</sup> Sau khi kiểm lại số bạc, người ta trao cho những người lo công việc sửa chữa, những người phụ trách Nhà Ðức Chúa. Những người này chi bạc cho các thợ mộc, các người thợ làm việc tại nhà Ðức Chúa, <sup>13</sup> cho các thợ nề và thợ đá; họ cũng chi bạc để mua gỗ và đá đẽo, để sửa chữa những chỗ hư hại trong Nhà Ðức Chúa; tóm lại, họ chi bạc cho mọi phí tổn liên quan đến việc sửa chữa Nhà Ðức Chúa. <sup>14</sup> Nhưng người ta không lấy bạc dâng vào Nhà Ðức Chúa để làm chậu bạc, dao, bình rảy, kèn, hay bất cứ đồ vật nào bằng vàng, bằng bạc dùng trong Nhà Ðức Chúa. <sup>15</sup> Người ta trao số bạc ấy cho những người lo công việc sửa chữa, và họ dùng để sửa chữa Nhà Ðức Chúa. <sup>16</sup> Những người nhận bạc cứ trả cho các người lo công việc sửa chữa, mà không ai đòi họ phải tính sổ, vì họ hành động liêm chính. <sup>17</sup> Còn số bạc người ta xin lễ đền tội và lễ tạ tội, thì không nộp vào Nhà Ðức Chúa: số bạc ấy thuộc về các tư tế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Bấy giờ, vua A-ram là Kha-da-ên tiến quân đánh thành Gát và chiếm được thành này. Sau đó, vua Kha-da-ên định tiến đánh Giê-ru-sa-lem. <sup>19</sup> Vua Giu-đa là Giô-át lấy mọi đồ vật thánh mà các vua Giu-đa tổ tiên mình là Giơ-hô-sa-phát, Giơ-hô-ram và A-khát-gia-hu, đã dâng cúng, cũng như các đồ vật mà chính vua đã dâng cúng, và tất cả vàng có trong kho Nhà Ðức Chúa và trong đền vua. Vua gửi tất cả những thứ đó cho vua A-ram là Kha-da-ên, và vua này rời khỏi Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Những truyện còn lại của vua Giô-át và tất cả những gì vua làm, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>21</sup> Các thuộc hạ của vua Giô-át đứng lên, âm mưu chống lại vua và hạ sát vua ở Bết Mi-lô, khi vua xuống Xi-la. <sup>22</sup> Các thuộc hạ của vua là Giô-da-vát, con bà Sim-át, và Giơ-hô-da-vát, con ông Sô-me, hạ sát vua, và vua đã chết. Người ta chôn cất vua bên cạnh tổ tiên vua trong Thành Ða-vít. Con vua là A-mát-gia lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giơ-hô-a-khát cai trị Ít-ra-en</strong> (814-798)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Năm thứ hai mươi ba triều vua Giô-át, con vua A-khát-gia-hu, vua Giu-đa, ông Giơ-hô-a-khát, con vua Giê-hu, lên làm vua ở Sa-ma-ri, trị vì Ít-ra-en được mười bảy năm. <sup>2</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, đã bắt chước vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, phạm thứ tội trước kia vua Gia-róp-am, đã lôi kéo Ít-ra-en phạm theo; và vua không dứt ra được.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ðức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en. Người nộp họ vào tay vua Kha-da-ên, vua A-ram, và vua Ben Ha-đát, con vua Kha-da-ên, trong suốt triều đại hai vua này. <sup>4</sup> Vua Giơ-hô-a-khát cố làm cho nét mặt Ðức Chúa dịu lại. Và Ðức Chúa nhận lời vua, vì Người đã thấy cảnh Ít-ra-en bị vua A-ram áp bức. <sup>5</sup> Ðức Chúa ban cho Ít-ra-en một vị cứu tinh giải thoát họ khỏi ách đô hộ của A-ram. Con cái Ít-ra-en lại được ở trong lều trại của họ như trước. <sup>6</sup> Nhưng họ không dứt bỏ các tội nhà Gia-róp-am đã lôi kéo họ phạm theo. Họ cứ đi theo đường tội lỗi đó. Ngay cả cột thờ vẫn còn đứng sừng sững ở Sa-ma-ri. <sup>7</sup> Ðức Chúa chỉ để lại cho vua Giơ-hô-a-khát năm mươi kỵ binh, mười xe trận, và mười ngàn bộ binh, bởi vì vua A-ram đã tiêu diệt quân Ít-ra-en và nghiền nát họ ra như tro bụi người ta chà đạp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Những truyện còn lại của vua Giơ-hô-a-khát và mọi việc vua làm, cũng như các chiến công của vua, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>9</sup> Vua Giơ-hô-a-khát đã nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất ở Sa-ma-ri. Con vua là Giô-át lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giô-át cai trị Ít-ra-en</strong> (798-783)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Năm thứ ba mươi bảy triều vua Giô-át, vua Giu-đa, con vua Giơ-hô-a-khát là Giô-át lên làm vua ở Sa-ma-ri, trị vì Ít-ra-en được mười sáu năm. <sup>11</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. Vua không dứt bỏ các tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo. Vua cứ đi theo đường tội lỗi đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Các truyện còn lại của vua Giô-át và tất cả mọi việc vua làm, cũng như chiến công của vua trong cuộc giao chiến với vua Giu-đa là A-mát-gia, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>13</sup> Vua Giô-át đã an nghỉ với tổ tiên, và vua Gia-róp-am lên ngôi. Vua Giô-át được chôn cất ở Sa-ma-ri bên cạnh các vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Ê-li-sa qua đời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Ê-li-sa lâm bệnh. Cơn bệnh sẽ làm cho ông chết. Vua Ít-ra-en là Giô-át xuống gặp ông, áp sát mặt vào mặt ông mà khóc. Vua nói: &#8220;Cha ơi! Cha ơi! Hỡi chiến xa và chiến mã của Ít-ra-en!&#8221; <sup>15</sup> Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Vua cầm lấy cung tên!&#8221; Vua liền cầm lấy cung tên. <sup>16</sup> Ông Ê-li-sa nói với vua Ít-ra-en: &#8220;Vua giương cung lên!&#8221; Vua liền giương cung. Ông Ê-li-sa đặt tay lên tay vua <sup>17</sup> và nói: &#8220;Vua mở cửa sổ về hướng đông&#8221;, và vua mở cửa sổ. Ông Ê-li-sa bảo: &#8220;Vua bắn đi!&#8221; và vua bắn. Ông Ê-li-sa lại bảo: &#8220;Mũi tên chiến thắng của Ðức Chúa! Mũi tên chiến thắng A-ram! Vua sẽ đánh A-ram ở A-phếch cho tới mức tận diệt chúng.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Ê-li-sa nói: &#8220;Vua cầm lấy tên&#8221;, Và vua đã cầm lấy tên. Ông Ê-li-sa lại bảo vua Ít-ra-en: &#8220;Vua đập xuống đất!&#8221;, và vua đã đập xuống ba lần, rồi ngưng. <sup>19</sup> Người của Thiên Chúa nổi giận với vua, ông nói: &#8220;Ðáng lẽ phải đập năm sáu lần, thì bấy giờ vua mới đánh A-ram cho tới mức tận diệt chúng. Nhưng bây giờ, vua chỉ đánh được A-ram ba lần thôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ông Ê-li-sa qua đời và người ta đã chôn cất ông. Hàng năm, các toán quân Mô-áp xâm nhập xứ sở. <sup>21</sup> Vậy, có lần người ta đang đem một người chết đi chôn, thì thấy một toán quân của bọn đó, họ liền vất người chết vào mộ ông Ê-li-sa, rồi bỏ đi. Người chết vừa đụng phải hài cốt của ông Ê-li-sa thì sống lại và đứng thẳng dậy.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giô-át chiến thắng quân A-ram</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Suốt triều vua Giơ-hô-a-khát, vua A-ram là Kha-da-ên đã áp bức người Ít-ra-en. <sup>23</sup> Nhưng Ðức Chúa tỏ lòng nhân từ và chạnh lòng thương đoái nhìn họ, vì Người đã lập giao ước với các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Người không muốn diệt trừ họ, và cho đến nay vẫn không xua đuổi họ cho khuất nhan Người. <sup>24</sup> Vua A-ram là Kha-da-ên qua đời, và con vua là Ben Ha-đát lên ngôi kế vị vua cha. <sup>25</sup> Vua Giô-át, con vua Giơ-hô-a-khát, lấy lại được những thành mà vua Kha-da-ên trong một cuộc chiến, đã chiếm được của vua Giơ-hô-a-khát, cha vua Giô-át. Những thành này khi đó nằm trong tay vua Ben Ha-đát, con vua kha-da-ên. Vua Giô-át đã đánh bại vua Ben Ha-đát ba lần và thu hồi được các thành của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">VII. Hai Vương Quốc</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Cho Tới Ngày Sa-Ma-Ri Thất Thủ</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-mát-gia-hu cai trị Giu-đa</strong> (796-781) (2 Sb 25:1-28)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Năm thứ hai triều vua Giô-át, con vua Giơ-hô-a-khát, vua Ít-ra-en, thì con vua Giô-át, vua Giu-đa, là A-mát-gia-hu, lên làm vua. <sup>2</sup> Khi lên ngôi, vua được hai mươi lăm tuổi và trị vì tại Giê-ru-sa-lem hai mươi chín năm. Thân mẫu của vua là bà Giơ-hô-át-đan người Giê-ru-sa-lem. <sup>3</sup> Vua đã điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, tuy không bằng vua Ða-vít, tổ tiên vua. Trong mọi sự, vua đã làm như vua cha là Giô-át. <sup>4</sup> Tuy nhiên, các tế đàn ở nơi cao không bị phá huỷ; dân chúng vẫn còn tế lễ và đốt hương trên các nơi cao đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vậy khi đã nắm vững vương quyền trong tay, vua A-mát-gia-hu hạ sát những thuộc hạ đã hạ sát vua cha. <sup>6</sup> Nhưng vua không xử tử con cái những kẻ sát nhân ấy, như đã chép trong sách Luật Mô-sê, chiếu theo lệnh Ðức Chúa truyền rằng: &#8220;Cha sẽ không bị xử tử vì con, và con sẽ không bị xử tử vì cha: mỗi người sẽ bị xử tử về tội của mình.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Chính vua đã hạ sát mười ngàn quân Ê-đôm tại thung lũng Muối, và trong cuộc chiến vua đã chiếm được thành luỹ Tảng Ðá, mà vua đặt tên cho là Gióc-thơ-ên; tên này vẫn tồn tại đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Khi ấy, vua A-mát-gia sai sứ giả đến vua Giô-át con vua Giơ-hô-a-khát, cháu vua Ít-ra-en là Giê-hu, và nói: &#8220;Nào đến đây, ta đọ sức với nhau!&#8221; <sup>9</sup> Vua Ít-ra-en là Giô-át mới sai người đến nói với vua A-mát-gia-hu, vua Giu-đa: &#8220;Cỏ gai trên núi Li-băng sai người đến nói với cây bá hương Li-băng: &#8220;Xin gả con gái của ngài cho con trai tôi. Nhưng một con dã thú Li-băng đi qua đã đạp lên cỏ gai. <sup>10</sup> Vì đã đánh bại Ê-đôm, nên ông lên mặt. Ông cứ vênh vang mà ở nhà! Chứ sao ông lại muốn khiêu chiến, để rồi bị ngã gục cùng với Giu-đa?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nhưng vua A-mát-gia-hu không chịu nghe. Bấy giờ, vua Ít-ra-en là Giô-át mới tiến lên; vua Giô-át và vua Giu-đa là A-mát-gia-hu đọ sức với nhau ở Bết Se-mét thuộc Giu-đa. <sup>12</sup> Giu-đa bị Ít-ra-en đánh bại; quân Giu-đa chạy trốn, ai về lều nấy. <sup>13</sup> Còn vua Giu-đa là A-mát-gia-hu, con vua Giô-át, cháu vua A-khát-gia-hu, thì bị vua Ít-ra-en là Giô-át bắt ở Bết Se-mét, và điệu về Giê-ru-sa-lem. Vua đập phá tường thành Giê-ru-sa-lem, tạo ra một chỗ hổng dài hai trăm thước, từ Cửa Ép-ra-im đến Cửa Góc thành. <sup>14</sup> Sau đó, vua lấy tất cả vàng bạc cùng mọi đồ vật có trong Nhà Ðức Chúa và trong các kho của đền vua, bắt các con tin, rồi trở về Sa-ma-ri.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Các truyện còn lại của vua Giô-át, những gì vua làm, cũng như chiến công của vua trong cuộc giao chiến với vua Giu-đa là A-mát-gia-hu, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>16</sup> Vua Giô-át đã an nghỉ với tổ tiên và được chôn cất ở Sa-ma-ri bên cạnh các vua Ít-ra-en. Con vua là Gia-róp-am lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Vua A-mát-gia-hu, con vua Giô-át, vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm nữa sau khi vua Giô-át, con vua Giơ-hô-a-khát, vua Ít-ra-en, qua đời.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Các truyện còn lại của vua A-mát-gia-hu đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>19</sup> Người ta âm mưu hại vua ở Giê-ru-sa-lem, nên vua chạy trốn về hướng La-khít, nhưng người ta sai người đuổi theo vua đến tận La-khít và giết vua ở đó. <sup>20</sup> Người ta cho ngựa chở vua về Giê-ru-sa-lem và chôn cất vua ở đó, bên cạnh tổ tiên vua trong Thành vua Ða-vít. <sup>21</sup> Toàn dân Giu-đa đặt A-dác-gia mới mười sáu tuổi lên ngôi kế vị vua cha là A-mát-gia-hu. <sup>22</sup> Chính vua đã tái thiết Ê-lát và trả lại cho Giu-đa, sau khi vua A-mát-gia-hu an nghỉ bên cạnh tổ tiên.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Gia-róp-am II cai trị Ít-ra-en</strong> (783-743)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Năm thứ mười lăm triều vua A-mát-gia-hu, con vua Giô-át, vua Giu-đa, con vua Giô-át, vua Ít-ra-en, là Gia-róp-am lên làm vua, và trị vì bốn mươi mốt năm ở Sa-ma-ri. <sup>24</sup> Vua đã làm sự dữ trái mắt Ðức Chúa, đã không dứt bỏ mọi tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Chính vua đã tái lập biên giới Ít-ra-en từ Cửa Ải Kha-mát cho đến biển A-ra-va, như lời Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đã dùng tôi trung của Người là ngôn sứ Giô-na, con ông A-mít-tai, quê ở Gát Khê-phe, mà phán. <sup>26</sup> Vì Ðức Chúa đã nhìn thấy cảnh bần cùng của Ít-ra-en phản nghịch; chẳng có một ai, nô lệ hay tự do, đến cứu giúp Ít-ra-en. <sup>27</sup> Ðức Chúa đã không nói là sẽ xoá tên Ít-ra-en không còn dấu vết trong thiên hạ, nên Người đã cứu họ nhờ tay vua Gia-róp-am, con vua Giô-át.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Các truyện còn lại của vua Gia-róp-am và mọi việc vua làm, cũng như chiến công nhờ đó vua đánh chiếm và đem Ða-mát cùng Kha-mát về lại cho Ít-ra-en, những truyện đó đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>29</sup> Vua Gia-róp-am đã nằm xuống với tổ tiên là các vua Ít-ra-en. Con vua là Dơ-khác-gia lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-dác-gia cai trị Giu-đa</strong> (781-740) (2 Sb 26:1-23)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Năm thứ hai mươi bảy triều Gia-róp-am, vua Ít-ra-en, con vua A-mát-gia, vua Giu-đa, là A-dác-gia lên làm vua. <sup>2</sup> Ông lên ngôi vua khi được mười sáu tuổi, và trị vì năm mươi hai năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giơ-khôn-gia-hu, người Giê-ru-sa-lem. <sup>3</sup> Vua đã làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, hoàn toàn đúng như vua cha là A-mát-gia-hu đã làm. <sup>4</sup> Tuy nhiên, các tế đàn ở nơi cao đã không bị phá huỷ, dân chúng vẫn còn tế lễ và đốt hương trên các nơi cao đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðức Chúa đánh phạt vua; vua mắc bệnh phung hủi cho đến ngày qua đời, và sống cô lập trong một căn nhà. Chính ông Giô-tham, con vua, làm đại nội thị thần và cai trị dân trong xứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Các truyện còn lại của vua A-dác-gia-hu và mọi việc vua làm đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>7</sup> Vua A-dác-gia đã nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất bên cạnh tổ tiên trong Thành vua Ða-vít. Con vua là Giô-tham lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Năm thứ ba mươi tám triều vua A-dác-gia-hu, vua Giu-đa, con vua Gia-róp-am là Dơ-khác-gia lên làm vua Ít-ra-en và trị vì sáu tháng ở Sa-ma-ri. <sup>9</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa như tổ tiên vua. Vua đã không dứt bỏ các tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo. <sup>10</sup> Ông Sa-lum, con ông Gia-vết, âm mưu hại vua. Ông đã đánh chết vua trước mặt dân, rồi lên ngôi thay vua. <sup>11</sup> Các truyện còn lại của vua Dơ-khác-gia đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en. <sup>12</sup> Ðức Chúa đã phán với vua Giê-hu rằng: &#8220;Con cháu ngươi sẽ ngự trên ngai cai trị Ít-ra-en cho đến đời thứ bốn&#8221;; lời ấy đã ứng nghiệm.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-lum cai trị Ít-ra-en</strong> (743)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Con ông Gia-vết là Sa-lum lên làm vua năm thứ ba mươi chín triều vua Út-di-gia, vua Giu-đa. Vua trị vì được một tháng ở Sa-ma-ri.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Mơ-na-khêm, con ông Ga-đi, đi lên từ Tia-xa và tiến vào Sa-ma-ri. Tại Sa-ma-ri, ông đánh chết vua Sa-lum, con ông Gia-vết, và lên làm vua thay vua ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Những truyện còn lại của vua Sa-lum và cuộc âm mưu vua đã chủ xướng, những sự việc ấy đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en. <sup>16</sup> Bấy giờ, vua Mơ-na-khêm đánh phạt Táp-pu-ác, mọi người ở trong đó cũng như lãnh thổ của thành bắt đầu từ Tia-xa, vì người trong thành đã không mở cửa cho vua; vua đã mổ bụng tất cả phụ nữ có thai.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Mơ-na-khêm cai trị Ít-ra-en</strong> (743-738)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Năm thứ ba mươi chín triều vua A-dác-gia, vua Giu-đa, con ông Ga-đi là Mơ-na-khêm lên làm vua cai trị Ít-ra-en mười năm, ở Sa-ma-ri. <sup>18</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa; vua không dứt bỏ các tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> vua Át-sua là Pun xâm nhập xứ sở, và vua Mơ-na-khêm nộp cho vua Pun ba mươi ngàn ký bạc để vua này nâng đỡ và củng cố vương quyền vua đang nắm trong tay. <sup>20</sup> Vua Mơ-na-khêm thu bạc ấy của Ít-ra-en, của mọi phú hào, để nộp cho vua Át-sua: mỗi người mười lăm lượng bạc. Vì thế, vua Át-sua đã trở về nước, không ở lại trong xứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Các truyện còn lại của vua Mơ-na-khêm, và mọi việc vua làm, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>22</sup> Vua Mơ-na-khêm đã nằm xuống với tổ tiên. Con vua là Pơ-các-gia lên ngôi kế vị vua cha.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Pơ-các-gia cai trị Ít-ra-en</strong> (738-737)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Năm thứ năm mươi triều vua A-dác-gia, vua Giu-đa, con vua Mơ-na-khêm là Pơ-các-gia lên làm vua cai trị Ít-ra-en hai năm, ở Sa-ma-ri. <sup>24</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, vua không dứt bỏ những tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Giám mã của vua là ông Pe-các, con ông Rơ-man-gia-hu, âm mưu chống lại vua và hạ sát vua ở Sa-ma-ri, trong tháp chính của đền vua&#8230; Có năm mươi người dân Ga-la-át cùng theo ông. Ông giết vua và lên ngôi thay thế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Các truyện còn lại của vua Pơ-các-gia, và mọi việc vua làm, đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Pe-các cai trị Ít-ra-en</strong> (737-732)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Năm thứ năm mươi hai triều vua A-dác-gia, vua Giu-đa, con ông Rơ-man-gia-hu là Pe-các lên làm vua cai trị Ít-ra-en hai mươi năm, ở Sa-ma-ri. <sup>28</sup> Vua đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, vua không dứt bỏ những tội mà vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Trong thời gian vua Pe-các, vua Ít-ra-en, vua Át-sua là Tích-lát Pi-le-xe đến xâm chiếm I-giôn, A-vên Bết Ma-a-kha, Gia-nô-ác, Ke-đét, Kha-xo, miền Ga-la-át và Ga-li-lê, toàn xứ Náp-ta-li, rồi đày dân sang Át-sua. <sup>30</sup> Ông Hô-sê, con ông Ê-la, âm mưu chống lại vua Pe-các, con ông Rơ-man-gia-hu, đánh chết vua và lên ngôi thay thế, vào năm thứ hai mươi triều vua Giô-tham, con vua Út-di-gia.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Các truyện còn lại của vua Pe-các, và mọi việc vua làm, đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Giô-tham cai trị Giu-đa</strong> (740-736) (2 Sb 27:1-9)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Năm thứ hai triều Pe-các, vua Ít-ra-en, con ông Rơ-man-gia-hu, thì con vua Út-di-gia-hu, vua Giu-đa, là Giô-tham lên làm vua. <sup>33</sup> Ông lên ngôi vua khi được hai mươi lăm tuổi, và trị vì mười sáu năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giơ-ru-sa, con gái ông Xa-đốc. <sup>34</sup> Vua đã làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, đúng như vua cha là Út-di-gia-hu đã làm. <sup>35</sup> Tuy nhiên, các tế đàn ở nơi cao không bị phá huỷ; dân chúng vẫn còn tế lễ và đốt hương trên các nơi cao đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chính vua đã xây Cửa Trên của Nhà Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Các truyện còn lại của vua Giô-tham, những việc vua làm, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>37</sup> Vào thời ấy, Ðức Chúa bắt đầu sai vua A-ram là Rơ-xin và vua Pe-các, con ông Rơ-man-gia-hu, đến đánh Giu-đa. <sup>38</sup> Vua Giô-tham đã an nghỉ với tổ tiên và được chôn cất bên cạnh tổ tiên trong Thành Ða-vít, tổ phụ vua. Con vua là A-khát lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/468/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=468&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-ii/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Các Vua I</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-i/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-i/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 18:35:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.6.Sách Các Vua I]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=464</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Việc Kế Vị Vua Ða-Vít Tuổi già của vua Ða-vít và những âm mưu của A-đô-ni-gia-hu 1 Vua Ða-vít đã già nua, tuổi tác; áo mặc bao nhiêu cũng không đủ ấm. 2 Các bề tôi của vua mới thưa vua rằng: &#8220;Xin được tìm cho đức vua, chúa thượng [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=464&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Việc Kế Vị Vua Ða-Vít</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tuổi già của vua Ða-vít và những âm mưu của A-đô-ni-gia-hu</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít đã già nua, tuổi tác; áo mặc bao nhiêu cũng không đủ ấm. <sup>2</sup> Các bề tôi của vua mới thưa vua rằng: &#8220;Xin được tìm cho đức vua, chúa thượng của hạ thần một cô trinh nữ, để nàng túc trực bên ngài và săn sóc cho ngài; có nàng nằm trong lòng ngài, ngài sẽ cảm thấy ấm.&#8221; <sup>3</sup> Vậy họ đã tìm khắp nơi trong toàn cõi Ít-ra-en để kiếm một thiếu nữ trẻ đẹp, và họ đã gặp cô A-vi-sác, người Su-nêm. Họ dẫn nàng vào chầu vua. <sup>4</sup> Ðó là một thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp; thế là nàng trở thành người săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua vẫn để nàng trinh nguyên. <sup>5</sup> Còn hoàng tử A-đô-ni-gia, con của bà Khác-ghít, thì tự xưng vương mà rằng: &#8220;Ta sẽ làm vua!&#8221; Chàng sắm xe, ngựa, và kiếm được năm mươi người chạy đàng trước mình.</span></p>
<p align="justify"><span id="more-464"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Suốt đời chàng, vua cha không hề cấm cản chàng, như nói: &#8220;Sao con lại làm thế?&#8221; Vả lại trông chàng cũng khôi ngô tuấn tú, và bà mẹ chàng đã sinh ra chàng sau Áp-sa-lôm. <sup>7</sup> Chàng móc nối với ông Giô-áp, con bà Xơ-ru-gia và với tư tế Ép-gia-tha; họ đã theo phe A-đô-ni-gia. <sup>8</sup> Còn tư tế Xa-đốc, ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, ngôn sứ Na-than, ông Sim-y, ông Rê-y và các anh hùng của vua Ða-vít, không ai ủng hộ A-đô-ni-gia-hu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi A-đô-ni-gia-hu sát tế chiên, bò và dê béo gần tảng đá Dô-khe-lét bên cạnh Ên Rô-ghên, thì chàng mời tất cả các hoàng tử anh em mình cùng tất cả nhân sĩ Giu-đa đang phục vụ nhà vua. <sup>10</sup> Nhưng ngôn sứ Na-than, ông Bơ-na-gia-hu, các anh hùng và cả Sa-lô-môn em chàng, chàng cũng không mời.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Âm mưu của ông Na-than và bà Bát Se-va</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Bấy giờ ông Na-than nói với bà Bát Se-va mẹ của Sa-lô-môn: &#8220;Bà không nghe biết sao: A-đô-ni-gia-hu, con bà Khác-ghít đã làm vua, mà vua Ða-vít chúa thượng của chúng ta không hay biết gì hết? <sup>12</sup> Bây giờ, này, tôi xin góp ý với bà để bà tự cứu lấy mạng mình và mạng Sa-lô-môn con bà nữa. <sup>13</sup> Bà hãy đi yết kiến vua Ða-vít và thưa với người: &#8220;Thưa đức vua, chúa thượng của tiện thiếp, nào chẳng phải chính ngài đã thề với tiện thiếp rằng: Chắc chắn Sa-lô-môn, con của ái khanh sẽ lên kế vị trên ngai báu ta? Vậy tại sao hoàng tử A-đô-ni-gia-hu lại đã làm vua? <sup>14</sup> Này, khi bà còn đang ở đó hầu chuyện đức vua, thì tôi sẽ vào sau, và bổ túc cho lời bà.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bà Bát Se-va vào chầu vua tại ngự phòng. (Vua đã quá già, và nàng A-vi-sác, người Su-nêm, hầu hạ vua). <sup>16</sup> Bà Bát Se-va quỳ gối phủ phục trước mặt vua; vua hỏi: &#8220;Có chuyện gì thế, ái khanh?&#8221; <sup>17</sup> Bà thưa với vua: &#8220;Thưa chúa thượng, ngài đã nhân danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài mà thề với nữ tỳ của ngài rằng: &#8220;Sa-lô-môn con của ái khanh sẽ làm vua kế vị ta trên ngai báu của ta. <sup>18</sup> Nhưng bây giờ, này, A-đô-ni-gia đã làm vua, thế mà đức vua chúa thượng của tiện thiếp vẫn không hay biết. <sup>19</sup> Hoàng tử đã sát tế bò, bê béo, chiên cừu nhiều vô kể, rồi mời tất cả các hoàng tử, mời tư tế Ép-gia-tha, ông Giô-áp chỉ huy quân đội; còn Sa-lô-môn tôi tớ ngài thì hoàng tử không mời. <sup>20</sup> Nhưng, chính nơi ngài, tâu đức vua chúa thượng của tiện thiếp, nơi ngài toàn thể Ít-ra-en đều để mắt trông chờ, xem ngài sẽ phán quyết cho ai lên kế vị ngài trên ngai báu của đức vua chúa thượng của tiện thiếp. <sup>21</sup> Thành ra khi đức vua chúa thượng của tiện thiếp đã an nghỉ với tổ tiên, thì tiện thiếp cùng với Sa-lô-môn con của tiện thiếp sẽ phải mang tội.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Bà còn đang trình bày với vua, thì ngôn sứ Na-than đến. <sup>23</sup> Người ta báo tin cho vua hay có ngôn sứ Na-than đến. Ông đi vào phủ phục trước mặt vua, mặt sát đất. <sup>24</sup> Ông Na-than nói: &#8220;Thưa đức vua chúa thượng tôi, thế ra chính ngài đã phán quyết: &#8220;A-đô-ni-gia-hu sẽ làm vua kế vị ta, nó sẽ ngồi trên ngai của ta. <sup>25</sup> Vì hôm nay hoàng tử đã xuống sát tế bò, bê béo, chiên cừu nhiều vô kể, rồi mời tất cả các hoàng tử, các người chỉ huy quân đội, tư tế Ép-gia-tha. Này họ đang ăn uống trước mặt hoàng tử ấy và hoan hô: &#8220;Vua A-đô-ni-gia-hu muôn năm! <sup>26</sup> Còn bề tôi ngài là hạ thần đây, rồi tư tế Xa-đốc, ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa cũng như Sa-lô-môn bề tôi của ngài, thì hoàng tử không mời. <sup>27</sup> Nếu sự việc này đã do đức vua chúa thượng tôi quyết định, thì đúng là ngài đã không cho các bề tôi của ngài biết: ai sẽ lên kế vị trên ngai báu của đức vua chúa thượng tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Vua Ða-vít lên tiếng nói: &#8220;Mời Bát Se-va vào cho ta.&#8221; Bà vào chầu vua và đứng trước mặt vua. <sup>29</sup> Bấy giờ vua thề và nói: &#8220;Ta thề nhân danh Ðức Chúa, Ðấng đã giải thoát ta khỏi mọi cơn quẫn bách: <sup>30</sup> đúng như ta đã thề với ái khanh nhân danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, rằng Sa-lô-môn của ái khanh sẽ làm vua kế vị ta; chính nó sẽ ngự trên ngai ta, thay thế ta, và ngay hôm nay ta sẽ thi hành như thế.&#8221; <sup>31</sup> Bà Bát Se-va quỳ xuống phủ phục trước mặt vua, mặt sát đất, và nói: &#8220;Ðức vua Ða-vít chúa thượng của tiện thiếp muôn muôn năm!&#8221; <sup>32</sup> Vua Ða-vít nói: &#8220;Gọi vào đây cho ta tư tế Xa-đốc, ngôn sứ Na-than, ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa.&#8221; Những người này vào chầu vua. <sup>33</sup> Vua nói với họ: &#8220;Hãy đưa các bề tôi của chúa thượng các ngươi đi theo các ngươi; để Sa-lô-môn con ta cỡi con la cái của ta, rồi đưa nó xuống Ghi-khôn. <sup>34</sup> Ở đấy tư tế Xa-đốc và ngôn sứ Na-than sẽ xức dầu phong nó làm vua Ít-ra-en; các ngươi sẽ rúc tù và và hô: &#8220;Vua Sa-lô-môn muôn năm! <sup>35</sup> Rồi các ngươi sẽ theo nó đi lên, nó sẽ vào ngự trên ngai của ta, nó sẽ làm vua thay thế ta, vì nó chính là người mà ta đã đặt lên cai quản Ít-ra-en và Giu-đa.&#8221; <sup>36</sup> Ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa thưa lại với vua và nói: &#8220;A-men, xin Ðức Chúa, Thiên Chúa của đức vua chúa thượng của hạ thần phán như vậy! <sup>37</sup> Xin Ðức Chúa cũng ở với vua Sa-lô-môn như đã ở với đức vua chúa thượng của hạ thần và làm cho ngai báu của người trở nên vĩ đại hơn ngai báu của đức vua Ða-vít chúa thượng của hạ thần.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Tư tế Xa-đốc, ngôn sứ Na-than, ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa, cùng với quân Cơ-rê-thi và Pơ-lê-thi đi xuống; họ để hoàng tử Sa-lô-môn cỡi con la cái của vua Ða-vít và đưa hoàng tử xuống Ghi-khôn. <sup>39</sup> Tư tế Xa-đốc lấy sừng đựng dầu từ Nhà Lều và xức cho Sa-lô-môn. Người ta đã rúc tù và; toàn dân hô: &#8220;Vua Sa-lô-môn muôn năm!&#8221; <sup>40</sup> Toàn dân tiến lên theo sau vua. Dân chúng thổi sáo và reo vui đến nỗi đất cũng chuyển động vì tiếng hò la của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A-đô-ni-gia-hu khiếp sợ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Ông A-đô-ni-gia-hu cùng tất cả các người được mời đang ở với ông, vừa ăn xong, thì nghe thấy; ông Giô-áp nghe tiếng tù và, thì nói: &#8220;Tiếng gì làm náo động nội thành vậy?&#8221; <sup>42</sup> Họ còn đang nói, thì này, ông Giô-na-than con tư tế Ép-gia-tha đi vào; ông A-đô-ni-gia-hu liền nói: &#8220;Vào đi, vì anh là một dũng sĩ và là người mang tin mừng.&#8221; <sup>43</sup> Ông Giô-na-than trả lời và nói với ông A-đô-ni-gia-hu: &#8220;Nguy to! Ðức vua Ða-vít chúa thượng của chúng ta đã đặt Sa-lô-môn làm vua! <sup>44</sup> Ðức vua đã sai tư tế Xa-đốc, ngôn sứ Na-than, ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa, quân Cơ-rê-thi và Pơ-lê-thi cùng đi với ông; họ để ông cỡi con la cái của đức vua. <sup>45</sup> Tư tế Xa-đốc và ngôn sứ Na-than đã xức dầu phong ông làm vua, tại Ghi-khôn; rồi họ hò la kéo lên và cả thành náo động. Ðó là tiếng ồn ào mà quý vị đã nghe thấy. <sup>46</sup> Hơn nữa, Sa-lô-môn còn được ngồi trên ngai vua. <sup>47</sup> Quần thần đến chúc mừng vua Ða-vít chúa thượng của chúng ta rằng: &#8220;Xin Thiên Chúa của ngài làm cho danh Sa-lô-môn rạng ngời hơn danh ngài, cho ngai báu của người vĩ đại hơn ngai báu của ngài.&#8221; Vua phủ phục trên long sàng. <sup>48</sup> Vua nói như thế này: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, Ðấng hôm nay đã ban cho mắt ta được thấy trong dòng dõi ta có người ngồi trên ngai ta!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Bấy giờ tất cả những người được A-đô-ni-gia-hu mời đều run sợ; họ đứng lên, bỏ đi, mỗi người một ngả. <sup>50</sup> Còn A-đô-ni-gia-hu, vì sợ Sa-lô-môn, đã đứng lên đi bám chặt lấy góc bàn thờ. <sup>51</sup> Người ta báo tin cho Sa-lô-môn rằng: &#8220;Này A-đô-ni-gia-hu sợ vua Sa-lô-môn, nên đã bám chặt lấy góc bàn thờ mà nói: &#8220;Hôm nay xin vua Sa-lô-môn thề hứa với tôi là người sẽ không dùng gươm giết tôi tớ người.&#8221; <sup>52</sup> Sa-lô-môn nói: &#8220;Nếu ông ấy là người lương thiện, thì không một sợi tóc nào trên đầu ông sẽ rơi xuống đất; còn nếu người ta phát giác ông có tội, thì ông sẽ phải chết.&#8221; <sup>53</sup> Rồi vua Sa-lô-môn truyền đưa ông xuống khỏi bàn thờ; ông đến sấp mình trước vua Sa-lô-môn, và Sa-lô-môn bảo ông: &#8220;Về nhà ngươi đi!&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Di chúc của vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi thấy mình đã gần đất xa trời, vua Ða-vít truyền dạy Sa-lô-môn con mình rằng: <sup>2</sup> &#8220;Cha sắp bước vào đoạn đường mà mọi người trên đời phải đi qua; con hãy can đảm lên và sống cho xứng bậc nam nhi. <sup>3</sup> Hãy tuân giữ các huấn lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của con, mà đi theo đường lối của Người, là giữ các giới răn, mệnh lệnh, luật pháp, và chỉ thị của Người, như đã ghi trong Luật Mô-sê. Như thế con sẽ thành công trong mọi việc con làm và trong mọi hướng con đi, <sup>4</sup> và Ðức Chúa sẽ thực hiện lời Người đã phán với cha rằng: &#8220;Nếu con cái ngươi sống cho phải đạo là hết lòng hết dạ bước đi trung thực trước nhan Ta, thì ngươi sẽ không bao giờ thiếu người ngự trên ngai Ít-ra-en. <sup>5</sup> Con cũng đã biết Giô-áp, con của Xơ-ru-gia, đã làm gì cho cha, nó đã làm gì cho hai người chỉ huy quân đội Ít-ra-en là Áp-ne, con của Ne, và A-ma-xa, con của Gie-the; nó đã giết họ. Như thế trong thời bình nó đã đổ máu người như trong thời chiến, làm cho đai lưng và giầy nó mang vấy máu chiến tranh. <sup>6</sup> Con sẽ đối xử theo sự khôn ngoan của con, và đừng để cho đầu bạc của nó xuống âm phủ bình an. <sup>7</sup> Còn đối với các con của Bác-di-lai, người Ga-la-át, thì con sẽ cư xử nhân hậu, cho chúng được hưởng lộc của con, vì khi cha trốn Áp-sa-lôm anh con, nó đã tiếp cứu cha như thế. <sup>8</sup> Và này, con còn vụ Sim-y, con của Ghê-ra, người Ben-gia-min, thuộc Ba-khu-rim. Nó đã chửi rủa cha thậm tệ hôm cha đến Ma-kha-na-gim; nhưng rồi nó lại xuống đón gặp cha ở sông Gio-đan, và cha đã nhân danh Ðức Chúa mà thề với nó rằng: &#8220;Ta sẽ không dùng gươm giết ngươi. <sup>9</sup> Nhưng con, con đừng để nó vô can, bởi vì con là người khôn ngoan, và biết phải xử với nó như thế nào để bắt nó xuống âm phủ với đầu bạc vấy máu.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Vua Ða-vít đã an nghỉ với tổ tiên ông, và được chôn cất trong Thành vua Ða-vít. <sup>11</sup> Thời gian vua Ða-vít trị vì Ít-ra-en là bốn mươi năm: vua trị vì tại Khép-rôn bảy năm và tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông A-đô-ni-gia-hu bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Vua Sa-lô-môn ngự trên ngai vua Ða-vít, thân phụ ông, và vương quyền của ông thật là vững chắc. <sup>13</sup> Ông A-đô-ni-gia-hu, con bà Khác-ghít, đến gặp bà Bát Se-va, mẹ vua Sa-lô-môn; bà hỏi ông: &#8220;Anh đến nói chuyện bình an chứ?&#8221; Ông thưa: &#8220;Bình an.&#8221; <sup>14</sup> Ông nói tiếp: &#8220;Tôi có việc muốn thưa với bà.&#8221; Bà đáp: &#8220;Anh cứ nói.&#8221; <sup>15</sup> Ông nói: &#8220;Hẳn bà cũng biết là vương quyền phải thuộc về tôi; và toàn thể Ít-ra-en đều hướng về tôi, trông chờ tôi làm vua. Nhưng vương quyền ấy đã xoay chiều và thuộc về em tôi, vì Ðức Chúa đã muốn như thế. <sup>16</sup> Vậy bây giờ tôi chỉ có một điều xin bà, bà đừng ngoảnh mặt đi.&#8221; Bà bảo ông: &#8220;Anh cứ nói.&#8221; <sup>17</sup> Ông liền nói: &#8220;Xin bà nói với vua Sa-lô-môn &#8211; vì người không ngoảnh mặt từ chối bà đâu &#8211; xin người ban cho tôi nàng A-vi-sác, người Su-nêm, làm vợ.&#8221; <sup>18</sup> Bà Bát Se-va nói: &#8220;Ðược, tôi sẽ thưa với vua hộ anh.&#8221; <sup>19</sup> Bà Bát Se-va vào yết kiến vua Sa-lô-môn để thưa chuyện với vua giúp A-đô-ni-gia-hu. Vua đứng lên, ra đón và sấp mình chào bà; đoạn vua ngồi trên ngai, đồng thời cũng truyền đặt một ngai cho bà thái hậu, bà ngồi bên hữu vua. <sup>20</sup> Bà nói: &#8220;Có một điều nhỏ mọn mẹ xin với con; con đừng ngoảnh mặt đi.&#8221; Vua nói với bà: &#8220;Thưa mẹ, mẹ cứ xin, vì con sẽ không ngoảnh mặt từ chối mẹ.&#8221; <sup>21</sup> Bà liền nói: &#8220;Xin cho nàng A-vi-sác, người Su-nêm, được làm vợ A-đô-ni-gia-hu, anh con.&#8221; <sup>22</sup> Vua Sa-lô-môn trả lời và nói với mẹ: &#8220;Sao mẹ lại xin nàng A-vi-sác, người Su-nêm, cho A-đô-ni-gia-hu? Mẹ xin cho anh ấy vương quyền luôn đi, vì anh ấy là anh con mà, và đã có tư tế Ép-gia-tha cũng như Giô-áp, con Xơ-ru-gia, ủng hộ.&#8221; <sup>23</sup> Rồi vua Sa-lô-môn lấy danh Ðức Chúa mà thề: &#8220;Xin Thiên Chúa phạt ta thế này và thế kia nữa, nếu A-đô-ni-gia-hu không mất mạng vì câu nói đó!&#8221; <sup>24</sup> Vậy bây giờ, có Ðức Chúa hằng sống! Ðấng đã làm cho ta được vững, và đặt ta trên ngai Ða-vít phụ vương ta, Người cũng đã tạo lập cho ta một triều đại như Người đã phán, ta thề rằng ngay hôm nay A-đô-ni-gia-hu sẽ phải chết!&#8221; <sup>25</sup> Ðoạn vua Sa-lô-môn sai ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, đi hạ sát ông A-đô-ni-gia-hu và ông này đã chết.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Số phận ông Ép-gia-tha và ông Giô-áp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Còn tư tế Ép-gia-tha thì vua bảo: &#8220;Ngươi hãy về A-na-thốt với ruộng đất của ngươi, vì ngươi là con người đáng chết, nhưng hôm nay ta không giết ngươi, bởi vì ngươi đã khiêng Hòm Bia của Ðức Chúa là Chúa Thượng ta, trước mặt Ða-vít phụ vương ta, và ngươi đã chia sẻ mọi nỗi gian lao với phụ vương ta.&#8221; <sup>27</sup> Thế là ông Sa-lô-môn cách chức ông Ép-gia-tha không cho làm tư tế Ðức Chúa nữa, khiến cho lời Ðức Chúa đã phán về gia đình Ê-li tại Si-lô nên ứng nghiệm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Hay tin ấy, ông Giô-áp, người đã từng theo phe A-đô-ni-gia, tuy không ngả theo Áp-sa-lôm, liền trốn vào Lều của Ðức Chúa và bám chặt lấy góc bàn thờ. <sup>29</sup> Người ta báo tin cho Sa-lô-môn biết là ông Giô-áp đã trốn vào Lều của Ðức Chúa, và này ông đang ở bên cạnh bàn thờ. Vua Sa-lô-môn sai ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa và bảo: &#8220;Ði hạ sát hắn!&#8221; <sup>30</sup> Ông Bơ-na-gia-hu vào Lều của Ðức Chúa và nói với ông Giô-áp: &#8220;Ðức vua phán thế này: Ði ra!&#8221; Nhưng ông đáp: &#8220;Không, tôi sẽ chết ở đây.&#8221; Ông Bơ-na-gia-hu tường trình sự việc với vua: &#8220;Giô-áp đã nói và trả lời tôi như thế.&#8221; <sup>31</sup> Vua nói với ông: &#8220;Cứ làm như hắn nói; hạ sát hắn, rồi chôn hắn đi. Như thế, ngươi sẽ làm cho ta và nhà cha ta được sạch vết máu vô tội Giô-áp đã đổ ra. <sup>32</sup> Xin Ðức Chúa làm cho máu hắn lại đổ trên đầu hắn, vì hắn đã hạ sát hai người công chính và tốt lành hơn hắn; hắn đã dùng gươm thủ tiêu họ mà Ða-vít, thân phụ ta, không hay biết: đó là ông Áp-ne, con ông Ne, chỉ huy quân đội Ít-ra-en, và ông A-ma-xa, con ông Gie-the, chỉ huy quân đội Giu-đa. <sup>33</sup> Như thế máu của họ lại đổ trên đầu Giô-áp và trên đầu dòng dõi hắn đến muôn đời; còn Ða-vít và dòng dõi người, cũng như triều đại và ngai báu của người sẽ được Ðức Chúa ban bình an đến muôn đời.&#8221; <sup>34</sup> Bấy giờ ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, đi lên, hạ sát, rồi chôn ông Giô-áp tại nhà ông này trong sa mạc. <sup>35</sup> Vua đặt ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa thay thế ông Giô-áp đứng đầu quân đội và tư tế Xa-đốc thay thế ông Ép-gia-tha.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sim-y thất lời và bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Vua sai người gọi Sim-y đến và bảo: &#8220;Ngươi hãy xây cho mình một ngôi nhà tại Giê-ru-sa-lem mà ở, và không được rời khỏi đây, để đi bất cứ nơi nào khác. <sup>37</sup> Ngày nào ngươi rời khỏi đó và qua suối Kít-rôn, thì ngày ấy ngươi biết chắc rằng ngươi sẽ phải chết; máu ngươi sẽ đổ trên đầu ngươi.&#8221; <sup>38</sup> Sim-y thưa với vua: &#8220;Lời ngài nói thật là phải. Ðức vua, chúa thượng tôi, đã nói thế nào, thì xin ngài cứ thi hành như vậy với bề tôi của ngài.&#8221; Và Sim-y cư ngụ lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Nhưng rồi sau ba năm có hai người đầy tớ của Sim-y bỏ trốn, đến với ông A-khít, con ông Ma-a-kha, vua Gát; và người ta báo cho Sim-y: &#8220;Này, các đầy tớ của ông đang ở Gát.&#8221; <sup>40</sup> Sim-y liền trỗi dậy, thắng lừa, đi Gát, đến nhà ông A-khít, để tìm đầy tớ; ông đến đó và đưa các đầy tớ của mình từ Gát trở về. <sup>41</sup> Người ta báo cho vua Sa-lô-môn biết Sim-y đã bỏ Giê-ru-sa-lem đi Gát và đã trở về.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Vua mới sai người gọi Sim-y đến và bảo: &#8220;Ta lại đã không bắt ngươi lấy Ðức Chúa mà thề và ta đã cảnh giác ngươi rằng: ngày nào ngươi rời khỏi đây và đi bất cứ nơi nào khác, thì ngươi biết chắc rằng ngươi sẽ phải chết; ngươi cũng đã thưa với ta: &#8220;Lời ngài nói thật là phải, tôi xin tuân hành. <sup>43</sup> Vậy, tại sao ngươi không giữ lời đã thề trước mặt Ðức Chúa và lệnh ta đã truyền cho ngươi?&#8221; <sup>44</sup> Rồi vua nói với Sim-y: &#8220;Chính ngươi đã biết tất cả sự độc ác &#8211; hẳn lòng ngươi quá rõ &#8211; mà ngươi đã làm cho Ða-vít thân phụ ta; xin Ðức Chúa làm cho sự độc ác của ngươi lại giáng xuống đầu ngươi. <sup>45</sup> Còn vua Sa-lô-môn thì được chúc phúc, và ngai báu của Ða-vít bền vững trước nhan Ðức Chúa đến muôn đời.&#8221; <sup>46</sup> Vua ra lệnh cho ông Bơ-na-gia-hu con ông Giơ-hô-gia-đa, và ông đã đi hạ sát Sim-y và y đã chết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua Sa-lô-môn nắm vững vương quyền trong tay.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">II. Tiểu Sử Sa-Lô-Môn Ðại Ðế</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Sa-Lô-Môn, Con Người Khôn Ngoan</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tiểu dẫn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sa-lô-môn thành con rể của Pha-ra-ô vua Ai-cập, vì đã cưới công chúa vua Ai-cập, và đưa nàng về Thành của Ða-vít, cho đến khi hoàn thành việc xây cất cung điện của ông, cũng như Ðền Thờ Ðức Chúa và tường thành quanh Giê-ru-sa-lem. <sup>2</sup> Chỉ có điều là dân chúng vẫn tế lễ trên các nơi cao, vì cho đến nay ông vẫn chưa xây được ngôi đền nào kính Danh Ðức Chúa. <sup>3</sup> Tuy Sa-lô-môn yêu mến Ðức Chúa, bước theo các lời chỉ dạy của Ða-vít, thân phụ ông; nhưng ông vẫn tế lễ và đốt hương trên các nơi cao.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giấc mộng ở Ghíp-ôn</strong> (2 Sb 1: 3-12)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua đi Ghíp-ôn để tế lễ vì chỗ ấy là nơi cao quan trọng nhất; Sa-lô-môn dâng một ngàn lễ vật toàn thiêu trên bàn thờ ấy. <sup>5</sup> Tại Ghíp-ôn, đang đêm Ðức Chúa hiện ra báo mộng cho vua Sa-lô-môn, Thiên Chúa phán: &#8220;Ngươi cứ xin đi, Ta sẽ ban cho.&#8221; <sup>6</sup> Vua Sa-lô-môn thưa: &#8220;Chính Ngài đã lấy lòng nhân hậu lớn lao mà xử với tôi tớ Chúa là Ða-vít thân phụ con, như người đã bước đi trước nhan Chúa cách trung thực, công chính, với tâm hồn ngay thẳng. Chúa đã duy trì lòng nhân hậu lớn lao ấy đối với người, khi ban cho người có một đứa con ngồi trên ngai của người hôm nay. <sup>7</sup> Và bây giờ, lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa của con, chính Chúa đã đặt tôi tớ Chúa đây lên ngôi kế vị Ða-vít, thân phụ con, mặc dầu con chỉ là một thanh niên bé nhỏ, không biết cầm quyền trị nước. <sup>8</sup> Con lại ở giữa dân mà Chúa đã chọn, một dân đông đúc, đông không kể xiết, cũng không đếm nổi. <sup>9</sup> Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế?&#8221; <sup>10</sup> Chúa hài lòng vì vua Sa-lô-môn đã xin điều đó. <sup>11</sup> Thiên Chúa phán với vua: &#8220;Bởi vì ngươi đã xin điều đó, ngươi đã không xin cho được sống lâu, hay được của cải, cũng không xin cho kẻ thù ngươi phải chết, nhưng đã xin cho được tài phân biệt để xét xử, <sup>12</sup> thì này, Ta làm theo như lời ngươi: Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng, và sau ngươi, cũng chẳng có ai bì kịp. <sup>13</sup> Cả điều ngươi không xin, Ta cũng sẽ ban cho ngươi: giàu có, vinh quang, đến nỗi suốt đời ngươi không có ai trong các vua được như ngươi. <sup>14</sup> Và nếu ngươi bước theo các đường lối của Ta, là tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Ta, như Ða-vít thân phụ ngươi, thì Ta sẽ kéo dài ngày đời của ngươi.&#8221; <sup>15</sup> Sa-lô-môn tỉnh dậy, thì ra đó là một giấc mộng. Ông trở về Giê-ru-sa-lem và đứng trước Hòm Bia Giao Ước của Chúa; ông thượng tiến lễ toàn thiêu, dâng lễ kỳ an và thết tất cả các bề tôi của mình một bữa tiệc.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-lô-môn xử kiện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Bấy giờ có hai người gái điếm vào chầu vua. Khi đứng trước mặt vua, <sup>17</sup> thì một người nói: &#8220;Ôi, thưa chúa thượng tôi, tôi và người đàn bà này cùng ở một nhà; và tôi sinh một đứa con, trong lúc chị này cùng ở đó với tôi. <sup>18</sup> Tôi sinh được ba ngày, thì người đàn bà này cũng sinh. Chúng tôi ở chung với nhau; ngoài hai chúng tôi ra, không có ai khác trong nhà. <sup>19</sup> Ðêm nọ, đứa con của chị này chết, vì chị đè lên nó; <sup>20</sup> giữa đêm chị thức dậy, và trong khi nữ tỳ của ngài vẫn ngủ, thì chị bế đứa con của tôi đang nằm cạnh tôi, và đặt trong lòng mình, còn đứa con đã chết của chị, chị đặt vào lòng tôi. <sup>21</sup> Ðến sáng khi tôi thức dậy cho con bú, thì này đứa bé đã chết. Nhưng khi tôi nhìn kỹ nhờ ánh sáng ban ngày, thì ra nó không phải là đứa con tôi đã sinh ra.&#8221; <sup>22</sup> Người đàn bà kia trả lời: &#8220;Không phải thế, vì con tôi còn sống, con chị mới là đứa chết.&#8221; Nhưng người này lại nói: &#8220;Không phải, con chị mới là đứa chết, đứa sống là con tôi.&#8221; Và họ cãi nhau trước mặt vua. <sup>23</sup> Bấy giờ vua nói: &#8220;Chị này bảo: &#8220;Ðứa sống này là con tôi, con chị mới là đứa chết. Chị kia đáp lại: &#8220;Không phải thế, con chị mới là đứa chết, nhưng con tôi còn sống.&#8221; <sup>24</sup> Rồi vua ra lệnh: &#8220;Ðưa cho ta chiếc gươm.&#8221; Người ta đưa tới trước mặt vua một chiếc gươm. <sup>25</sup> Và vua quyết định: &#8220;Phân đứa trẻ còn sống ra làm hai, và cho mỗi người một nửa!&#8221; <sup>26</sup> Bấy giờ người mẹ của đứa trẻ còn sống, động lòng thương con mình, liền thưa với vua: &#8220;Ôi! thưa chúa thượng tôi, xin ngài cho chị ấy đứa trẻ còn sống; còn giết chết nó, thì xin đừng!&#8221; Người kia nói: &#8220;Chẳng phải con tôi, cũng chẳng phải con chị, cứ chia ra!&#8221; <sup>27</sup> Bấy giờ vua lên tiếng nói: &#8220;Trao đứa trẻ còn sống cho người nói trước, và đừng giết nó, chính nàng mới là mẹ nó.&#8221; <sup>28</sup> Toàn thể Ít-ra-en nghe biết vụ án vua đã xử, đều kính sợ vua, vì thấy rằng Thiên Chúa đã phú bẩm cho vua một sự khôn ngoan lạ lùng để người xét xử.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 &amp; 05 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">04</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các viên chức cao cấp của vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn cai trị toàn cõi Ít-ra-en. <sup>2</sup> Và đây là các viên chức của vua: A-dác-gia-hu, con của Xa-đốc, làm tư tế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ê-li-khô-rép và A-khi-gia, hai người con của Si-sa làm ký lục.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Giơ-hô-sa-phát, con của A-khi-lút, làm ngự sử.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Bơ-na-gia-hu, con của Giơ-hô-gia-đa, chỉ huy quân đội.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Xa-đốc và Ép-gia-tha làm tư tế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> A-dác-gia-hu, con của Na-than, chỉ huy các trưởng vùng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Da-vút, con tư tế Na-than, làm cố vấn của vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> A-khi-sa đặc trách cung điện.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">A-đô-ni-ram, con của Áp-đa, đặc trách dân công.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các trưởng vùng của vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Vua Sa-lô-môn có mười hai trưởng vùng trên toàn cõi Ít-ra-en. Họ cống hiến lương thực cho vua và triều đình, hằng năm mỗi người cống hiến một tháng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ðây là danh sách họ:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Con ông Khua trong vùng núi Ép-ra-im.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Con ông Ðe-ke, ở Ma-cát, Sa-an-vim, Bết Se-mét và Ê-lôn cho đến Bết Kha-nan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con ông Khe-xét tại A-rúp-bốt; Xô-khô và tất cả miền Khê-phe cũng thuộc quyền ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Con ông A-vi-na-đáp coi tất cả cao nguyên vùng Ðo. Vợ ông là công chúa Ta-phát, ái nữ của vua Sa-lô-môn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Ba-a-na, con ông A-khi-lút coi Ta-nác, Mơ-ghít-đô đến tận bên kia Gióc-mơ-am và tất cả Bết San gần Xác-than, bên dưới Gít-rơ-en từ Bết San cho đến A-vên Mơ-khô-la.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Con ông Ghe-ve tại Ra-mốt Ga-la-át; ông coi các thôn làng của ông Gia-ia con ông Mơ-na-se nằm trong miền Ga-la-át, và vùng đất Ác-gốp tại Ba-san, tất cả là sáu mươi thành lớn có tường vây và then cài bằng đồng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông A-khi-na-đáp, con ông Ít-đô, ở Ma-kha-na-gim.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông A-khi-ma-át tại Náp-ta-li; ông cũng cưới công chúa Ba-xơ-mát, ái nữ của vua Sa-lô-môn làm vợ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Ba-a-na, con ông Khu-sai, ở A-se và Bơ-a-lốt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Giơ-hô-sa-phát, con ông Pa-ru-ác, ở Ít-xa-kha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Sim-y, con ông Ê-la, ở Ben-gia-min.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Ghe-ve, con ông U-ri, trong đất Ga-la-át, đất của Xi-khôn vua dân E-mô-ri và Ốc vua Ba-san.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và trong xứ chỉ có một trưởng vùng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">05</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Các trưởng vùng này, mỗi người một tháng, cống hiến lương thực cho vua Sa-lô-môn và cho tất cả những người được lui tới bàn ăn của vua Sa-lô-môn, họ không để cho vua phải thiếu gì. <sup>8</sup> Lúa mạch và rơm rạ cho ngựa tải đồ và ngựa trận, nơi nào có nhu cầu, họ cũng phải cung cấp, theo mức quy định cho mỗi người. <sup>2</sup> Thực phẩm cung cấp cho vua Sa-lô-môn mỗi ngày là: sáu trăm thùng tinh bột, một ngàn hai trăm thùng bột thường, <sup>3</sup> mười con bò thịt và hai mươi con bò nuôi, một trăm con cừu, không kể nai, linh dương, sơn dương và chim gáy béo để ăn thịt. <sup>4</sup> Vì vua thống trị khắp Vùng bên kia Sông Cả, từ Típ-xác đến Ga-da, thống trị hết, các vua bên kia Sông Cả, và vua sống bình an với mọi vùng ranh giới chung quanh. <sup>5</sup> Giu-đa và Ít-ra-en được an cư, mỗi người dưới cây nho và cây vả của mình, từ Ðan tới Bơ-e Se-va trong suốt thời vua Sa-lô-môn cai trị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">04</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Giu-đa và Ít-ra-en thật đông dân, đông như cát ngoài bãi biển. Họ ăn, họ uống và vui sướng thoả thuê.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">05</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn có quyền trên tất cả các nước, từ Sông Cả đến đất của người Phi-li-tinh, và đến ranh giới Ai-cập. Họ phải triều cống và phục vụ vua Sa-lô-môn suốt đời vua. <sup> 6</sup> Vua Sa-lô-môn có bốn ngàn ngăn chuồng cho ngựa kéo và mười hai ngàn con ngựa cưỡi.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Danh tiếng vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Thiên Chúa cho vua Sa-lô-môn được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển. <sup>10</sup> Sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn trổi vượt hơn sự khôn ngoan của tất cả mọi người Phương Ðông và hơn tất cả sự khôn ngoan của Ai-cập. <sup>11</sup> Ông khôn ngoan hơn bất cứ ai, hơn ông Ê-than người Ét-ra, hơn ông Hê-man, ông Can-côn, ông Ðác-đa, ba người con của ông Ma-khôn; danh tiếng vua đồn ra khắp các dân tộc chung quanh. <sup>12</sup> Vua đọc được ba ngàn câu cách ngôn, và các bài ca của vua là một ngàn không trăm lẻ năm bài. <sup>13</sup> Vua nói về các thứ cây, từ cây bá hương ở Li-băng cho tới cây ngưu tất mọc ở bờ tường; vua cũng bàn tới các thú vật, các loài chim, các thứ rắn rết và các loại cá. <sup>14</sup> Từ mọi dân tộc, thiên hạ kéo tới nghe sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; vua nhận được tặng phẩm của tất cả các vua trên mặt đất đã nghe biết sự khôn ngoan của vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Sa-Lô-Môn, Con Người Xây Cất.</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuẩn bị xây Ðền Thờ </strong> (2 Sb 2:2-15)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Khi-ram, vua thành Tia, sai bề tôi của mình đến yết kiến vua Sa-lô-môn, khi vua biết ông được xức dầu phong vương kế vị thân phụ ông; vì vua Khi-ram vốn là bạn thân của vua Ða-vít lúc sinh thời. <sup>16</sup> Vua Sa-lô-môn sai sứ đi thưa với vua Khi-ram rằng: <sup>17</sup> &#8220;Ngài biết là Ða-vít thân phụ tôi không thể xây Ðền Thờ kính danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của người được, vì chiến tranh bao bọc tư bề, bao lâu Ðức Chúa chưa cho người đè bẹp quân thù dưới chân. <sup>18</sup> Nay thì Ðức Chúa cho tôi được bốn bề yên ổn, không có người chống đối, cũng chẳng gặp số phận rủi ro. <sup>19</sup> Vậy tôi nghĩ phải xây một Ðền Thờ kính danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi, như Ðức Chúa đã phán bảo Ða-vít thân phụ tôi rằng: &#8220;Con của ngươi, người Ta sẽ cho kế vị ngươi trên ngai báu, chính nó sẽ xây Ðền Thờ kính Danh Ta. <sup>20</sup> Vậy bây giờ, xin ngài ra lệnh đốn cho tôi những cây bá hương Li-băng. Bề tôi của tôi sẽ hợp tác với bề tôi của ngài, và tôi sẽ trả tiền công cho bề tôi của ngài, như ngài ấn định. Hẳn ngài đã rõ không ai trong chúng tôi biết đốn cây như người Xi-đôn.&#8221; <sup>21</sup> Khi nghe những lời của vua Sa-lô-môn, vua Khi-ram rất đỗi vui mừng và nói: &#8220;Hôm nay xin chúc tụng Ðức Chúa, vì Người đã ban cho Ða-vít một người con khôn ngoan cai trị dân đông đảo này.&#8221; <sup>22</sup> Rồi vua Khi-ram sai người đến nói với vua Sa-lô-môn: &#8220;Tôi đã nghe biết điều ngài sai sứ giả đến nói với tôi. Tôi sẽ thi hành mọi ước muốn của ngài về gỗ bá hương và gỗ trắc. <sup>23</sup> Bề tôi của tôi sẽ đưa những thứ đó từ Li-băng xuống biển; tôi sẽ đóng bè ngoài biển, chở tới chỗ ngài yêu cầu, ở đấy tôi sẽ phá bè và ngài sẽ lấy đi. Còn ngài, xin cũng thực hiện điều tôi ước muốn, là cung cấp thực phẩm cho triều đình tôi.&#8221; <sup>24</sup> Thế là vua Khi-ram cung cấp cho vua Sa-lô-môn tất cả gỗ bá hương và gỗ trắc như vua Sa-lô-môn muốn. <sup>25</sup> Và vua Sa-lô-môn trao cho vua Khi-ram bốn trăm ngàn thùng lúa miến làm lương thực cho triều đình của vua này, với bốn mươi ngàn thùng dầu nguyên chất. Vua Sa-lô-môn cung cấp cho vua Khi-ram như thế hằng năm. <sup>26</sup> Ðức Chúa cho vua Sa-lô-môn được khôn ngoan như Người đã phán với vua; vua Sa-lô-môn và vua Khi-ram giao hảo với nhau và hai bên đã kết ước.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Vua Sa-lô-môn ra lệnh cho toàn thể Ít-ra-en đi dân công: có ba mươi ngàn người đi dân công. <sup>28</sup> Vua sai họ thay phiên nhau đi Li-băng mỗi tháng mười ngàn người, họ ở Li-băng một tháng, rồi ở nhà hai tháng. Ông A-đô-ni-ram đặc trách dân công. <sup>29</sup> Vua Sa-lô-môn có bảy mươi ngàn phu khuân vác và tám mươi ngàn thợ đục đá trong núi, <sup>30</sup> không kể những người chỉ huy do các trưởng vùng của vua Sa-lô-môn đặt phụ trách công việc; số người này là ba ngàn ba trăm người: họ điều khiển dân chúng tiến hành công việc <sup>31</sup> Vua ra lệnh phải đẽo những phiến đá lớn, đá lựa riêng để xây nền móng Ðền thờ, được đục đẽo vuông vắn. <sup>32</sup> Thợ nề của vua Sa-lô-môn cùng với thợ nề của vua Khi-ram và những người Gơ-van đẽo và chuẩn bị sẵn sàng gỗ đá để xây Ðền Thờ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 &amp; 05 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">04</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các viên chức cao cấp của vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn cai trị toàn cõi Ít-ra-en. <sup>2</sup> Và đây là các viên chức của vua: A-dác-gia-hu, con của Xa-đốc, làm tư tế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ê-li-khô-rép và A-khi-gia, hai người con của Si-sa làm ký lục.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Giơ-hô-sa-phát, con của A-khi-lút, làm ngự sử.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Bơ-na-gia-hu, con của Giơ-hô-gia-đa, chỉ huy quân đội.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Xa-đốc và Ép-gia-tha làm tư tế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> A-dác-gia-hu, con của Na-than, chỉ huy các trưởng vùng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Da-vút, con tư tế Na-than, làm cố vấn của vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> A-khi-sa đặc trách cung điện.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">A-đô-ni-ram, con của Áp-đa, đặc trách dân công.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các trưởng vùng của vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Vua Sa-lô-môn có mười hai trưởng vùng trên toàn cõi Ít-ra-en. Họ cống hiến lương thực cho vua và triều đình, hằng năm mỗi người cống hiến một tháng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ðây là danh sách họ:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Con ông Khua trong vùng núi Ép-ra-im.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Con ông Ðe-ke, ở Ma-cát, Sa-an-vim, Bết Se-mét và Ê-lôn cho đến Bết Kha-nan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con ông Khe-xét tại A-rúp-bốt; Xô-khô và tất cả miền Khê-phe cũng thuộc quyền ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Con ông A-vi-na-đáp coi tất cả cao nguyên vùng Ðo. Vợ ông là công chúa Ta-phát, ái nữ của vua Sa-lô-môn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Ba-a-na, con ông A-khi-lút coi Ta-nác, Mơ-ghít-đô đến tận bên kia Gióc-mơ-am và tất cả Bết San gần Xác-than, bên dưới Gít-rơ-en từ Bết San cho đến A-vên Mơ-khô-la.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Con ông Ghe-ve tại Ra-mốt Ga-la-át; ông coi các thôn làng của ông Gia-ia con ông Mơ-na-se nằm trong miền Ga-la-át, và vùng đất Ác-gốp tại Ba-san, tất cả là sáu mươi thành lớn có tường vây và then cài bằng đồng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông A-khi-na-đáp, con ông Ít-đô, ở Ma-kha-na-gim.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông A-khi-ma-át tại Náp-ta-li; ông cũng cưới công chúa Ba-xơ-mát, ái nữ của vua Sa-lô-môn làm vợ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Ba-a-na, con ông Khu-sai, ở A-se và Bơ-a-lốt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Giơ-hô-sa-phát, con ông Pa-ru-ác, ở Ít-xa-kha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Sim-y, con ông Ê-la, ở Ben-gia-min.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Ghe-ve, con ông U-ri, trong đất Ga-la-át, đất của Xi-khôn vua dân E-mô-ri và Ốc vua Ba-san.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và trong xứ chỉ có một trưởng vùng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">05</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Các trưởng vùng này, mỗi người một tháng, cống hiến lương thực cho vua Sa-lô-môn và cho tất cả những người được lui tới bàn ăn của vua Sa-lô-môn, họ không để cho vua phải thiếu gì. <sup>8</sup> Lúa mạch và rơm rạ cho ngựa tải đồ và ngựa trận, nơi nào có nhu cầu, họ cũng phải cung cấp, theo mức quy định cho mỗi người. <sup>2</sup> Thực phẩm cung cấp cho vua Sa-lô-môn mỗi ngày là: sáu trăm thùng tinh bột, một ngàn hai trăm thùng bột thường, <sup>3</sup> mười con bò thịt và hai mươi con bò nuôi, một trăm con cừu, không kể nai, linh dương, sơn dương và chim gáy béo để ăn thịt. <sup>4</sup> Vì vua thống trị khắp Vùng bên kia Sông Cả, từ Típ-xác đến Ga-da, thống trị hết, các vua bên kia Sông Cả, và vua sống bình an với mọi vùng ranh giới chung quanh. <sup>5</sup> Giu-đa và Ít-ra-en được an cư, mỗi người dưới cây nho và cây vả của mình, từ Ðan tới Bơ-e Se-va trong suốt thời vua Sa-lô-môn cai trị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">04</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Giu-đa và Ít-ra-en thật đông dân, đông như cát ngoài bãi biển. Họ ăn, họ uống và vui sướng thoả thuê.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">05</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn có quyền trên tất cả các nước, từ Sông Cả đến đất của người Phi-li-tinh, và đến ranh giới Ai-cập. Họ phải triều cống và phục vụ vua Sa-lô-môn suốt đời vua. <sup> 6</sup> Vua Sa-lô-môn có bốn ngàn ngăn chuồng cho ngựa kéo và mười hai ngàn con ngựa cưỡi.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Danh tiếng vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Thiên Chúa cho vua Sa-lô-môn được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển. <sup>10</sup> Sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn trổi vượt hơn sự khôn ngoan của tất cả mọi người Phương Ðông và hơn tất cả sự khôn ngoan của Ai-cập. <sup>11</sup> Ông khôn ngoan hơn bất cứ ai, hơn ông Ê-than người Ét-ra, hơn ông Hê-man, ông Can-côn, ông Ðác-đa, ba người con của ông Ma-khôn; danh tiếng vua đồn ra khắp các dân tộc chung quanh. <sup>12</sup> Vua đọc được ba ngàn câu cách ngôn, và các bài ca của vua là một ngàn không trăm lẻ năm bài. <sup>13</sup> Vua nói về các thứ cây, từ cây bá hương ở Li-băng cho tới cây ngưu tất mọc ở bờ tường; vua cũng bàn tới các thú vật, các loài chim, các thứ rắn rết và các loại cá. <sup>14</sup> Từ mọi dân tộc, thiên hạ kéo tới nghe sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; vua nhận được tặng phẩm của tất cả các vua trên mặt đất đã nghe biết sự khôn ngoan của vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Sa-Lô-Môn, Con Người Xây Cất.</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuẩn bị xây Ðền Thờ </strong> (2 Sb 2:2-15)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Khi-ram, vua thành Tia, sai bề tôi của mình đến yết kiến vua Sa-lô-môn, khi vua biết ông được xức dầu phong vương kế vị thân phụ ông; vì vua Khi-ram vốn là bạn thân của vua Ða-vít lúc sinh thời. <sup>16</sup> Vua Sa-lô-môn sai sứ đi thưa với vua Khi-ram rằng: <sup>17</sup> &#8220;Ngài biết là Ða-vít thân phụ tôi không thể xây Ðền Thờ kính danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của người được, vì chiến tranh bao bọc tư bề, bao lâu Ðức Chúa chưa cho người đè bẹp quân thù dưới chân. <sup>18</sup> Nay thì Ðức Chúa cho tôi được bốn bề yên ổn, không có người chống đối, cũng chẳng gặp số phận rủi ro. <sup>19</sup> Vậy tôi nghĩ phải xây một Ðền Thờ kính danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi, như Ðức Chúa đã phán bảo Ða-vít thân phụ tôi rằng: &#8220;Con của ngươi, người Ta sẽ cho kế vị ngươi trên ngai báu, chính nó sẽ xây Ðền Thờ kính Danh Ta. <sup>20</sup> Vậy bây giờ, xin ngài ra lệnh đốn cho tôi những cây bá hương Li-băng. Bề tôi của tôi sẽ hợp tác với bề tôi của ngài, và tôi sẽ trả tiền công cho bề tôi của ngài, như ngài ấn định. Hẳn ngài đã rõ không ai trong chúng tôi biết đốn cây như người Xi-đôn.&#8221; <sup>21</sup> Khi nghe những lời của vua Sa-lô-môn, vua Khi-ram rất đỗi vui mừng và nói: &#8220;Hôm nay xin chúc tụng Ðức Chúa, vì Người đã ban cho Ða-vít một người con khôn ngoan cai trị dân đông đảo này.&#8221; <sup>22</sup> Rồi vua Khi-ram sai người đến nói với vua Sa-lô-môn: &#8220;Tôi đã nghe biết điều ngài sai sứ giả đến nói với tôi. Tôi sẽ thi hành mọi ước muốn của ngài về gỗ bá hương và gỗ trắc. <sup>23</sup> Bề tôi của tôi sẽ đưa những thứ đó từ Li-băng xuống biển; tôi sẽ đóng bè ngoài biển, chở tới chỗ ngài yêu cầu, ở đấy tôi sẽ phá bè và ngài sẽ lấy đi. Còn ngài, xin cũng thực hiện điều tôi ước muốn, là cung cấp thực phẩm cho triều đình tôi.&#8221; <sup>24</sup> Thế là vua Khi-ram cung cấp cho vua Sa-lô-môn tất cả gỗ bá hương và gỗ trắc như vua Sa-lô-môn muốn. <sup>25</sup> Và vua Sa-lô-môn trao cho vua Khi-ram bốn trăm ngàn thùng lúa miến làm lương thực cho triều đình của vua này, với bốn mươi ngàn thùng dầu nguyên chất. Vua Sa-lô-môn cung cấp cho vua Khi-ram như thế hằng năm. <sup>26</sup> Ðức Chúa cho vua Sa-lô-môn được khôn ngoan như Người đã phán với vua; vua Sa-lô-môn và vua Khi-ram giao hảo với nhau và hai bên đã kết ước.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Vua Sa-lô-môn ra lệnh cho toàn thể Ít-ra-en đi dân công: có ba mươi ngàn người đi dân công. <sup>28</sup> Vua sai họ thay phiên nhau đi Li-băng mỗi tháng mười ngàn người, họ ở Li-băng một tháng, rồi ở nhà hai tháng. Ông A-đô-ni-ram đặc trách dân công. <sup>29</sup> Vua Sa-lô-môn có bảy mươi ngàn phu khuân vác và tám mươi ngàn thợ đục đá trong núi, <sup>30</sup> không kể những người chỉ huy do các trưởng vùng của vua Sa-lô-môn đặt phụ trách công việc; số người này là ba ngàn ba trăm người: họ điều khiển dân chúng tiến hành công việc <sup>31</sup> Vua ra lệnh phải đẽo những phiến đá lớn, đá lựa riêng để xây nền móng Ðền thờ, được đục đẽo vuông vắn. <sup>32</sup> Thợ nề của vua Sa-lô-môn cùng với thợ nề của vua Khi-ram và những người Gơ-van đẽo và chuẩn bị sẵn sàng gỗ đá để xây Ðền Thờ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xây cất Ðền Thờ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Năm thứ bốn trăm tám mươi từ khi con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập, năm thứ tư triều đại vua Sa-lô-môn cai trị Ít-ra-en tháng Diu tức là tháng thứ hai, vua xây Ðền Thờ kính Ðức Chúa. <sup>2</sup> Ðền vua Sa-lô-môn xây kính Ðức Chúa dài ba mươi thước, rộng mười thước và cao mười lăm thước. <sup>3</sup> Tiền đình ở trước gian Cung Thánh của Ðền Thờ dài mười thước nằm theo chiều rộng của Ðền Thờ, rộng năm thước nằm theo chiều dài của Ðền Thờ. <sup>4</sup> Vua làm Ðền Thờ có cửa sổ với khung và chấn song. <sup>5</sup> Vua xây dựa vào tường Ðền Thờ một cái chái bọc các tường chung quanh gian Cung Thánh và Nơi Cực Thánh, và làm các tầng chái chung quanh. <sup>6</sup> Tầng dưới rộng hai thước rưỡi, tầng giữa rộng ba thước, và tầng thứ ba rộng ba thước rưỡi, vì chung quanh Ðền Thờ, phía ngoài, vua đã xây thụt vào để khỏi đóng đà vào tường Ðền Thờ. <sup>7</sup> Khi xây Ðền Thờ, người ta dùng đá đẽo toàn khối, đang khi xây, trong Ðền Thờ không hề nghe thấy tiếng búa tiếng rìu, hay bất cứ dụng cụ nào bằng sắt. <sup>8</sup> Cửa vào tầng giữa nằm bên hông phải Ðền Thờ, và người ta dùng thang xoáy đi lên tầng giữa; rồi từ tầng giữa lên tầng ba. <sup>9</sup> Khi xây Ðền Thờ xong, vua dùng gỗ bá hương chạm trổ mỹ thuật mà đóng trần Ðền Thờ. <sup>10</sup> Rồi vua xây hành lang chung quanh Ðền Thờ, cao hai thước rưỡi, và được nối liền với Ðền Thờ bằng những cái đà gỗ bá hương. <sup>11</sup> Có lời Ðức Chúa phán bảo vua Sa-lô-môn rằng: <sup>12</sup> &#8220;Vì Ðền Thờ ngươi đang xây đây, nếu ngươi tiến bước theo các giới răn, thực hành các huấn lệnh của Ta và tuân giữ các mệnh lệnh Ta truyền, mà bước theo các điều ấy, thì Ta sẽ thực hiện cho ngươi các lời Ta đã phán với Ða-vít, thân phụ ngươi. <sup>13</sup> Ta sẽ lưu ngự giữa con cái Ít-ra-en; Ta sẽ không bỏ Ít-ra-en, dân Ta.&#8221; <sup>14</sup> Vua Sa-lô-môn đã hoàn thành việc xây cất Ðền Thờ.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trần thiết bên trong &#8211; Nơi Cực Thánh</strong> (2 Sb 3:8-9)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Vua dùng ván bá hương ghép mặt trong của Ðền Thờ, từ nền cho tới đà của trần nhà; như thế toàn bộ mặt trong của Ðền Thờ được ghép gỗ; nền nhà thì vua lát ván gỗ trắc. <sup>16</sup> Vua dùng ván bá hương lát mười thước phần sau của Ðền Thờ, từ nền cho tới trần nhà; và dành phần đó làm Ðơ-via, tức là Nơi Cực Thánh. <sup>17</sup> Cung Thánh, tức là Hê-can, ở trước Ðơ-via, được hai mươi thước. <sup>18</sup> Gỗ bá hương ghép bên trong Cung Thánh được trạm trổ hình trái mướp đắng và nhành hoa; toàn là gỗ bá hương, chứ không thấy đá. <sup>19</sup> Vua lập một Nơi Cực Thánh ở giữa Ðền Thờ, phía trong, để đặt Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa. <sup>20</sup> Nơi Cực Thánh dài mười thước, rộng mười thước, và cao mười thước, và vua dát vàng ròng; vua cũng làm bàn thờ bằng gỗ bá hương. <sup>21</sup> Vua Sa-lô-môn dát vàng ròng phía trong Cung Thánh, trước Nơi Cực Thánh vua cũng dát vàng. <sup>22</sup> Tất cả Ðền Thờ vua đều dát vàng, không trừ một chỗ nào; bàn thờ Nơi Cực Thánh vua cũng dát toàn vàng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các Kê-ru-bim</strong> (2 Sb 3:10 -14)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Trong Nơi Cực Thánh vua làm hai Kê-ru-bim bằng gỗ ô-liu, cao năm thước. <sup>24</sup> Một cánh của một Kê-ru-bim dài hai thước rưỡi, cánh kia cũng hai thước rưỡi; thành ra từ đầu cánh này tới đầu cánh kia là năm thước. <sup>25</sup> Kê-ru-bim thứ hai cũng đo được năm thước; hai Kê-ru-bim có một kích thước và hình thể như nhau. <sup>26</sup> Chiều cao của một Kê-ru-bim là năm thước; Kê-ru-bim thứ hai cũng thế. <sup>27</sup> Vua đặt các Kê-ru-bim ở giữa Nhà, phía bên trong; cánh xoè ra: một cánh của Kê-ru-bim thứ nhất đụng tường bên này, và một cánh của Kê-ru-bim thứ hai đụng tường bên kia; hai cánh khác giao nhau ở giữa Nhà, cánh nọ chạm cánh kia. <sup>28</sup> Vua cũng dát vàng các Kê-ru-bim. <sup>29</sup> Trên khắp các tường chung quanh Nhà, vua chạm trổ những hình Kê-ru-bim, hình cây chà là và nhành hoa, cả trong lẫn ngoài. <sup>30</sup> Sàn Nhà, vua cũng dát vàng, cả phía trong lẫn phía ngoài.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cửa &#8211; Sân</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ở lối vào Nơi Cực Thánh, vua làm cánh cửa bằng gỗ ô-liu quý, khung cửa có năm cạnh. <sup>32</sup> Trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu, vua chạm trổ những hình Kê-ru-bim, hình cây chà là và nhành hoa, rồi vua dát vàng; vua trải mỏng vàng trên các Kê-ru-bim và các cây chà là. <sup>33</sup> Cửa vào Cung Thánh, vua cũng làm như thế; trụ khung cửa bằng gỗ ô-liu, nhưng có bốn cạnh, <sup>34</sup> hai cánh cửa bằng gỗ trắc: một cánh có hai tấm xoay được, và cánh kia cũng có hai tấm xoay được. <sup>35</sup> Vua chạm trổ hình Kê-ru-bim, hình cây chà là và nhành hoa, và dát vàng hoàn toàn khít với hình nổi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Vua xây sân trong: ba hàng đá, đục đẽo mỹ thuật và một hàng thanh gỗ trắc.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời gian xây Ðền Thờ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Năm thứ tư, tháng Diu, người ta đặt nền móng Ðền Thờ Ðức Chúa; <sup>38</sup> năm thứ mười một, tháng Bun, tức là tháng thứ tám, công trình xây cất Ðền Thờ, cả quy mô lẫn chi tiết, đều được hoàn thành. Vua đã xây cất Ðền Thờ trong bảy năm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cung điện vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn xây dựng cung điện của mình mất mười ba năm mới xong. <sup>2</sup> Vua đã xây Cung Rừng Li-băng, dài năm mươi thước, rộng hai mươi lăm thước, cao mười lăm thước, với bốn hàng cột bằng gỗ bá hương; trên các cột có ghép các thanh gỗ bá hương. <sup>3</sup> Trần nhà bằng gỗ bá hương được đặt trên bốn mươi lăm chiếc đà, mỗi khoang mười lăm chiếc, có cột chống đỡ. <sup>4</sup> Ba hàng cửa sổ, hàng này đối diện với hàng kia, thành bộ ba. <sup>5</sup> Tất cả các cửa và khung cửa đều có bốn cạnh, bên này đối diện với bên kia, thành bộ ba. <sup>6</sup> Vua cũng làm hành lang nhiều cột, dài hai mươi lăm thước, rộng mười lăm thước, và phía mặt tiền hành lang có một mái hiên với tường hoa. <sup>7</sup> Vua còn làm hành lang đặt ngai vàng, là nơi vua xét xử, và cũng là hành lang công lý, được ghép gỗ bá hương từ sàn tới mái nhà. <sup>8</sup> Và cung điện nơi vua cư ngụ cũng như sân bên trong hành lang, đều cùng một kiểu như nhau. Còn phòng vua làm cho ái nữ Pha-ra-ô mà vua đã cưới làm vợ, thì cũng giống như các hành lang ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Tất cả đều bằng đá phiến, đẽo gọt theo kích thước và xẻ bằng cưa, bên trong cũng như bên ngoài, từ nền cho tới kèo nhà. <sup>10</sup> Nền nhà lát đá hảo hạng, đá lớn, đá rộng năm thước và đá rộng bốn thước.11 Phần trên thì bằng đá quý, đẽo gọt theo kích thước và bằng gỗ bá hương. <sup>12</sup> Chung quanh sân lớn có ba hàng đá đẽo và một hàng ván bá hương; sân trong Ðền Thờ Ðức Chúa và tiền đình cung điện cũng vậy.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông thợ đồng Khi-ram</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Vua Sa-lô-môn sai người đi Tia mời ông Khi-ram đến; <sup>14</sup> ông là con một bà goá thuộc chi tộc Náp-ta-li; thân phụ ông là người Tia và làm thợ gò đồng. Ông rất khôn ngoan, thành thạo và tài khéo trong mọi công việc thuộc nghề đồng. Vậy ông vào chầu vua Sa-lô-môn và làm mọi công việc của vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các trụ đồng</strong> (2 Sb 3:15 -17)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông đúc hai trụ đồng; trụ thứ nhất cao chín thước; lấy dây mà đo chu vi trụ thì được sáu thước; trụ thứ hai cũng thế. <sup>16</sup> Ông đúc hai đầu trụ bằng đồng, để đặt trên các trụ, chiều cao của đầu trụ thứ nhất là hai thước rưỡi, chiều cao của đầu trụ thứ hai cũng hai thước rưỡi. <sup>17</sup> Ông làm những màng lưới mắt cáo, kiểu lưới bằng thừng xoắn lại, kết thành những dây hoa đeo lên đầu trụ nằm trên đỉnh trụ, bảy dây hoa cho đầu trụ thứ nhất và bảy dây hoa cho đầu trụ thứ hai. <sup>18</sup> Ông làm hai hàng trái thạch lựu chung quanh lưới mắt cáo bọc đầu trụ nằm trên đỉnh trụ, và đầu trụ thứ hai ông cũng làm như thế. <sup>19</sup> Còn các đầu trụ trên đỉnh trụ thì ông làm tất cả theo hình bông huệ, dài hai thước. <sup>20</sup> Phần thượng các đầu trụ trên hai trụ, sát với bầu trụ, ông cũng làm một hàng hai trăm trái thạch lựu chung quanh cả hai đầu trụ. <sup>21</sup> Ông dựng cột tiền đình của Cung Thánh, ông dựng cột bên phải và đặt tên là Gia-khin, rồi dựng cột bên trái và gọi là Bô-át. <sup>22</sup> Trên đầu các cột ông làm hình bông huệ. Công việc làm cột thế là hoàn tất.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bể nước bằng đồng</strong> (2 Sb 4:2-5)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ông đúc một bể nước rộng năm thước từ mép nọ tới mép kia, hình tròn, cao hai thước rưỡi; lấy dây mà đo chu vi của bể thì được mười lăm thước. <sup>24</sup> Bên dưới mép bể có những hình trái mướp đắng chạy vòng quanh bể, cứ nửa thước là mười trái, khắp chung quanh bể; hai hàng trái mướp đắng cùng đúc một lượt với bể. <sup>25</sup> Bể được đặt trên mười hai con bò: ba con quay mặt về hướng Bắc, ba con quay mặt về hướng Tây, ba con quay mặt về hướng Nam, và ba con quay mặt về hướng Ðông; bể đặt bên trên chúng, và các phần mông của chúng đều quay vào trong. <sup>26</sup> Chiều dày của bể là một tấc, và mép nó giống như mép một cái chén hình hoa huệ. Bể chứa được bốn ngàn thùng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giàn lăn và bồn nước bằng đồng</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ông làm mười giàn bằng đồng; mỗi cái dài hai thước, rộng hai thước và cao một thước rưỡi. <sup>28</sup> Các giàn ấy được làm như thế này: giàn có những đòn ngang ghép thành khung. <sup>29</sup> Trên những đòn ngang ghép thành khung ấy có khắc hình sư tử, bò và Kê-ru-bim; trên các khung, phía trên phía dưới các con sư tử và bò có những nhành hoa rủ xuống như đeo. <sup>30</sup> Mỗi giàn có bốn bánh xe bằng đồng, với những cái trục; bốn chân của nó có bờ vai đỡ bồn nước; các bờ vai này đều được đúc và bên kia mỗi bờ vai là những nhành hoa. <sup>31</sup> Bên trong vòng là cái miệng giàn cao nửa thước; miệng nó tròn, đo được bảy tấc rưỡi. Trên miệng nó cũng có những hình nổi. Các đòn ngang thì lại vuông chứ không tròn. <sup>32</sup> Bên dưới các đòn ngang có bốn bánh xe; các chốt bánh xe được gắn với giàn; chiều cao của mỗi bánh xe là bảy tấc rưỡi. <sup>33</sup> Người ta làm các bánh xe này cũng như bánh xe thường; chốt, vành, thang bánh xe và đùm bánh xe, tất cả đều đúc. <sup>34</sup> Có bốn bờ vai ở bốn góc của mỗi giàn; các bờ vai này được gắn thành một với giàn. <sup>35</sup> Trên đỉnh giàn có một vòng tròn cao hai tấc rưỡi; trên đỉnh giàn những cái mộng và các đòn ngang làm thành một khối với giàn. <sup>36</sup> Trên mặt các mộng, ông trạm trổ hình các Kê-ru-bim, sư tử và những trái chà là; giữa khoảng cách mỗi vật có những nhành hoa chạy chung quanh. <sup>37</sup> Ông làm mười giàn đều như thế: cùng đúc một kiểu, một kích thước, một hình thể như nhau.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Ông làm mười bồn nước bằng đồng; mỗi bồn chứa được tám mươi thùng, và mỗi bồn cao hai thước; mỗi bồn được đặt trên một trong mười giàn. <sup>39</sup> Ông đặt năm giàn bên hông phải Ðền Thờ và năm giàn bên hông trái; còn bể thì ông đặt bên phải Ðền Thờ, hướng đông nam.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vật dụng trong Ðền Thờ &#8211; Tóm lược</strong> (2 Sb 4:11 -5:1)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Ông Khi-ram làm những chiếc vạc, những cái xẻng và bình rảy. Ông Khi-ram hoàn thành tất cả công trình mà ông đã thực hiện cho vua Sa-lô-môn trong Ðền Thờ Ðức Chúa:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Hai trụ, các bầu của các đầu trụ trên hai đỉnh trụ, hai màng lưới bọc hai bầu của các đầu trụ trên đỉnh trụ. <sup>42</sup> Bốn trăm trái thạch lựu cho hai màng lưới, mỗi màng lưới hai hàng thạch lựu, để bọc hai bầu của các đầu trụ trên đỉnh trụ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Mười cái giàn và mười cái bồn đặt trên giàn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Một cái bể và mười hai con bò đỡ phía dưới.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> Những cái vạc, xẻng và bình rảy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Vua đúc các vật ấy tại đồng bằng Gio-đan, trên mặt đất sét, giữa Xúc-cốt và Xác-than. <sup>47</sup> Vua Sa-lô-môn xếp đặt tất cả các vật ấy, chúng nhiều vô kể, nên không tính được số lượng đồng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Vua Sa-lô-môn đã làm tất cả các vật dụng cho Ðền Thờ Ðức Chúa: bàn thờ bằng vàng, bàn đặt bánh tiến cũng bằng vàng. <sup>49</sup> Các chân đèn: năm chiếc bên phải và năm chiếc bên trái, trước Nơi Cực Thánh, tất cả bằng vàng ròng; hoa, đèn, kéo cắt bấc đều bằng vàng; <sup>50</sup> chén, dao, bình rảy, bình hương, khay đựng tro bằng vàng ròng; các chốt cánh cửa Ðền Thờ bên trong, tức là Nơi Cực Thánh, và các chốt cánh cửa Ðền Thờ, tức là Cung Thánh, cũng bằng vàng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>51</sup> Thế là hoàn thành toàn bộ công trình mà vua Sa-lô-môn đã thực hiện cho Ðền Thờ Ðức Chúa. Vua Sa-lô-môn đưa vào đó các vật thánh mà vua Ða-vít, thân phụ ông đã dâng: bạc, vàng, các vật dụng; vua đặt các vật ấy trong kho Ðền Thờ Ðức Chúa.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Di chuyển Hòm Bia Giao Ước</strong> (2 Sb 5:2-10)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bấy giờ vua Sa-lô-môn triệu tập bên mình, tại Giê-ru-sa-lem, các kỳ mục Ít-ra-en, gồm tất cả các người đứng đầu các chi tộc cùng các trưởng tộc con cái Ít-ra-en, để đưa Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa lên, từ Thành vua Ða-vít tức là Xi-on. <sup>2</sup> Mọi người Ít-ra-en tập hợp lại bên vua Sa-lô-môn trong tháng Ê-ta-nim tức là tháng thứ bảy để mừng Lễ. <sup>3</sup> Tất cả các kỳ mục Ít-ra-en đều tới; các tư tế thì khiêng Hòm Bia, <sup>4</sup> và đưa Hòm Bia của Ðức Chúa cũng như Lều Hội Ngộ và tất cả các vật dụng thánh trong Lều lên. Các tư tế và các thầy Lê-vi đưa những thứ ấy lên. <sup>5</sup> Vua Sa-lô-môn và toàn thể cộng đồng Ít-ra-en tụ họp lại bên cạnh vua trước Hòm Bia, sát tế chiên bò nhiều vô kể, không sao đếm nổi. <sup>6</sup> Các tư tế đưa Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa vào nơi đã dành sẵn trong cung Ðơ-via của Ðền Thờ, tức là Nơi Cực Thánh, dưới cánh các Kê-ru-bim. <sup>7</sup> Quả vậy, các Kê-ru-bim xoè cánh ra bên trên Hòm Bia, che phía trên Hòm Bia và các đòn khiêng. <sup>8</sup> Các đòn này dài đến nỗi từ Cung Thánh, trước Nơi Cực Thánh, có thể nhìn thấy các đầu đòn, nhưng từ bên ngoài thì không thấy được. Các đòn này vẫn còn đó cho tới ngày nay. <sup>9</sup> Trong Hòm Bia không có gì ngoài hai Bia đá ông Mô-sê đã đặt vào đó, trên núi Khô-rếp, khi Ðức Chúa lập Giao Ước với con cái Ít-ra-en vào thời họ ra khỏi đất Ai-cập.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa ngự xuống Ðền Thờ </strong>(2 Sb 5:11-6:2)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi các tư tế ra khỏi Cung Thánh, thì có đám mây toả đầy Ðền Thờ Ðức Chúa. <sup>11</sup> Các tư tế không thể tiếp tục thi hành nhiệm vụ được vì đám mây: quả thật, vinh quang Ðức Chúa đã tràn ngập Ðền Thờ Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Bấy giờ vua Sa-lô-môn nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ðức Chúa đã phán: Người sẽ ngự trong đám mây dày đặc. Vâng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Con đã xây cho Ngài một ngôi nhà cao sang. Một nơi để Ngài ngự muôn đời.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-lô-môn hiệu triệu dân chúng</strong> (2Sb 6 :3-11)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Rồi vua quay mặt lại chúc lành cho toàn thể cộng đồng Ít-ra-en, trong khi cả cộng đồng Ít-ra-en đều đứng. <sup>15</sup> Vua nói: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, Ðấng đã ra tay hoàn thành điều chính miệng Người đã phán với Ða-vít, thân phụ ta, rằng: <sup>16</sup> &#8220;Từ ngày Ta đưa Ít-ra-en dân Ta ra khỏi Ai-cập, Ta đã không chọn một thành nào trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en để xây một ngôi nhà kính Danh Ta ở đó, nhưng Ta đã chọn Ða-vít đứng đầu Ít-ra-en dân Ta. <sup>17</sup> Vậy Ða-vít thân phụ ta đã có ý xây một ngôi nhà để kính Danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en. <sup>18</sup> Nhưng Ðức Chúa lại phán với Ða-vít thân phụ ta: &#8220;Ngươi định tâm xây một ngôi nhà để kính Danh Ta; ngươi định tâm như thế là tốt. <sup>19</sup> Có điều là ngươi sẽ không xây nhà ấy, mà con của ngươi, kẻ từ lòng ngươi sinh ra, chính nó sẽ xây nhà để kính Danh Ta. <sup>20</sup> Ðức Chúa đã thực hiện lời Người phán; ta đã lên kế vị Ða-vít thân phụ ta và ngồi trên ngai Ít-ra-en, như Ðức Chúa đã phán; ta đã xây nhà để kính Danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en; <sup>21</sup> tại đó, ta đã chỉ định một nơi để đặt Hòm Bia có Giao Ước của Ðức Chúa, giao ước Người đã thiết lập với cha ông chúng ta, khi Người đưa họ ra khỏi đất Ai-cập.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-lô-môn cầu nguyện</strong> (2 Sb 6:12 -20)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Vua Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ của Ðức Chúa, trước toàn thể cộng đồng Ít-ra-en, giơ hai tay lên trời và <sup>23</sup> thưa: &#8220;Lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, chốn trời cao cũng như nơi đất thấp, chẳng có thần nào giống như Ngài. Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với các tôi tớ Ngài, khi họ hết lòng bước đi trước nhan Ngài. <sup>24</sup> Ngài đã giữ lời Ngài đã phán tôi tớ Ngài là Ða-vít thân phụ con, vì điều chính miệng Ngài phán, thì tay Ngài đã thực hiện, như thấy hôm nay. <sup>25</sup> Giờ đây, lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, xin Ngài cũng giữ điều Ngài đã hứa với tôi tớ Ngài là Ða-vít thân phụ con là: &#8220;Bao lâu con cái ngươi giữ đúng đường lối của chúng, là bước đi trước nhan Ta như ngươi đã bước đi trước nhan Ta, thì ngươi sẽ không bao giờ thiếu người ngồi trên ngai báu Ít-ra-en. <sup>26</sup> Vậy, lạy Thiên Chúa của Ít-ra-en, xin thực hiện lời Ngài đã phán với Ða-vít thân phụ con. <sup>27</sup> Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây! <sup>28</sup> Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của con! Xin đoái đến lời tôi tớ Chúa cầu xin khẩn nguyện, mà lắng nghe tiếng kêu cầu của tôi tớ Ngài dâng trước tôn nhan hôm nay. <sup>29</sup> Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà này đêm ngày, nhìn đến nơi này, vì Ngài đã phán &#8220;Danh Ta sẽ ở đấy&#8221;; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở nơi đây.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cầu cho dân</strong> (2 Sb 6:21 -31)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Xin nghe lời nài van của tôi tớ Ngài và của Ít-ra-en dân Ngài dâng lên ở nơi đây. Từ trời, nơi Ngài ngự, xin lắng nghe; xin lắng nghe và tha thứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Nếu có ai xúc phạm đến đồng loại, và người ta lấy lời thề độc mà buộc nó phải đến thề trước Bàn Thờ của Ngài trong Ðền Thờ này, <sup>32</sup> thì từ trời xin Ngài lắng nghe và hành động; xin phân xử cho các tôi tớ Ngài, là lên án kẻ có lỗi mà bắt nó phải cúi đầu chịu tội; còn người vô tội thì Ngài minh oan cho họ được vô can.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Nếu Ít-ra-en dân Ngài bị quân thù đánh bại vì đã xúc phạm đến Ngài, và nếu họ trở lại với Ngài mà tuyên xưng Danh Ngài và cầu xin, khẩn nài trong Ðền Thờ này, <sup>34</sup> thì từ trời xin Ngài lắng nghe, thứ tha tội lỗi Ít-ra-en dân Ngài và đưa họ về đất Ngài đã ban cho cha ông họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Khi trời đóng lại và không có mưa vì họ đã xúc phạm đến Ngài, nếu họ cầu nguyện nơi đây, tuyên xưng Danh Ngài, bỏ tội lỗi mà trở về, vì Ngài đã làm cho họ khổ cực, <sup>36</sup> thì từ trời xin Ngài lắng nghe và tha thứ tội lỗi cho các tôi tớ Ngài và cho Ít-ra-en dân Ngài, để họ thấy con đường lành phải theo, và xin cho mưa nhuần tưới xuống trên phần đất Ngài đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Khi trong xứ có nạn đói kém, dịch hạch, khi mùa màng hư hoại, khi có nạn châu chấu cào cào, khi quân thù vây hãm một thành nào của họ, trong bất cứ tai hoạ hay bệnh tật nào; <sup>38</sup> mọi lời cầu nguyện, khấn xin của bất cứ ai hoặc toàn thể Ít-ra-en dân Ngài dâng lên, vì thấy lương tâm cắn rứt mà giơ tay hướng về Ðền Thờ này, <sup>39</sup> thì từ trời là nơi Ngài ngự, xin Ngài lắng nghe và tha thứ; xin Ngài hành động và ban ơn cho mỗi người tuỳ theo lối sống của họ, bởi vì Ngài biết lòng họ, quả thật chỉ mình Ngài biết rõ lòng con cái loài người, <sup>40</sup> ngõ hầu họ kính sợ Ngài, bao lâu họ còn sống trên phần đất mà Ngài đã ban cho cha ông chúng con.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phụ trương</strong> (2 Sb 6:32 -39)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Ngay cả với người ngoại kiều, không thuộc về Ít-ra-en dân Ngài, nếu nó từ phương xa tới vì Danh Ngài, &#8211; <sup>42</sup> vì người ta sẽ nghe biết Danh Ngài cao cả, bàn tay Ngài dũng mãnh và cánh tay Ngài giương cao -, nếu nó đến cầu nguyện trong Ðền Thờ này, <sup>43</sup> thì từ trời nơi Ngài ngự xin Ngài lắng nghe và thực hiện mọi điều kẻ ngoại kiều ấy kêu xin, để cho mọi dân trên mặt đất nhận biết Danh Ngài và kính sợ Ngài, như Ít-ra-en dân Ngài và để họ biết là Danh Ngài được kêu cầu nơi Ðền Thờ con đã xây lên đây.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Nếu dân Ngài xuất trận chống quân thù theo đường lối Ngài sai họ đi, và nếu họ cầu nguyện với Ðức Chúa, hướng về kinh thành Ngài đã chọn, và Ðền Thờ con đã xây kính Danh Ngài, <sup>45</sup> thì từ trời xin Ngài nghe lời họ cầu nguyện van xin mà xét xử công minh cho họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Nếu họ xúc phạm đến Ngài &#8211; thật thì không người nào mà không phạm tội -, khiến Ngài phải thịnh nộ với họ, mà trao họ cho địch, và những kẻ chiến thắng đày họ sang một xứ thù địch, xa hay gần; <sup>47</sup> nhưng rồi trên đất lưu đày, họ hồi tâm trở lại và van xin Ngài trên đất lưu đày rằng: &#8220;Chúng con đã phạm tội, đã làm điều gian ác, chúng con thật đáng tội! <sup>48</sup> Nếu trên đất địch, nơi họ bị lưu đày, họ hết lòng hết sức trở về với Ngài, và cầu nguyện với Ngài; hướng về xứ sở Ngài đã ban cho tổ tiên họ, về kinh thành Ngài đã chọn, và Ðền Thờ con đã xây kính Danh Ngài, <sup>49</sup> thì từ trời, nơi Ngài ngự, xin Ngài nghe lời họ cầu nguyện van xin mà xét xử công minh cho họ, <sup>50</sup> và tha cho dân tội xúc phạm đến Ngài cũng như mọi tội phản bội đối với Ngài; xin Ngài tỏ lòng thương xót họ trước mặt quân chiến thắng, khiến chúng cũng phải thương xót họ, <sup>51</sup> vì họ là dân, là gia nghiệp của Ngài, gia nghiệp Ngài đã đưa ra từ Ai-cập, từ giữa lò nung sắt.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết thúc lời nguyện &#8211; Chúc lành cho dân</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> Vậy, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, xin ghé mắt nhìn đến tôi tớ Ngài đang nài van, đến Ít-ra-en dân Ngài đang cầu nguyện, mà lắng nghe mọi điều họ kêu xin, <sup>53</sup> vì, từ giữa mọi dân tộc trên mặt đất, Ngài đã tách họ ra làm sản nghiệp riêng, như Ngài đã dùng ông Mô-sê tôi tớ Ngài mà phán, khi đưa cha ông chúng con ra khỏi Ai-cập.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>54</sup> Sau khi dâng tất cả những lời cầu nguyện và nài van ấy lên Ðức Chúa, thì vua Sa-lô-môn phủ phục rồi đứng lên trước bàn thờ Ðức Chúa, giơ hai tay lên trời, <sup>55</sup> quay xuống, cất lớn tiếng chúc lành cho toàn thể cộng đoàn Ít-ra-en: <sup>56</sup> &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa, Ðấng đã ban cho Ít-ra-en dân Người được nghỉ ngơi, đúng y như Người đã phán, không sai một lời nào trong tất cả những lời tốt lành Người đã dùng ông Mô-sê, tôi tớ Người, mà phán. <sup>57</sup> Xin Ðức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, ở cùng chúng ta như Người đã ở với tổ tiên chúng ta; xin Người đừng để mặc, cũng đừng bỏ rơi chúng ta, <sup>58</sup> nhưng xin hướng lòng chúng ta về với Người, để chúng ta bước đi trên mọi nẻo đường của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, giới răn và luật pháp Người đã truyền cho tổ tiên chúng ta. <sup>59</sup> Ước chi những lời ta khẩn khoản dâng lên Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta ở trước Tôn Nhan Người đêm ngày, để Người bênh vực quyền lợi tôi tớ Người và quyền lợi Ít-ra-en dân Người, ngày này qua ngày khác. <sup>60</sup> Như thế mọi dân trên mặt đất sẽ nhìn nhận Ðức Chúa chính là Thiên Chúa, không có Chúa nào khác. <sup>61</sup> Các ngươi phải hết lòng với Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta mà bước đi theo các giới răn và tuân giữ các mệnh lệnh của Người như ngày hôm nay.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hiến tế trong ngày Cung hiến Ðền Thờ </strong>(2Sb 7 :4-10)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>62</sup> Vua cùng toàn thể Ít-ra-en dâng hy lễ trước nhan Ðức Chúa. <sup>63</sup> Vua Sa-lô-môn sát tế hai mươi hai ngàn con bò và một trăm hai mươi ngàn con chiên làm lễ kỳ an dâng lên Ðức Chúa; vua và toàn thể con cái Ít-ra-en cung hiến Ðền Thờ Ðức Chúa. <sup>64</sup> Ngày hôm ấy, vua thánh hiến phần giữa của Tiền đình ở trước Nhà Ðức Chúa; chính tại đây, vua dâng lễ toàn thiêu, lễ phẩm và mỡ của lễ kỳ an, vì bàn thờ bằng đồng trước nhan Ðức Chúa quá nhỏ không đủ chứa lễ toàn thiêu, lễ phẩm và mỡ của lễ kỳ an. <sup>65</sup> Dịp này, vua Sa-lô-môn cùng với toàn thể Ít-ra-en mừng lễ trước nhan Ðức Chúa là Thiên Chúa chúng ta trong bảy ngày, rồi bảy ngày nữa là mười bốn ngày. Thật là một công hội vĩ đại quy tụ từ lối vào Cửa Ải Kha-mát tới suối Ai-cập. <sup>66</sup> Ngày thứ tám, vua giải tán dân. Họ cầu chúc vua khang an rồi ai nấy trở về lều mình, lòng vui mừng hân hoan vì mọi sự tốt lành Ðức Chúa đã làm cho Ða-vít tôi tớ Người và Ít-ra-en dân Người.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa lại hiện ra với vua Sa-lô-môn</strong> (2 Sb 7:11 -22)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau khi vua Sa-lô-môn hoàn tất việc xây Ðền Thờ Ðức Chúa và cung điện nhà vua, cùng mọi công trình vua dự tính, <sup>2</sup> thì Ðức Chúa lại hiện ra với vua lần thứ hai, giống y như lần hiện ra với vua ở Ghíp-ôn. <sup>3</sup> Ðức Chúa phán với vua: &#8220;Ta đã nghe lời ngươi cầu nguyện và van nài trước nhan Ta; Ta đã thánh hoá ngôi nhà này mà ngươi đã xây để cho Danh Ta ngự ở đó muôn đời; Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đấy mọi ngày. <sup>4</sup> Còn ngươi, nếu ngươi bước đi trước nhan Ta, như Ða-vít thân phụ ngươi, với tâm hồn trong sạch và ngay thẳng, mà thi hành mọi điều Ta truyền cho ngươi và tuân giữ các giới răn và luật pháp của Ta, <sup>5</sup> thì Ta sẽ củng cố ngai vàng của ngươi trên Ít-ra-en đến muôn đời, như Ta đã hứa với Ða-vít, thân phụ ngươi, rằng: &#8220;Ngươi sẽ không thiếu người ngự trên ngai Ít-ra-en&#8221;. <sup>6</sup> Nhưng nếu các ngươi và con cháu các ngươi tráo trở bỏ đường lối của Ta, không giữ các mệnh lệnh, các giới răn Ta đã đặt cho các ngươi, lại đi làm tôi các thần ngoại và thờ lạy chúng, <sup>7</sup> thì Ta sẽ tiêu diệt Ít-ra-en khỏi phần đất mà Ta đã ban cho chúng; còn Ðền Thờ Ta đã thánh hoá để kính Danh Ta, Ta sẽ loại trừ khỏi nhan Ta, và Ít-ra-en sẽ thành bia miệng cho mọi dân tộc đàm tiếu; <sup>8</sup> Ðền Thờ này sẽ thành đống hoang tàn, khiến mọi kẻ qua lại phải sững sờ, huýt sáo mà nói: &#8220;Tại sao Ðức Chúa đã xử như thế với đất nước và Ðền Thờ này? <sup>9</sup> Người ta sẽ trả lời: Tại chúng đã bỏ Ðức Chúa Thiên Chúa của chúng, Ðấng đã đưa tổ tiên chúng ra khỏi đất Ai-cập; chúng đã gắn bó với các thần ngoại, sụp lạy và làm tôi các thần ấy, nên Ðức Chúa đã giáng xuống trên chúng tất cả tai hoạ này.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Buôn bán với vua Khi-ram</strong> (2 Sm 8:1-2)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Trong hai mươi năm vua Sa-lô-môn xây hai ngôi nhà, là Ðền Thờ Ðức Chúa và cung điện nhà vua, <sup>11</sup> thì Khi-ram vua Tia cung cấp cho vua Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ trắc và vàng tuỳ thích; còn vua Sa-lô-môn thì trao cho vua Khi-ram hai mươi thành trong miền Ga-li-lê. <sup>12</sup> Từ Tia vua Khi-ram đi ra xem các thành vua Sa-lô-môn đã trao cho, nhưng vua không thích các thành ấy. <sup>13</sup> Vua nói: &#8220;Này ông anh, thành gì mà ông cho tôi vậy? &#8221; Rồi vua gọi các thành ấy là &#8220;đất Ca-vun&#8221; cho tới ngày nay. <sup>14</sup> Vua Khi-ram gửi tới cho vua Sa-lô-môn ba ngàn sáu trăm ký vàng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân công để xây cất</strong> (2 Sb 8:3-11)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ðây là dịch vụ dân công vua Sa-lô-môn đã đặt ra để xây Ðền Thờ Ðức Chúa, cung điện của mình, công trình Mi-lô, tường thành Giê-ru-sa-lem, Kha-xo, Mơ-ghít-đô và Ghe-de. <sup>16</sup> Pha-ra-ô vua Ai-cập đã tiến quân chiếm Ghe-de, thiêu huỷ thành và sát hại dân Ca-na-an cư ngụ ở đó; rồi vua tặng làm của hồi môn cho ái nữ là phu nhân của vua Sa-lô-môn. <sup>17</sup> Vua Sa-lô-môn xây dựng lại Ghe-de và Bết Khô-rôn Hạ,18 rồi Ba-a-lát và Ta-ma ở sa mạc, trong xứ, <sup>19</sup> và tất cả các thành làm kho dự trữ mà vua Sa-lô-môn sẵn có, các thành giữ xe trận, các thành nuôi ngựa và tất cả những gì vua Sa-lô-môn muốn xây cất ở Giê-ru-sa-lem, ở Li-băng và trong toàn lãnh thổ thuộc quyền vua. <sup>20</sup> Tất cả những người còn sót lại thuộc các dân E-mô-ri, Khết, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút, những người không phải là con cái Ít-ra-en, <sup>21</sup> những người này đã để lại con cháu chúng trong xứ, vì con cái Ít-ra-en không tiêu diệt hết được. Vua Sa-lô-môn bắt tất cả những người đó phải lao động khổ sai đến ngày nay. <sup>22</sup> Phần con cái Ít-ra-en vua Sa-lô-môn không bắt ai phải làm nô dịch cho vua; họ là những chiến sĩ, những cận thần, những tướng lãnh, những viên chức, những người chỉ huy chiến xa và kỵ binh của vua. <sup>23</sup> Họ chỉ huy các đốc công phụ trách công trình của vua Sa-lô-môn, tất cả là năm trăm năm mươi người, giám sát dân chúng làm việc trong các công trình. <sup>24</sup> Khi công chúa của Pha-ra-ô từ Thành Ða-vít lên cung điện đã xây cho bà, thì vua Sa-lô-môn bắt đầu xây công trình Mi-lô.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phục vụ Ðền Thờ </strong> (2 Sb 8:12 -16)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Mỗi năm ba lần, vua Sa-lô-môn dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an trên bàn thờ vua đã dựng lên để kính Ðức Chúa; vua thường đốt hương trên bàn thờ trước nhan Ðức Chúa. Thế là vua chu toàn bổn phận đối với Ðền Thờ.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Vua Sa-Lô-Môn, Nhà Kinh Doanh</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-lô-môn, người tổ chức thương thuyền</strong> (2 Sb 8:17 -18)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ngoài ra, vua Sa-lô-môn còn trang bị một đoàn tàu tại E-xi-ôn Ghe-ve, gần Ê-lát, bên bờ Biển Sậy trong đất Ê-đôm. <sup>27</sup> Vua Khi-ram phái tới đoàn tàu các tôi tớ của mình là những thủy thủ thạo nghề biển, cùng với các tôi tớ của vua Sa-lô-môn. <sup>28</sup> Họ đi Ô-phia, mang vàng về và nộp cho vua Sa-lô-môn, tất cả là mười hai tấn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc viếng thăm của nữ hoàng Sơ-va</strong> (2 Sb 9:1-12)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nữ hoàng Sơ-va nghe biết vua Sa-lô-môn nổi tiếng vì danh Ðức Chúa, thì đến đặt câu đố để thử tài vua. <sup>2</sup> Bà đến Giê-ru-sa-lem cùng với đoàn tuỳ tùng đông đảo, nhiều lạc đà chở đầy hương liệu, và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý. Bà vào hội kiến với vua Sa-lô-môn và nói với vua tất cả những gì bà suy nghĩ trong lòng. <sup>3</sup> Vua Sa-lô-môn giải đáp tất cả những vấn đề bà đưa ra; không có chuyện gì là bí ẩn mà vua không giải đáp được cho bà. <sup>4</sup> Nữ hoàng Sơ-va thấy tất cả sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn và cung điện vua đã xây, <sup>5</sup> những món ăn trên bàn của vua, dinh thự của quần thần, cung cách và trang phục của họ, các thứ rượu của vua, các lễ toàn thiêu vua tiến dâng tại Ðền Thờ Ðức Chúa, bà hết hồn, <sup>6</sup> bà nói với vua: &#8220;Những điều tôi đã nghe nói ở nước tôi về ngài và sự khôn ngoan của ngài quả là sự thật. <sup>7</sup> Tôi đã không tin những điều người ta nói, cho tới khi tôi đến và thấy tận mắt; nhưng thực ra người ta cho tôi biết chưa tới một nửa. Ngài còn khôn ngoan và giàu có hơn tiếng đồn tôi đã nghe. <sup>8</sup> Phúc thay thần dân của ngài! Phúc thay quần thần của ngài, những kẻ luôn luôn được túc trực trước mặt ngài và nghe biết sự khôn ngoan của ngài! <sup>9</sup> Chúc tụng Ðức Chúa Thiên Chúa của ngài, Ðấng đã ưu ái đặt ngài lên ngai Ít-ra-en; chính vì lòng yêu thương Ít-ra-en đến muôn đời, mà Ðức Chúa đã đặt ngài làm vua, để ngài thi hành luật pháp và công lý.&#8221; <sup>10</sup> Và bà tặng vua ba ngàn sáu trăm ký vàng, một số rất lớn hương liệu và đá quý. Chưa từng có một số lượng hương liệu nhiều như nữ hoàng Sơ-va đã tặng vua Sa-lô-môn. <sup>11</sup> Cả đoàn tàu của vua Khi-ram, mang vàng từ Ô-phia về, cũng đưa rất nhiều gỗ đàn hương và đá quý từ Ô-phia về nữa. <sup>12</sup> Vua dùng gỗ đàn hương làm các cột trụ Ðền Thờ Ðức Chúa, cung điện nhà vua, đàn lia đàn hạc cho các ca sĩ; thứ gỗ đàn hương ấy không còn và cũng không thấy nữa cho tới ngày nay. <sup>13</sup> Vua Sa-lô-môn tặng lại nữ hoàng Sơ-va tất cả những gì bà ngỏ ý thích, chưa kể những gì vua tặng bà xứng với danh vua Sa-lô-môn hào hiệp. Sau đó bà lui gót, cùng với đoàn tuỳ tùng trở về xứ sở.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sự giàu sang của vua Sa-lô-môn</strong> (2 Sb 9:13 -24)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Số vàng vua Sa-lô-môn thu nhập hàng năm là hai mươi ngàn ký, <sup>15</sup> không kể vàng do khách vãng lai, do các thương gia, do tất cả các vua Ả-rập và các quan thái thú trong nước đem nộp. <sup>16</sup> Vua Sa-lô-môn làm hai trăm chiếc thuẫn lớn bằng vàng gò; mỗi chiếc thuẫn phải dùng tới sáu ký vàng. <sup>17</sup> Vua còn làm ba trăm chiếc thuẫn nhỏ bằng vàng gò; mỗi chiếc mất một ký rưỡi vàng. Và vua đặt các thuẫn ấy trong Cung Rừng Li-băng. <sup>18</sup> Vua lại làm một cái ngai lớn bằng ngà và dát vàng ròng rất tinh vi. <sup>19</sup> Ngai có sáu cấp, phần trên của lưng ngai thì tròn; hai bên chỗ ngồi có tay tựa, đứng sát tay tựa là hai con sư tử, <sup>20</sup> và mười hai con sư tử đứng trên sáu cấp ở hai bên. Chẳng vương quốc nào làm được như thế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Tất cả các chén để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và tất cả các vật dụng trong Cung Rừng Li-băng cũng bằng vàng ròng. Không có bạc, vì thời vua Sa-lô-môn bạc không có giá trị gì cả. <sup>22</sup> Quả vậy, vua Sa-lô-môn có một đoàn tàu biển đi Tác-sít, cùng với đoàn tàu của vua Khi-ram; và cứ ba năm một lần, đoàn tàu Tác-sít đến, mang theo vàng, bạc, ngà, khỉ và công. <sup>23</sup> Vua Sa-lô-môn là người trổi vượt hơn tất cả các đế vương trên mặt đất về sự giàu có và khôn ngoan. <sup>24</sup> Thiên hạ ai nấy đều mong diện kiến vua Sa-lô-môn để được nghe sự khôn ngoan mà Thiên Chúa đã ban cho vua. <sup>25</sup> Mỗi vị đều mang lễ vật: đồ bạc, đồ vàng, y phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và lừa. Cứ thế từ năm này qua năm khác.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xa mã của vua Sa-lô-môn</strong> (2 Sb 1:24-17; 9:25-28)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Vua Sa-lô-môn tập trung xe và ngựa, xe có một ngàn bốn trăm cỗ, và ngựa có mười hai ngàn con. Vua để chúng ở các thành có xe, bên cạnh vua tại Giê-ru-sa-lem. <sup>27</sup> Vua đã làm cho bạc ở Giê-ru-sa-lem ra thường như sỏi đá, còn bá hương thì nhiều như sung ở miền Sơ-phê-la. <sup>28</sup> Ngựa của vua Sa-lô-môn được nhập từ Ai-cập và Cơ-vê. Các thương gia của vua đến tận Cơ-vê mua ngựa theo đúng giá. <sup>29</sup> Một chiếc xe bán ra từ Ai-cập là sáu trăm se-ken bạc, và một con ngựa là một trăm năm mươi. Ðối với tất cả các vua Khết và các vua A-ram, nhờ các thương gia làm trung gian mua vào, thì cũng thế.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Bóng Mây Ðen Trên Vương Quốc</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các hậu phi của vua Sa-lô-môn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-lô-môn yêu nhiều người đàn bà ngoại bang; ngoài ái nữ của Pha-ra-ô, còn có các bà thuộc dân Mô-áp, Am-mon, Ê-đôm, Xi-đôn, Khết, <sup>2</sup> những dân mà Ðức Chúa đã truyền cho con cái Ít-ra-en là &#8220;các ngươi không được đi lại với chúng, và chúng cũng chẳng được đi lại với các ngươi; vì chắc chắn chúng sẽ làm cho lòng các ngươi ngả theo các thần của chúng.&#8221; Nhưng vua Sa-lô-môn thì lại mê những người đàn bà ấy; <sup>3</sup> vua có bảy trăm bà vợ chính thức và ba trăm cung phi. Và các bà ấy làm cho lòng vua ra hư hỏng. <sup>4</sup> Quả vậy, khi vua Sa-lô-môn về già, các bà vợ của vua đã làm cho lòng vua ngả theo các thần ngoại; lòng vua không còn chung thủy với Ðức Chúa Thiên Chúa của vua, như lòng phụ vương Ða-vít nữa. <sup>5</sup> Vua Sa-lô-môn đi theo nữ thần Át-tô-rét của dân Xi-đôn, theo thần Min-côm ghê tởm của dân Am-mon. <sup>6</sup> Như thế, vua Sa-lô-môn làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, chứ không theo Ðức Chúa trọn vẹn như phụ vương Ða-vít. <sup>7</sup> Bấy giờ vua Sa-lô-môn xây trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem một nơi cao cho thần Cơ-mốt ghê tởm của dân Mô-áp, cho thần Mô-léc ghê tởm của con cái Am-mon. <sup>8</sup> Vua làm như thế với tất cả các bà vợ ngoại đạo của vua; họ đốt hương và sát tế kính các thần của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa nổi giận với vua Sa-lô-môn, vì lòng vua rời xa Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, Ðấng đã hiện ra với vua hai lần, <sup>10</sup> và truyền cho vua là đừng đi theo các thần ngoại, nhưng vua không giữ điều Ðức Chúa đã truyền. <sup>11</sup> Ðức Chúa phán với vua Sa-lô-môn: &#8220;Vì ngươi đã như vậy và đã không giữ giao ước cũng như các giới răn Ta truyền cho ngươi, thì chắc chắn Ta sẽ giựt lấy vương quốc ngươi mà trao cho một thuộc hạ của ngươi. <sup>12</sup> Tuy nhiên, vì thân phụ ngươi, Ta sẽ không làm điều đó trong đời ngươi, nhưng sẽ giựt vương quốc khỏi tay con của ngươi. <sup>13</sup> Hơn nữa, vì nể Ða-vít tôi tớ Ta, và vì Giê-ru-sa-lem, thành đô Ta đã chọn, Ta sẽ không giựt lấy cả vương quốc, nhưng sẽ để lại cho con của ngươi một chi tộc.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những kẻ thù bên ngoài</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa xui khiến cho có một người chống lại vua Sa-lô-môn: đó là Ha-đát người Ê-đôm, thuộc hoàng tộc Ê-đôm. <sup>15</sup> Khi vua Ða-vít đã đánh bại Ê-đôm và ông Giô-áp chỉ huy quân đội lên chôn cất các tử thi, thì ông tàn sát mọi đàn ông con trai ở Ê-đôm. <sup>16</sup> Quả vậy, ông Giô-áp cùng toàn thể Ít-ra-en đã ở lại đấy sáu tháng cho tới khi tiêu diệt hoàn toàn mọi đàn ông con trai ở Ê-đôm. <sup>17</sup> Bấy giờ, Ha-đát cùng với mấy người Ê-đôm trong số các tôi tớ của cha mình đã chạy trốn được sang Ai-cập, vì lúc đó Ha-đát là một thiếu niên. <sup>18</sup> Chúng rời Ma-đi-an và tới Pa-ran; từ Pa-ran chúng lấy một số người đi theo mình xuống Ai-cập, vào chầu Pha-ra-ô vua Ai-cập; vua này cung cấp cho chúng nhà ở, bảo đảm lương thực và cho chúng cả đất đai nữa. <sup>19</sup> Ha-đát rất được lòng Pha-ra-ô, nên vua gả em gái vợ mình cho ông, tức là em gái bà Tác-pơ-nết hay là Bà Hoàng. <sup>20</sup> Em gái bà Tác-bơ-nết sinh ra cho ông một người con tên là Gơ-nu-vát; bà Tác-pơ-nết nuôi nấng người con này ngay trong cung điện Pha-ra-ô. Gơ-nu-vát sống trong cung điện Pha-ra-ô giữa các con cái Pha-ra-ô. <sup>21</sup> Ðang khi ở Ai-cập, Ha-đát nghe tin vua Ða-vít đã an nghỉ với tổ tiên và tướng Giô-áp chỉ huy quân đội cũng đã chết, thì thưa với Pha-ra-ô: &#8220;Xin để tôi về đất nước tôi.&#8221; <sup>22</sup> Pha-ra-ô nói với ông: &#8220;Ở với ta, ngươi có thiếu gì mà phải tìm về đất nước ngươi? &#8221; Ông thưa: &#8220;Không thiếu gì, nhưng xin cứ để tôi đi.&#8221; <sup>25b</sup> Ðiều ác của Ha-đát là ông gớm ghét Ít-ra-en mà ông lại làm vua cai trị Ê-đôm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Thiên Chúa còn xui khiến cho vua có một địch thủ là Rơ-dôn, con của En-gia-đa, người đã bỏ chủ mình là Ha-đát-e-de, vua Xô-va mà trốn. <sup>24</sup> Một số người tụ họp bên ông và ông trở thành đầu đảng. Vì vua Ða-vít muốn tiêu diệt họ, nên ông đến Ða-mát cư ngụ tại đó và làm vua ở Ða-mát. <sup>25</sup> Ông thù nghịch với Ít-ra-en suốt thời vua Sa-lô-môn.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc nổi dậy của Gia-róp-am</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ông Gia-róp-am là con ông Nơ-vát, người Ép-ra-im, thuộc Xơ-rê-đa; bà Xơ-ru-a mẹ ông là một quả phụ. Ông đã từng phục vụ vua Sa-lô-môn, nhưng lại nổi dậy chống vua. <sup>27</sup> Chuyện ông nổi dậy chống vua như sau:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Bấy giờ Gia-róp-am là người có khả năng. Vua Sa-lô-môn thấy chàng trai ấy đảm đang công việc, thì đặt chàng phụ trách toàn thể dân công nhà Giu-se. <sup>29</sup> Một hôm, khi Gia-róp-am từ Giê-ru-sa-lem đi ra, thì dọc đường gặp ngôn sứ A-khi-gia, người Si-lô; ông này khoác một chiếc áo choàng mới. Lúc ấy chỉ có hai ông ở ngoài đồng. <sup>30</sup> Ông A-khi-gia lấy chiếc áo mới mình đang mặc, xé ra làm mười hai mảnh. <sup>31</sup> Rồi ông nói với Gia-róp-am: &#8220;Anh cầm lấy mười mảnh, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en phán như sau: &#8220;Này Ta sẽ giựt vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn để trao cho ngươi mười chi tộc. <sup>32</sup> Nó vẫn còn được một chi tộc, vì nể Ða-vít, tôi tớ Ta, và vì Giê-ru-sa-lem thành đô Ta đã chọn trong tất cả chi tộc Ít-ra-en. <sup>33</sup> Vì nó đã bỏ Ta mà thờ lạy thần Át-tô-rét của dân Xi-đôn, thần Cơ-mốt của Mô-áp, thần Min-côm của con cái Am-mon, và không đi theo đường lối của Ta, là thi hành điều chính trực trước nhan Ta, cũng như các giới răn và luật pháp của Ta như Ða-vít thân phụ nó. <sup>34</sup> Nhưng Ta sẽ không cất hết vương quốc khỏi tay nó, mà sẽ để nó làm thủ lãnh cho đến cuối đời, vì nể Ða-vít tôi tớ Ta, người Ta đã chọn, kẻ đã tuân giữ các mệnh lệnh và các giới răn của Ta. <sup>35</sup> Ta sẽ giựt lấy vương quốc khỏi tay con nó, sẽ cho ngươi mười chi tộc <sup>36</sup> và cho con nó một chi tộc, để Ða-vít tôi tớ Ta luôn luôn có một ngọn đèn trước nhan Ta ở Giê-ru-sa-lem, thành đô Ta đã chọn làm nơi danh Ta ngự trị. <sup>37</sup> Vậy Ta sẽ đặt ngươi làm người cai trị mọi sự như lòng ngươi muốn, và ngươi sẽ làm vua Ít-ra-en. <sup>38</sup> Nếu ngươi vâng nghe tất cả những điều Ta truyền cho ngươi và bước đi theo đường lối của Ta, thi hành điều chính trực trước nhan Ta mà tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Ta như Ða-vít tôi tớ Ta đã làm, thì Ta sẽ ở với ngươi và xây cho ngươi một ngôi nhà bền vững như Ta đã xây cho Ða-vít, và Ta sẽ trao Ít-ra-en cho ngươi. <sup>39</sup> Như thế, Ta sẽ hạ dòng dõi Ða-vít xuống, nhưng không phải mãi đâu!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Vua Sa-lô-môn tìm cánh giết Gia-róp-am; nhưng Gia-róp-am chỗi dậy và trốn sang Ai-cập, đến với Si-sắc vua Ai-cập, và ở Ai-cập cho tới khi vua Sa-lô-môn qua đời.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết thúc triều đại Sa-lô-môn</strong> (2Sb 9 :29-31)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Các truyện khác về vua Sa-lô-môn và tất cả những gì vua đã thực hiện cũng như sự khôn ngoan của vua đều đã được ghi chép trong sách Sử biên niên của vua Sa-lô-môn. <sup>42</sup> Thời gian vua Sa-lô-môn trị vì toàn thể Ít-ra-en tại Giê-ru-sa-lem là bốn mươi năm. <sup>43</sup> Vua Sa-lô-môn đã an nghỉ với tổ tiên và được chôn cất trong Thành Ða-vít thân phụ vua; và thái tử Rơ-kháp-am lên ngôi kế vị vua.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Cuộc Ly Khai Về Chính Trị Và Tôn Giáo</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðại hội tại Si-khem</strong> (2 Sb 10: 1-19)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Rơ-kháp-am đi Si-khem, vì toàn thể Ít-ra-en tụ họp ở Si-khem để tôn ông lên làm vua. <sup>2</sup> Lúc ấy Gia-róp-am con ông Nơ-vát nghe biết chuyện ấy, -ông còn đang ở bên Ai-cập vì ông đã trốn vua Sa-lô-môn sang đó- ông liền bỏ Ai-cập trở về. <sup>3</sup> Người ta cho mời ông Gia-róp-am. Ông và toàn thể cộng đoàn Ít-ra-en tới. Họ thưa với Rơ-kháp-am rằng: <sup>4</sup> &#8220;Phụ vương ngài đã bắt chúng tôi mang một cái ách quá nặng. Bây giờ nếu ngài giảm bớt khổ dịch và ách nặng nề phụ vương đã đặt trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục dịch ngài.&#8221; <sup>5</sup> Vua nói với họ: &#8220;Các ngươi cứ đi đi, ba ngày nữa trở lại đây gặp ta.&#8221; Dân chúng liền rút lui.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vua Rơ-kháp-am bàn hỏi với các kỳ mục là những người đã từng hầu cận phụ vương Sa-lô-môn, khi vua này còn sống; vua Rơ-kháp-am nói: &#8220;Các ngươi góp ý với ta thế nào, để ta còn trả lời cho dân này?&#8221; <sup>7</sup> Họ thưa với vua: &#8220;Nếu hôm nay ngài làm đầy tớ cho dân này, nếu ngài phục vụ và để ý tới dân, dùng lời lẽ ôn tồn mà nói với dân, thì dân sẽ làm tôi ngài mãi mãi.&#8221; <sup>8</sup> Nhưng vua không đếm xỉa gì đến ý kiến các kỳ mục đưa ra, lại đi bàn hỏi với đám người trẻ, là những bạn thiếu thời hiện đang hầu cận vua. <sup>9</sup> Vua nói với họ: &#8220;Các ngươi góp ý với ta thế nào, để ta còn trả lời cho dân này, vì nó đã nói với ta rằng: Xin ngài giảm bớt cái ách nặng phụ vương đã đặt trên chúng tôi!&#8221; <sup>10</sup> Ðám người trẻ, những bạn thiếu thời của vua, thưa vua rằng: &#8220;Ngài sẽ trả lời cho dân đã từng nói với ngài: &#8220;Phụ vương ngài đã đặt ách nặng trên chúng tôi, nhưng xin ngài giảm bớt cho chúng tôi&#8221;, xin ngài nói với chúng thế này: &#8220;Ngón tay nhỏ của ta còn lớn hơn cả lưng của phụ vương ta. <sup>11</sup> Vậy phụ vương ta đã đặt ách nặng trên các ngươi, còn ta, ta chất cho nặng hơn nữa; phụ vương ta trừng phạt các ngươi bằng roi, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng bọ cạp.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ngày thứ ba, Gia-róp-am cùng toàn dân đến yết kiến vua Rơ-kháp-am như vua đã hẹn rằng: &#8220;Ba ngày nữa trở lại gặp ta.&#8221; <sup>13</sup> Vua trả lời cứng cỏi với dân; vua không đếm xỉa gì đến ý kiến các kỳ mục đã đưa ra, <sup>14</sup> nhưng nói với họ theo ý kiến đám người trẻ rằng: &#8220;Phụ vương ta đã đặt ách nặng trên các ngươi, còn ta, ta chất nặng hơn nữa trên các ngươi; phụ vương ta trừng phạt các ngươi bằng roi, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng bọ cạp.&#8221; <sup>15</sup> Thế là vua không chịu nghe dân: Ðức Chúa đã để như vậy cho lời Người được ứng nghiệm, lời mà Ðức Chúa đã dùng ông A-khi-gia người Si-lô mà phán với ông Gia-róp-am con ông Nơ-vát. <sup>16</sup> Khi toàn thể Ít-ra-en thấy vua không thèm nghe họ, thì dân đáp lại vua rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Chúng tôi có liên hệ chi với Ða-vít? Chẳng có phần gì với con của Gie-sê! Ít-ra-en ơi, ai về lều nấy! Này Ða-vít hãy liệu lấy nhà của ngươi!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Còn con cái Ít-ra-en cư ngụ tại các thành của Giu-đa, thì vua Rơ-kháp-am vẫn làm vua cai trị họ. <sup>18</sup> Vua Rơ-kháp-am cử ông A-đô-ram phụ trách việc dân công, nhưng toàn thể Ít-ra-en ném đá ông và ông đã chết; còn vua Rơ-kháp-am thì vội vã lên xe trốn về Giê-ru-sa-lem. <sup>19</sup> Thế là Ít-ra-en ly khai với nhà Ða-vít cho tới ngày nay.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ly khai về chính trị </strong> (2 Sb 11: 1-4)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi toàn thể Ít-ra-en nghe tin ông Gia-róp-am đã về nước, thì sai người mời ông tới đại hội và phong ông làm vua cai trị toàn thể Ít-ra-en; chỉ còn một mình chi tộc Giu-đa là theo nhà Ða-vít.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Về tới Giê-ru-sa-lem, vua Rơ-kháp-am tập họp toàn thể nhà Giu-đa và chi tộc Ben-gia-min, được một trăm tám mươi ngàn quân tinh nhuệ để giao chiến với nhà Ít-ra-en và thu hồi vương quốc về cho Rơ-kháp-am con vua Sa-lô-môn. <sup>22</sup> Nhưng có lời Thiên Chúa phán với ông Sơ-ma-gia, người của Thiên Chúa rằng: <sup>23</sup> &#8220;Hãy nói với Rơ-kháp-am con của Sa-lô-môn vua Giu-đa, với toàn thể nhà Giu-đa và Ben-gia-min cùng phần còn lại của dân rằng: <sup>24</sup> &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Các ngươi không được lên giao chiến với con cái Ít-ra-en là anh em các ngươi; ai nấy cứ về nhà mình, vì mọi chuyện là do Ta.&#8221; Họ nghe lời Ðức Chúa và quay về như Ðức Chúa đã phán. <sup>25</sup> Vua Gia-róp-am xây dựng Si-khem trong vùng núi Ép-ra-im và ở lại đó. Ðoạn vua rời nơi ấy, đi xây dựng Pơ-nu-ên.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ly khai về tôn giáo</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Vua Gia-róp-am nghĩ bụng rằng: &#8220;Rồi vương quốc lại trở về nhà Ða-vít mất thôi! <sup>27</sup> Nếu dân này cứ lên tế lễ tại Ðền Thờ Ðức Chúa ở Giê-ru-sa-lem, thì lòng họ lại quay về với chủ mình là Rơ-kháp-am vua Giu-đa, và họ sẽ giết ta để trở về với Rơ-kháp-am vua Giu-đa.&#8221; <sup>28</sup> Sau khi quyết định, vua làm hai con bò mộng bằng vàng, rồi nói với dân: &#8220;Các ngươi lên Giê-ru-sa-lem như thế là đủ rồi! Này, Ít-ra-en, Thiên Chúa của ngươi đây, Ðấng đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập.&#8221; <sup>29</sup> Vua đặt một tượng ở Bết Ên, còn tượng kia ở Ðan. <sup>30</sup> Ðó là nguyên cớ gây ra tội, vì dân đi tới mãi tận Ðan để thờ một trong hai tượng đó. <sup>31</sup> Vua thiết lập những nơi cao và đặt các tư tế lấy từ đám thường dân, không thuộc hàng con cháu Lê-vi. <sup>32</sup> Vua Gia-róp-am còn lập một lễ vào ngày mười lăm tháng tám, giống như lễ vẫn mừng ở Giu-đa, và vua tiến lên bàn thờ. Vua đã làm như thế tại Bết Ên mà dâng lễ tế cho các con bò mộng vua đã làm ra. Vua đặt ở Bết Ên các tư tế để phục vụ tại các nơi cao mà vua đã thiết lập. <sup>33</sup> Vua tiến lên bàn thờ đã lập ở Bết Ên, vào ngày mười lăm tháng tám, tháng vua chọn theo sở thích; vua lập nên một ngày lễ cho con cái Ít-ra-en và lên bàn thờ đốt hương.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết án bàn thờ tại Bết Ên</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Do lệnh của Ðức Chúa, có một người của Thiên Chúa từ Giu-đa đến Bết Ên vào lúc Gia-róp-am đang đứng gần bàn thờ đốt hương, <sup>2</sup> và theo lệnh Ðức Chúa, người ấy la lên chống bàn thờ rằng: &#8220;Bàn thờ, bàn thờ! Ðức Chúa phán thế này: Rồi đây một người con sẽ sinh ra cho nhà Ða-vít, tên là Giô-si-gia-hu; trên ngươi, nó sẽ sát tế các tư tế phục vụ tại các nơi cao, là những kẻ đã đốt hương trên ngươi; trên ngươi, nó sẽ đốt xương người.&#8221; <sup>3</sup> Ngay hôm ấy, ông cho một dấu hiệu, mà rằng: &#8220;Ðây là dấu Ðức Chúa đã phán: Này bàn thờ sẽ rạn nứt và tro trên đó sẽ đổ ra.&#8221; <sup>4</sup> Khi vua nghe biết lời mà người của Thiên Chúa la lên chống bàn thờ Bết Ên, thì từ bàn thờ, vua Gia-róp-am giơ tay ra và nói: &#8220;Bắt lấy nó!&#8221; Nhưng bàn tay giơ ra đe ông liền khô cứng, không co lại được nữa. <sup>5</sup> Và bàn thờ rạn nứt, tro từ bàn thờ đổ ra, đúng như dấu hiệu mà người của Thiên Chúa đã cho, theo lệnh Ðức Chúa. <sup>6</sup> Vua đáp lại và nói với người của Thiên Chúa: &#8220;Xin ông làm cho nét mặt Ðức Chúa dịu lại, khẩn nài Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, và xin cho ta co tay lại được.&#8221; Người của Thiên Chúa đã làm cho nét mặt Ðức Chúa dịu lại và tay vua co lại được như trước. <sup>7</sup> Bấy giờ vua nói với người của Thiên Chúa: &#8220;Về nhà với ta để bổ sức, và ta sẽ tặng cho một món quà.&#8221; <sup>8</sup> Nhưng người của Thiên Chúa thưa với vua: &#8220;Ngài có cho tôi phân nửa nhà của ngài, tôi cũng sẽ không đi với ngài, hoặc ăn bánh hay uống nước tại đây; <sup>9</sup> vì Ðức Chúa đã truyền lệnh cho tôi rằng: &#8220;Ngươi không được ăn bánh, không được uống nước, cũng chẳng được trở về qua con đường ngươi đã đi trước.&#8221; <sup>10</sup> Vậy, ông ra đi theo con đường khác, không trở về qua ngả đường đã dẫn ông đến Bết Ên.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người của Thiên Chúa và vị ngôn sứ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Có một ngôn sứ già cư ngụ tại Bết Ên. Mấy người con của cụ đến kể cho cụ nghe mọi việc người của Thiên Chúa đã làm hôm đó tại Bết Ên, những lời ông ta đã nói với vua, họ cũng kể cho cha họ nghe. <sup>12</sup> Người cha nói: &#8220;Ông ta đã đi đường nào?&#8221; Họ chỉ cho cụ con đường người của Thiên Chúa đã ra đi, sau khi từ Giu-đa tới. <sup>13</sup> Cụ liền nói với các con: &#8220;Thắng lừa cho cha.&#8221; Họ thắng lừa cho cụ; cụ cỡi lừa <sup>14</sup> và đi tìm người của Thiên Chúa. Gặp được ông đang ngồi dưới cây sồi, cụ liền nói với ông: &#8220;Ông là người của Thiên Chúa từ Giu-đa tới phải không?&#8221; Người ấy đáp: &#8220;Thưa phải.&#8221; <sup>15</sup> Cụ bảo ông: &#8220;Ði với lão về nhà và ăn một chút bánh.&#8221; <sup>16</sup> Người ấy nói: &#8220;Tôi không thể cùng với cụ quay trở lại và đến nhà cụ; tôi sẽ không ăn bánh và uống nước với cụ tại đó, <sup>17</sup> vì có lời Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ngươi không được ăn bánh, không được uống nước tại đó; không được trở về qua con đường mà ngươi đã đến.&#8221; <sup>18</sup> Cụ nói với ông: &#8220;Lão cũng là ngôn sứ như ông, và một thiên thần đã nói với lão theo lệnh Ðức Chúa rằng: &#8220;Hãy đưa nó cùng với ngươi quay trở lại nhà ngươi để nó ăn bánh, uống nước.&#8221; Cụ đã nói dối ông. <sup>19</sup> Vậy ông cùng với cụ quay trở lại; ông đã ăn bánh ở nhà cụ và uống nước nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi họ đang ngồi ở bàn ăn, thì có lời Ðức Chúa phán với vị ngôn sứ đã đưa người kia quay trở lại. <sup>21</sup> Cụ liền kêu người của Thiên Chúa đã từ Giu-đa đến mà bảo: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: bởi vì ngươi đã trái lệnh Ðức Chúa, không tuân giữ điều Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, <sup>22</sup> ngươi đã quay trở lại, ăn bánh, uống nước, tại nơi Người đã truyền cho ngươi không được ăn bánh uống nước, cho nên thây của ngươi sẽ không được vào chung mồ với tổ tiên ngươi.&#8221; <sup>23</sup> Ăn uống xong, cụ thắng lừa cho vị ngôn sứ mà cụ đã đưa quay trở lại. <sup>24</sup> Ông ra đi, và dọc đường, một con sư tử bắt gặp ông, đã vồ ông chết và bỏ thây ông nằm giữa đường. Con lừa vẫn đứng bên cạnh ông, cả con sư tử cũng đứng gần xác chết. <sup>25</sup> Chợt có mấy người đi qua, thấy xác chết bỏ giữa đường và con sư tử đứng bên, thì vào kể lại trong thành, nơi vị ngôn sứ già cư ngụ. <sup>26</sup> Khi vị ngôn sứ già, người đã làm cho ông bỏ đường quay trở lại biết chuyện, thì nói: &#8220;Ông ấy là người của Thiên Chúa, nhưng đã trái lệnh Ðức Chúa, nên Ðức Chúa đã để cho sư tử vồ chết, như lời Ðức Chúa đã phán với ông trước.&#8221; <sup>27</sup> Rồi cụ bảo các con: &#8220;Thắng lừa cho cha!&#8221; Họ thắng lừa cho cụ. <sup>28</sup> Cụ đi và thấy xác người kia bỏ giữa đường, có con lừa và con sư tử đứng bên cạnh; con sư tử không ăn thây người chết, cũng không cắn xé con lừa. <sup>29</sup> Vị ngôn sứ lấy xác người của Thiên Chúa đặt lên lừa, đưa trở lại thành của vị ngôn sứ già để làm đám tang và chôn cất. <sup>30</sup> Cụ đặt thi hài ông trong chính mộ của cụ, và người ta khóc thương ông: &#8220;Ôi! người anh em của tôi ơi!&#8221; <sup>31</sup> Chôn cất xong, cụ nói với các con: &#8220;Khi cha chết, các con hãy chôn cất cha trong cùng một ngôi mộ mà người của Thiên Chúa đã được chôn cất; hãy đặt hài cốt cha bên cạnh hài cốt ông. <sup>32</sup> Vì chắc chắn sẽ ứng nghiệm lời ông đã theo lệnh Ðức Chúa kết án bàn thờ ở Bết Ên và tất cả các đền thờ tại các nơi cao trong thành của Sa-ma-ri.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Sau sự việc này, vua Gia-róp-am cũng không chịu bỏ đường lối xấu xa của mình, nhưng vẫn cứ đặt những người dân thường làm tư tế tại các nơi cao. Ưa ai thì ông phong làm tư tế tại các nơi cao. <sup>34</sup> Sự việc này là nguyên cớ cho nhà Gia-róp-am phạm tội, rồi bị sụp đổ và tiêu ma khỏi mặt đất.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">IV. Lịch Sử Hai Vương Quốc Cho Tới Thời Ngôn Sứ Ê-Li-A</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giai đoạn kế tiếp triều đại vua Gia-róp-am I</strong> (931-910)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bấy giờ hoàng tử A-vi-gia, con vua Gia-róp-am, lâm bệnh; <sup>2</sup> vua Gia-róp-am nói với phu nhân: &#8220;Này! Xin bà đứng lên và cải trang để người ta không biết được bà là vợ của Gia-róp-am, rồi đi tới Si-lô. Ở đấy có ngôn sứ A-khi-gia là người đã báo trước cho tôi biết tôi sẽ làm vua dân này. <sup>3</sup> Bà hãy mang theo mười ổ bánh, một ít bánh ngọt, một bình mật ong và đến gặp ông. Ông sẽ nói cho bà biết về số phận đứa trẻ; <sup>4</sup> phu nhân vua Gia-róp-am làm như vậy. Bà trỗi dậy đi tới Si-lô, đến nhà ông A-khi-gia-hu. Ông A-khi-gia-hu không nhìn thấy được nữa, vì tuổi già đã làm cho mắt ông đờ ra. <sup>5</sup> Ðức Chúa phán với ông A-khi-gia-hu: &#8220;Này, vợ của Gia-róp-am đến hỏi ngươi về đứa con của nó, vì đứa trẻ lâm bệnh. Ngươi sẽ trả lời nó thế này, thế này.&#8221; Khi đến, bà ấy giả làm một người khác. <sup>6</sup> Nhưng khi ông A-khi-gia-hu nghe tiếng chân bà bước qua cửa thì nói: &#8220;Xin mời phu nhân vua Gia-róp-am vào! Tại sao bà lại giả làm người khác? Tôi được lệnh báo cho bà một tin buồn. <sup>7</sup> Xin bà về nói với vua Gia-róp-am: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Ta đã cất nhắc ngươi lên từ đám dân thường, đặt ngươi làm đầu Ít-ra-en dân Ta; <sup>8</sup> Ta đã giựt vương quốc khỏi nhà Ða-vít để ban cho ngươi nhưng ngươi đã không được như Ða-vít, tôi tớ Ta, là người đã tuân giữ các giới răn của Ta và hết lòng đi theo Ta, chỉ làm những điều ngay chính trước mặt Ta. <sup>9</sup> Còn ngươi, thì làm sự dữ, hành động xấu xa hơn mọi kẻ đi trước ngươi, vì ngươi đã đi tới chỗ làm ra các thần ngoại, những hình tượng đúc để chọc giận Ta và vứt bỏ Ta sau lưng ngươi. <sup>10</sup> Vì thế, này Ta sẽ giáng hoạ xuống nhà Gia-róp-am: Ta sẽ tiêu diệt khỏi nhà ấy mọi đàn ông con trai, tự do hay nô lệ trong dân Ít-ra-en, sẽ quét sạch dòng dõi nhà Gia-róp-am như người ta quét phân rác, cho đến khi nó bị tận diệt. <sup>11</sup> Kẻ nào thuộc về nhà Gia-róp-am mà chết trong thành thì sẽ bị chó ăn thịt; người chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa thây. Vì đó là lời Ðức Chúa. <sup>12</sup> Còn bà, bà hãy đứng dậy mà về nhà. Khi bà bước chân vào thành thì đứa trẻ sẽ chết. <sup>13</sup> Toàn thể Ít-ra-en sẽ khóc thương nó, và người ta sẽ chôn cất nó; chỉ một mình đứa con này của Gia-róp-am được chôn trong mồ, bởi vì trong cả nhà Gia-róp-am, nó là người còn có một chút gì đẹp lòng Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en. <sup>14</sup> Ðức Chúa sẽ cho một vua đứng lên cai trị Ít-ra-en, ông sẽ tiêu diệt nhà Gia-róp-am vào ngày ấy. Biết nói gì nữa bây giờ? <sup>15</sup> Ðức Chúa sẽ đánh Ít-ra-en ngả nghiêng như cây sậy trong dòng nước; Người sẽ bứng Ít-ra-en khỏi đất đai màu mỡ mà Người đã ban cho tổ tiên họ, và sẽ phân tán họ sang bên kia Sông, vì họ đã làm ra các cột thần mà chọc giận Ðức Chúa. <sup>16</sup> Vì các tội vua Gia-róp-am đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo, thì Người sẽ trao nộp Ít-ra-en.&#8221; <sup>17</sup> Phu nhân vua Gia-róp-am đứng dậy, ra đi và tới Tia-xa. Bà vừa bước qua ngưỡng cửa nhà thì đứa trẻ chết. <sup>18</sup> Người ta chôn cất nó, và toàn thể Ít-ra-en khóc thương nó, đúng như lời Ðức Chúa đã dùng ngôn sứ A-khi-gia-hu tôi tớ Người mà phán.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Các truyện còn lại về vua Gia-róp-am, các cuộc chiến và cách thức cai trị của vua đều được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en. <sup>20</sup> Thời vua Gia-róp-am trị nước là hai mươi hai năm. Vua nằm xuống với tổ tiên; con vua là Na-đáp lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Rơ-kháp-am</strong> (931-913) (2 Sb 11: 5; 12: 1-2,9-16)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Con vua Sa-lô-môn là Rơ-kháp-am trị vì nước Giu-đa. Khi lên ngôi, vua Rơ-kháp-am được bốn mươi mốt tuổi; vua trị vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem là thành đô Ðức Chúa đã chọn làm nơi đặt Danh Người trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en. Thân mẫu vua là bà Na-a-ma, người Am-mon. <sup>22</sup> Giu-đa đã làm sự dữ trái mắt Ðức Chúa và vì tất cả các tội của họ, họ đã chọc giận Ðức Chúa còn hơn mọi điều cha ông họ đã phạm. <sup>23</sup> Họ lại xây cất những nơi cao, những trụ thờ và những cột thần trên khắp đồi cao và dưới mọi cây xanh rậm. <sup>24</sup> Trong xứ có cả bọn trai điếm phục vụ đền thần. Chúng làm những điều ghê tởm như các dân ngoại mà Ðức Chúa đã đuổi đi cho khuất mắt Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Năm thứ năm triều vua Rơ-kháp-am, vua Ai-cập là Si-sắc, đã tiến đánh Giê-ru-sa-lem. <sup>26</sup> Ông chiếm đoạt các kho tàng của Ðền Thờ Ðức Chúa cũng như kho tàng của hoàng cung. Ông lấy hết, chiếm đoạt tất cả các khiên thuẫn bằng vàng vua Sa-lô-môn đã làm. <sup>27</sup> Vua Rơ-kháp-am làm các khiên thuẫn bằng đồng để thay thế và giao cho các người chỉ huy thị vệ canh gác cửa hoàng cung. <sup>28</sup> Mỗi khi vua vào Ðền Thờ Ðức Chúa thì các thị vệ mang ra, rồi lại đưa về phòng thị vệ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Các truyện còn lại về vua Rơ-kháp-am và mọi việc vua làm đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>30</sup> Giữa vua Rơ-kháp-am và vua Gia-róp-am luôn luôn có giao tranh. <sup>31</sup> Vua Rơ-kháp-am đã an nghỉ với tổ tiên và được chôn cất với các ngài trong Thành Ða-vít. Thân mẫu của vua là bà Na-a-ma, người Am-mon. Con vua là A-vi-giam lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua A-vi-giam tại Giu-đa</strong> (913-911) (2 Sb 13: 1-14: 1)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Năm thứ mười tám triều vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát là A-vi-giam lên làm vua Giu-đa, <sup>2</sup> và trị vì tại Giê-ru-sa-lem ba năm; thân mẫu vua là bà Ma-a-kha, ái nữ ông Áp-sa-lôm. <sup>3</sup> Vua rập theo con đường tội lỗi vua cha đã đi trước, mà không trọn tình với Ðức Chúa, Thiên Chúa của vua, như Ða-vít tổ tiên vua. <sup>4</sup> Nhưng, vì nể Ða-vít, Ðức Chúa, Thiên Chúa của vua, cũng ban cho vua một ngọn đèn tại Giê-ru-sa-lem là gầy dựng cho vua một người con kế vị và làm cho Giê-ru-sa-lem đứng vững; <sup>5</sup> chỉ vì Ða-vít đã làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, không bỏ qua một điều nào trong tất cả những điều Người đã truyền cho vua suốt thời gian vua còn sống, ngoài truyện ông U-ri-gia, người Khết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Giữa vua Rơ-kháp-am và vua Gia-róp-am luôn luôn có giao tranh trong buổi sinh thời. <sup>7</sup> Các truyện còn lại về vua A-vi-giam và mọi việc vua làm đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? Và chiến tranh cũng xảy ra giữa vua A-vi-giam và vua Gia-róp-am. <sup>8</sup> Vua A-vi-giam đã an nghỉ với tổ tiên, và được chôn cất trong Thành Ða-vít; con vua là A-xa lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua A-xa tại Giu-đa</strong> (911-870) (2 Sb 15: 16 -16: 6,11 -14)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Năm thứ hai mươi triều vua Gia-róp-am cai trị Ít-ra-en thì vua A-xa lên làm vua Giu-đa. <sup>10</sup> Vua trị vì tại Giê-ru-sa-lem bốn mươi mốt năm. Bà nội của vua là Ma-a-kha, ái nữ ông Áp-sa-lôm. <sup>11</sup> Vua A-xa làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa, như Ða-vít tổ tiên vua. <sup>12</sup> Vua đuổi ra khỏi xứ bọn trai điếm phục vụ đền thần, dẹp hết các tượng thần cha ông của vua đã làm. <sup>13</sup> Ngay cả bà nội của vua là Ma-a-kha, cũng bị vua cách chức quốc mẫu, vì bà đã làm một vật kinh tởm kính thần A-sê-ra. Vua A-xa phá huỷ vật kinh tởm đó và đem đốt trong thung lũng Kít-rôn. <sup>14</sup> Các nơi cao chưa biến đi, nhưng vua A-xa vẫn suốt đời trọn tình vẹn nghĩa với Ðức Chúa. <sup>15</sup> Vua đưa vào Ðền Thờ Ðức Chúa các vật thánh mà vua cha cũng như chính vua dâng cúng: bạc, vàng và các vật dụng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Giữa vua A-xa và vua Ba-sa của Ít-ra-en luôn luôn có giao tranh suốt buổi sinh thời hai vua. <sup>17</sup> Ba-sa vua Ít-ra-en tiến đánh Giu-đa và vua kiến thiết Ra-ma, để không cho ai ra vào liên lạc với A-xa vua Giu-đa. <sup>18</sup> Bấy giờ vua A-xa lấy tất cả bạc, vàng còn lại trong các kho tàng Ðền Thờ Ðức Chúa và các kho tàng của hoàng cung, trao vào tay bề tôi của vua, rồi vua A-xa sai họ đến với vua A-ram là Ben Ha-đát, con ông Táp-rim-môn, con ông Khét-giôn, cư ngụ tại Ða-mát và nói rằng: <sup>19</sup> &#8220;Nên có hiệp ước giữa tôi với ngài, cũng như giữa thân phụ tôi với thân phụ ngài! Ðây, tôi xin gửi tặng ngài bạc vàng làm quà. Xin ngài huỷ bỏ hiệp ước giữa ngài với Ba-sa vua Ít-ra-en, để ông ấy bỏ tôi mà rút về!&#8221; <sup>20</sup> Vua Ben Ha-đát nghe lời vua A-xa và sai các vị chỉ huy quân đội đánh các thành của Ít-ra-en; vua đánh chiếm I-giôn Ðan, A-vên Bết Ma-a-kha, tất cả Kin-nơ-rốt, mãi cho đến vùng đất Náp-ta-li. <sup>21</sup> Nghe biết chuyện này, vua Ba-sa ngưng kiến thiết Ra-ma, mà trở về Tia-xa. <sup>22</sup> Bấy giờ vua A-xa triệu tập toàn thể Giu-đa, không trừ một ai, và họ lấy đi đá, gỗ ở Ra-ma mà vua Ba-sa dùng để xây cất. Vua A-xa dùng các thứ ấy mà kiến thiết Ghe-va thuộc Ben-gia-min và Mít-pa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Các truyện còn lại về vua A-xa, tất cả chiến công của vua, mọi việc vua làm, các thành vua xây, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? Chỉ có điều về già vua bị đau chân. <sup>24</sup> Vua A-xa nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất với các ngài trong Thành vua Ða-vít tổ tiên vua. Con vua là Giơ-hô-sa-phát lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Na-đáp tại Ít-ra-en</strong> (910-909)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Năm thứ hai triều vua A-xa, vua Giu-đa, Na-đáp, con vua Gia-róp-am lên làm vua Ít-ra-en và cai trị Ít-ra-en hai năm. <sup>26</sup> Vua làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, đi theo con đường của vua cha, phạm các tội vua ấy đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo. <sup>27</sup> Ba-sa, con ông A-khi-gia, thuộc nhà Ít-xa-kha âm mưu chống lại vua. Khi vua Na-đáp và toàn dân Ít-ra-en bao vây Ghíp-bơ-thôn, ông Ba-sa đã giết vua tại Ghíp-bơ-thôn thuộc Phi-li-tinh. <sup>28</sup> Ông Ba-sa đã giết vua vào năm thứ ba triều A-xa, vua Giu-đa, và ông đã lên ngôi thế vị. <sup>29</sup> Lên ngôi rồi, vua hạ sát tất cả nhà Gia-róp-am, không để sót một mạng nào mà không tiêu diệt, như lời Ðức Chúa đã dùng tôi tớ Người là A-khi-gia, người Si-lô, mà phán trước, <sup>30</sup> vì tội vua Gia-róp-am đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo, cũng như vì vua đã chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Các truyện còn lại về vua Na-đáp và mọi việc vua làm, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>32</sup> Giữa vua A-xa và vua Ba-sa vua Ít-ra-en luôn luôn có giao tranh suốt buổi sinh thời hai vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Ba-sa tại Ít-ra-en</strong> (909-886)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Năm thứ ba triều A-xa, vua Giu-đa, Ba-sa, con ông A-khi-gia lên làm vua toàn cõi Ít-ra-en, trị vì tại Tia-xa hai mươi năm. <sup>34</sup> Vua làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa đi theo con đường của vua Gia-róp-am, phạm các tội vua ấy đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Có lời Ðức Chúa phán với ông Giê-hu, con ông Kha-na-ni, chống lại vua Ba-sa, rằng: <sup>2</sup> &#8220;Từ bụi đất Ta đã kéo ngươi lên và đặt ngươi làm thủ lãnh Ít-ra-en dân Ta, nhưng ngươi đã đi theo con đường của Gia-róp-am, và đã lôi kéo Ít-ra-en dân Ta phạm tội, mà chọc giận Ta, vì thế <sup>3</sup> này Ta sẽ quét sạch hậu duệ của Ba-sa và con cháu nhà nó, Ta sẽ làm cho nhà ngươi nên như nhà của Gia-róp-am, con của Nơ-vát. <sup>4</sup> Kẻ nào thuộc về Ba-sa mà chết trong thành thì sẽ bị chó ăn thịt, người chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa thây.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các truyện còn lại về vua Ba-sa, và mọi việc làm, và các chiến công của vua, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao? <sup>6</sup> Vua Ba-sa nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất tại Tia-xa. Con vua là Ê-la lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Lại có lời Ðức Chúa dùng ngôn sứ Giê-hu, con ông Kha-na-ni, mà phán để chống vua Ba-sa và dòng họ: vì tất cả điều dữ vua đã làm trái mắt Ðức Chúa mà chọc giận Người, vì các việc vua đã làm chẳng hơn gì nhà Gia-róp-am, và vì vua đã tiêu diệt nhà ấy.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Ê-la tại Ít-ra-en</strong> (886-885)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Năm hai mươi sáu triều A-xa, vua Giu-đa, Ê-la, con vua Ba-sa lên ngôi làm vua Ít-ra-en. Vua trị vì tại Tia-xa hai năm. <sup>9</sup> Dim-ri, bầy tôi của vua, chỉ huy phân nửa chiến xa, đã âm mưu chống lại vua. Khi vua uống rượu say ở Tia-xa, tại nhà ông Ác-xa, quản đốc hoàng cung tại Tia-xa, <sup>10</sup> thì Dim-ri đi vào hạ sát vua, năm hai mươi bảy triều A-xa, vua Giu-đa, rồi lên làm vua thế vị. <sup>11</sup> Lên ngôi rồi, vua liền hạ sát tất cả nhà vua Ba-sa không để sót một đàn ông con trai, thân thích hay bạn bè nào. <sup>12</sup> Vua Dim-ri tiêu diệt hết dòng họ nhà vua Ba-sa, đúng như lời Ðức Chúa dùng ngôn sứ Giê-hu mà phán để chống lại vua Ba-sa, <sup>13</sup> bởi tất cả các tội của Ba-sa và các tội của Ê-la con vua, các tội họ đã phạm và đã lôi kéo Ít-ra-en phạm theo mà chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, vì các ngẫu tượng của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Các truyện còn lại về vua Ê-la và mọi việc vua làm đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en đó sao?</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Dim-ri tại Ít-ra-en</strong> (885)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Năm hai mươi bảy triều A-xa, vua Giu-đa, Dim-ri lên làm vua trị vì tại Tia-xa được bảy ngày. Bấy giờ dân đang bao vây Ghíp-bơ-thôn, thuộc Phi-li-tinh. <sup>16</sup> Ðang khi bao vây và nghe biết ông Dim-ri mưu phản, hơn nữa đã giết cả vua, thì dân liền tôn ông Om-ri, tổng chỉ huy quân đội Ít-ra-en, lúc bấy giờ đang ở trong doanh trại, lên làm vua. <sup>17</sup> Ông Om-ri cùng toàn thể Ít-ra-en từ Ghíp-bơ-thôn kéo lên bao vây Tia-xa. <sup>18</sup> Khi vua Dim-ri thấy thành đã bị chiếm, thì rút vào vọng lâu của hoàng cung, rồi nổi lửa đốt hoàng cung, tự thiêu, và vua đã chết, <sup>19</sup> vì các tội vua đã phạm là làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa và đi theo con đường vua Gia-róp-am, và vì tội vua này đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Các truyện còn lại về vua Dim-ri và cuộc nổi loạn của vua đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Bấy giờ dân Ít-ra-en chia làm hai phe: một phe theo Típ-ni, con ông Ghi-nát, tôn ông lên làm vua; còn phe kia thì theo Om-ri. <sup>22</sup> Phe theo Om-ri mạnh hơn phe theo Típ-ni, con ông Ghi-nát. Ông Típ-ni đã chết và ông Om-ri lên làm vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại Om-ri tại Ít-ra-en</strong> (885-874)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Năm ba mươi mốt triều A-xa, vua Giu-đa, Om-ri lên làm vua Ít-ra-en, trị vì mười hai năm. Vua trị vì tại Tia-xa sáu năm. <sup>24</sup> Vua mua vùng núi Sa-ma-ri của ông Se-me với giá sáu mươi ký bạc, rồi kiến thiết và đặt tên thành đã xây là Sa-ma-ri, theo tên người chủ của núi là Se-me. <sup>25</sup> Vua Om-ri làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa và còn ăn ở tệ hơn tất cả các tiên đế. <sup>26</sup> Vua đi theo mọi đường lối của vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, phạm các tội vua ấy đã phạm và lôi kéo Ít-ra-en phạm theo, mà chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, vì các ngẫu tượng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Các truyện còn lại về vua Om-ri, các việc vua làm, các chiến công của vua đều được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en. <sup>28</sup> Vua Om-ri nằm xuống với tổ tiên và được chôn cất tại Sa-ma-ri. Con vua là A-kháp lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dẫn vào triều đại vua A-kháp</strong> (874-853)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Năm ba mươi tám triều A-xa, vua Giu-đa, A-kháp, con vua Om-ri, lên làm vua Ít-ra-en. Vua A-kháp, con vua Om-ri, làm vua cai trị Ít-ra-en tại Sa-ma-ri hai mươi hai năm. <sup>30</sup> Vua A-kháp, con vua Om-ri, đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, hơn tất cả các tiên đế. <sup>31</sup> Vua không chỉ phạm những tội như vua Gia-róp-am, con ông Nơ-vát, nhưng đã cưới công chúa I-de-ven, ái nữ của Ét-ba-an, vua Xi-đôn, lại còn đi làm tôi thần Ba-an và sụp lạy nó. <sup>32</sup> Vua lập một bàn thờ để kính Ba-an trong đền thờ vua đã xây cất tại Sa-ma-ri. <sup>33</sup> Vua A-kháp làm cả trụ thần, và như thế lại càng chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, hơn tất cả các vua Ít-ra-en trước. <sup>34</sup> Trong thời vua, ông Khi-ên, người Bết Ên, xây cất lại Giê-ri-khô, nhưng ông đã phải mất người con đầu lòng là A-vi-ram, khi đặt nền, và mất đứa con út là Xơ-gúp, khi dựng cửa, như lời Ðức Chúa đã dùng ông Giô-suê, con ông Nun, mà phán.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">V. Truyện Ngôn Sứ Ê-Li-A</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Cơn Ðại Hạn</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Báo trước tai ương</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ê-li-a, người Tít-be, trong số dân cư ngụ tại Ga-la-át, nói với vua A-kháp rằng: &#8220;Có Ðức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của Ít-ra-en, Ðấng tôi phục vụ: trong những năm sắp tới, sẽ chẳng có mưa, có sương, nếu tôi không ra lệnh.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tại suối Cơ-rít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Có lời Ðức Chúa phán với ông như sau: <sup>3</sup> &#8220;Ngươi hãy bỏ đây đi về phía đông, và ẩn mình trong thung lũng Cơ-rít, phía đông sông Gio-đan. <sup>4</sup> Ngươi sẽ uống nước suối. Ta đã truyền cho quạ nuôi ngươi ở đấy.&#8221; <sup>5</sup> Ông ra đi và làm như Ðức Chúa truyền: là đến ở thung lũng Cơ-rít, phía đông sông Gio-đan. <sup>6</sup> Buổi sáng, quạ mang bánh và thịt cho ông; rồi buổi chiều, cũng mang bánh và thịt cho ông. Ông uống nước suối.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tại Xa-rép-ta. Phép lạ bột và dầu.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nhưng sau một thời gian, suối cạn khô, vì trong xứ không có mưa. <sup>8</sup> Bấy giờ có lời Ðức Chúa phán bảo ông: <sup>9</sup> &#8220;Ngươi hãy đứng dậy đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy. Này Ta truyền cho một bà goá ở đó nuôi ngươi.&#8221; <sup>10</sup> Ông liền đứng dậy đi Xa-rép-ta. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và nói: &#8220;Bà làm ơn đem bình lấy cho tôi chút nước để tôi uống.&#8221; <sup>11</sup> Bà ấy liền đi lấy nước. Ông gọi bà và nói: &#8220;Bà làm ơn lấy cho tôi miếng bánh nữa!&#8221; <sup>12</sup> Bà trả lời: &#8220;Có Ðức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ông tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết.&#8221; <sup>13</sup> Ông Ê-li-a nói với bà: &#8220;Bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói. Nhưng trước tiên, bà hãy lấy những thứ đó mà làm cho tôi một chiếc bánh nhỏ, và đem ra cho tôi, rồi sau đó bà sẽ làm cho bà và con bà. <sup>14</sup> Vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en phán thế này:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Hũ bột sẽ không vơi</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vò dầu sẽ chẳng cạn</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho đến ngày Ðức Chúa</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đổ mưa xuống trên mặt đất.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bà ấy đi và làm như ông Ê-li-a nói; thế là bà ấy cùng với ông Ê-li-a và con bà có đủ ăn lâu ngày. <sup>16</sup> Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Ðức Chúa đã dùng ông Ê-li-a mà phán.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hồi sinh đứa con của bà goá</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Sau các sự việc đó, đứa con trai của bà ngã bệnh. Bệnh tình trầm trọng đến nỗi nó tắt thở. <sup>18</sup> Bà nói với ông Ê-li-a: &#8220;Hỡi người của Thiên Chúa, việc gì đến ông mà ông tới nhà tôi để nhắc lại tội tôi, và làm cho con tôi phải chết?&#8221; <sup>19</sup> Ông Ê-li-a trả lời: &#8220;Bà đưa cháu cho tôi.&#8221; Ông bồng lấy đứa trẻ bà đang ẵm trong tay, đem lên phòng trên chỗ ông ở, và đặt nó nằm lên giường. <sup>20</sup> Rồi ông kêu cầu Ðức Chúa rằng: &#8220;Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của con. Chúa nỡ hại cả bà goá đã cho con ở nhờ, mà làm cho con bà ấy phải chết sao?&#8221; <sup>21</sup> Ba lần ông nằm lên trên đứa trẻ, và kêu cầu Ðức Chúa rằng: &#8220;Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của con, xin cho hồn vía đứa trẻ này lại trở về với nó!&#8221; <sup>22</sup> Ðức Chúa nghe tiếng ông Ê-li-a kêu cầu, hồn vía đứa trẻ trở về với nó, và nó sống. <sup>23</sup> Ông Ê-li-a liền bồng đứa trẻ từ phòng trên xuống nhà dưới, trao cho mẹ nó, và nói: &#8220;Bà xem, con bà đang sống đây!&#8221; <sup>24</sup> Bà nói với ông Ê-li-a: &#8220;Vâng, bây giờ tôi biết ông là người của Thiên Chúa, và lời Ðức Chúa do miệng ông nói ra là đúng.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc gặp gỡ giữa ông Ê-li-a và ông Ô-vát-gia-hu</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thời gian dài qua đi, lại có lời Ðức Chúa phán với ông Ê-li-a vào năm thứ ba, rằng: &#8220;Ngươi hãy đi tới gặp A-kháp, Ta sẽ cho mưa xuống trên mặt đất.&#8221; <sup>2</sup> Ông Ê-li-a đi tới gặp vua A-kháp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Bấy giờ, vua A-kháp kêu ông Ô-vát-gia-hu, quản đốc hoàng cung vào. Ông Ô-vát-gia-hu là người rất kính sợ Ðức Chúa; <sup>4</sup> vì khi bà I-de-ven giết hại các ngôn sứ của Ðức Chúa, ông Ô-vát-gia-hu đã đem một trăm ngôn sứ giấu từng năm mươi người một trong những cái hang rồi cung cấp bánh và nước cho họ. <sup>5</sup> Vậy, vua A-kháp nói với ông Ô-vát-gia-hu: &#8220;Ngươi hãy đi khắp xứ, đến tất cả các mạch nước và các suối, may ra chúng ta sẽ tìm được cỏ, hầu nuôi sống lừa ngựa, bằng không, súc vật sẽ chết hết.&#8221; <sup>6</sup> Họ chia nhau đi rảo quanh khắp xứ. Một mình vua A-kháp đi một đường, và một mình ông Ô-vát-gia hu đi một nẻo. <sup>7</sup> Ông Ô-vát-gia-hu đang đi, thì này ông Ê-li-a đón gặp ông. Khi nhận ra Ê-li-a, ông liền phục xuống đất và nói: &#8220;Thưa ngài, ngài có phải là Ê-li-a không?&#8221; <sup>8</sup> Ông này đáp: &#8220;Tôi đây! Ông hãy đi nói với chủ của ông rằng: Ê-li-a đang ở đây!&#8221; <sup>9</sup> Ông Ô-vát-gia-hu thưa: &#8220;Tôi có tội gì mà ngài tính nộp tôi tớ ngài vào tay vua A-kháp để vua ấy giết tôi? <sup>10</sup> Có Ðức Chúa, Thiên Chúa hằng sống của ngài! Không có dân nào, nước nào mà chủ tôi lại đã không sai người tới đó để lùng bắt ngài; khi người ta nói: &#8220;Không có&#8221;, thì vua bắt nước đó và dân đó phải thề rằng đã không tìm thấy ngài. <sup>11</sup> Thế mà bây giờ ngài lại bảo tôi: đi nói với chủ của ông: Ê-li-a đang ở đây. <sup>12</sup> Rồi khi tôi bỏ ngài ra đi, thần khí của Ðức Chúa sẽ đưa ngài đi đâu tôi chẳng biết, còn tôi thì phải đi báo cáo cho vua A-kháp, và khi không gặp được ngài, thì vua sẽ giết tôi, mà tôi thì từ niên thiếu vẫn kính sợ Ðức Chúa. <sup>13</sup> Ngài lại không được người ta cho biết việc tôi đã làm, khi bà I-de-ven sát hại các ngôn sứ của Ðức Chúa sao? Tôi đã giấu một trăm người trong số các ngôn sứ của Ðức Chúa, từng năm mươi người một, trong các hang, và đã cung cấp bánh và nước cho họ. <sup>14</sup> Và bây giờ ngài bảo tôi: Hãy đi nói với chủ ông: ông Ê-li-a đang ở đây, để vua ấy giết tôi.&#8221; <sup>15</sup> Nhưng ông Ê-li-a nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống của các đạo binh, Ðấng tôi phục vụ! Ngay hôm nay tôi sẽ ra mắt vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Ê-li-a và vua A-kháp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Ô-vát-gia-hu đi gặp vua A-kháp và báo cho vua biết sự việc. Vua A-kháp đi đón ông Ê-li-a. <sup>17</sup> Khi nhận ra ông Ê-li-a, vua A-kháp nói với ông rằng: &#8220;Tên mang hoạ cho Ít-ra-en, nhà ngươi đấy phải không?&#8221; <sup>18</sup> Ông đáp: &#8220;Tôi không mang hoạ cho Ít-ra-en, nhưng chính là ngài và nhà thân phụ ngài, vì các người đã bỏ không giữ mệnh lệnh Ðức Chúa truyền, còn ngài thì đã đi theo các thần Ba-an. <sup>19</sup> Bây giờ, ngài hãy cho triệu tập toàn dân Ít-ra-en lại bên tôi ở núi Các-men, cùng với bốn trăm năm mươi ngôn sứ của thần Ba-an và bốn trăm ngôn sứ của thần A-sê-ra, những người được hưởng lộc của bà I-de-ven.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hy lễ trên núi Các-men</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Vua A-kháp sai người đi mời toàn thể con cái Ít-ra-en và triệu tập các ngôn sứ trên núi Các-men. <sup>21</sup> Bấy giờ, ông Ê-li-a đến bên dân và nói: &#8220;Các ngươi nhảy khập khiễng hai chân cho tới bao giờ? Nếu Ðức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Ba-an thì cứ theo nó!&#8221; Nhưng dân chúng không đáp lại lời nào. <sup>22</sup> Ông Ê-li-a lại nói với dân: &#8220;Chỉ sót lại mình tôi là ngôn sứ của Ðức Chúa, còn ngôn sứ của Ba-an có những bốn trăm năm mươi người. <sup>23</sup> Hãy cho chúng tôi hai con bò mộng; họ hãy chọn lấy một con, chặt ra và đặt trên củi, nhưng đừng châm lửa; tôi cũng làm thịt con bò kia, rồi đặt trên củi, nhưng sẽ không châm lửa. <sup>24</sup> Ðoạn các ngươi hãy kêu cầu danh thần của các ngươi; còn tôi, tôi kêu cầu danh Ðức Chúa. Vị thần nào đáp lại bằng lửa thì vị đó chính là Thiên Chúa. Toàn dân trả lời và nói: &#8220;Ðề nghị hay đó!&#8221; <sup>25</sup> Bấy giờ, ông Ê-li-a nói với các ngôn sứ Ba-an: &#8220;Các người chọn lấy một con bò và làm trước đi, vì các người đông hơn. Rồi hãy kêu cầu danh thần của các người nhưng đừng châm lửa.&#8221; <sup>26</sup> Vậy, họ lấy con bò người ta đưa cho họ, làm thịt, rồi kêu cầu danh thần Ba-an từ sáng tới trưa: &#8220;Lạy thần Ba-an, xin đáp lời chúng tôi!&#8221; Nhưng không một tiếng nói, không một ai trả lời, và họ nhảy khập khiễng bên cạnh bàn thờ họ đã dựng. <sup>27</sup> Ðến trưa, ông Ê-li-a chế nhạo họ rằng: &#8220;Kêu lớn tiếng lên, vì người là một vị thần mà! Người đang mải suy nghĩ, hay là đi vắng hoặc trẩy đường xa; có khi người đang ngủ, thì sẽ thức dậy thôi!&#8221; <sup>28</sup> Họ càng kêu lớn tiếng hơn và theo thói tục của họ, họ dùng gươm, giáo rạch mình đến chảy máu. <sup>29</sup> Quá trưa rồi mà họ vẫn tiếp tục nói liên miên cho tới giờ dâng lễ; nhưng vẫn không một tiếng nói, không ai trả lời, không người để ý.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Bấy giờ ông Ê-li-a nói với toàn dân: &#8220;Các người hãy lại đây.&#8221; Toàn dân tiến lại gần ông. Ông dọn lại bàn thờ Ðức Chúa đã bị phá huỷ. <sup>31</sup> Ông Ê-li-a lấy mười hai phiến đá, theo số các chi tộc con cháu ông Gia-cóp, người đã được Ðức Chúa phán bảo rằng: &#8220;Tên ngươi sẽ là Ít-ra-en.&#8221; <sup>32</sup> Ông dùng các phiến đá ấy xây lại một bàn thờ kính Ðức Chúa. Ông đào một đường mương chung quanh bàn thờ rộng cỡ hai thúng hạt giống. <sup>33</sup> Ông xếp củi lên, rồi làm thịt con bò mộng và đặt trên đống củi. <sup>34</sup> Ông nói: &#8220;Hãy đổ nước đầy bốn lu và tưới lên lễ vật và củi.&#8221; Họ làm như vậy. Ông nói: &#8220;Lần thứ hai nữa&#8221;, họ làm lần thứ hai. Ông lại nói: &#8220;Lần thứ ba!&#8221; và họ làm lần thứ ba. <sup>35</sup> Nước chảy tràn quanh bàn thờ, khiến đường mương cũng đầy nước. <sup>36</sup> Ðến giờ dâng lễ, ngôn sứ Ê-li-a tiến ra và nói: &#8220;Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác và Ít-ra-en! Ước chi hôm nay người ta biết rằng trong Ít-ra-en Ngài là Thiên Chúa và con là tôi tớ Ngài. Cũng vì lời Ngài phán mà con đã làm tất cả các việc này. <sup>37</sup> Xin đáp lời con, lạy Ðức Chúa, xin đáp lời con, để dân này nhận biết Ngài là Ðức Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ.&#8221; <sup>38</sup> Bấy giờ lửa của Ðức Chúa ập xuống, thiêu rụi của lễ, củi, đá và bụi, cả nước trong mương cũng hút cạn luôn. <sup>39</sup> Toàn dân thấy vậy, liền phủ phục sát đất và nói: &#8220;Ðức Chúa quả là Thiên Chúa! Ðức Chúa quả là Thiên Chúa!&#8221; <sup>40</sup> Ông Ê-li-a nói với họ: &#8220;Bắt lấy các ngôn sứ Ba-an, đừng để tên nào thoát.&#8221; Họ bắt lấy chúng và ông Ê-li-a đem giết chúng tại suối Ki-sôn.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời đại hạn chấm dứt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Ông Ê-li-a nói với vua A-kháp: &#8220;Xin mời vua lên mà ăn uống, bởi vì có tiếng mưa rào!&#8221; <sup>42</sup> Vua A-kháp liền lên ăn uống; còn ông Ê-li-a thì lên đỉnh Các-men, ông cúi xuống đất, gục mặt vào hai đầu gối. <sup>43</sup> Ðoạn ông bảo đứa tiểu đồng của ông: &#8220;Con đi lên và nhìn về phía biển.&#8221; Nó đi lên, nhìn và nói: &#8220;Không có gì cả!&#8221; Ông bảo: &#8220;Hãy trở lại bảy lần.&#8221; <sup>44</sup> Lần thứ bảy, nó nói: &#8220;Kìa có một đám mây nhỏ bằng bàn tay người đang từ biển bốc lên.&#8221; Ông nói: &#8220;Con hãy lên thưa với vua A-kháp: xin vua thắng xe và xuống kẻo bị kẹt mưa.&#8221; <sup>45</sup> Lập tức trời kéo mây đen nghịt và nổi gió, rồi trút mưa lớn. Vua A-kháp cỡi xe đi Gít-rơ-en. <sup>46</sup> Tay Ðức Chúa đặt trên ông Ê-li-a; ông thắt lưng và chạy trước vua A-kháp cho tới lúc vào Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Ngôn Sứ Ê-Li-A Tại Khô-Rếp</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trên đường lên núi Khô-rếp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua A-kháp kể cho I-de-ven nghe mọi chuyện ông Ê-li-a đã làm và tất cả sự việc ông dùng gươm hạ sát hết các ngôn sứ. <sup>2</sup> Bà I-de-ven liền sai sứ giả đến nói với ông Ê-li-a rằng: &#8220;Xin các thần minh làm cho ta thế này, và còn hơn thế nữa, nếu giờ này sáng mai ta không biến mạng ngươi ra như mạng một trong các người ấy.&#8221; <sup>3</sup> Thấy vậy, ông Ê-li-a trỗi dậy, ra đi để thoát mạng. Khi tới Bơ-e Se-va thuộc Giu-đa, ông để đứa tiểu đồng lại đấy, <sup>4</sup> còn ông thì đi một ngày đường trong sa mạc. Ông đến ngồi dưới gốc một cây kim tước. Ông xin cho được chết và nói: &#8220;Lạy Ðức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.&#8221; <sup>5</sup> Rồi ông nằm dưới cây kim tước đó và thiếp đi. Nhưng này có một thiên sứ đụng vào người ông và nói: &#8220;Dậy mà ăn!&#8221; <sup>6</sup> Ông đưa mắt nhìn thì thấy ở phía đầu ông có một chiếc bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước. Ông ăn bánh, uống nước, rồi lại nằm xuống. <sup>7</sup> Thiên sứ của Ðức Chúa trở lại lần nữa, đụng vào người ông và nói: &#8220;Dậy mà ăn, vì ngươi còn phải đi đường xa.&#8221; <sup>8</sup> Ông dậy, ăn bánh và uống nước. Rồi nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khô-rếp, là núi của Thiên Chúa.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc gặp gỡ Thiên Chúa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ê-li-a ngươi làm gì ở đây?&#8221; <sup>10</sup> Ông thưa: &#8220;Lòng nhiệt thành đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ còn sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng sống con.&#8221; <sup>11</sup> Người nói với ông: &#8220;Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Ðức Chúa. Kìa Ðức Chúa đang đi qua.&#8221; Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Ðức Chúa, nhưng Ðức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Ðức Chúa không ở trong trận động đất. <sup>12</sup> Sau động đất là lửa, nhưng Ðức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. <sup>13</sup> Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: &#8220;Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?&#8221; <sup>14</sup> Ông thưa: &#8220;Lòng nhiệt thành đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ngươi hãy đi con đường ngươi đã đi trước qua sa mạc cho tới Ða-mát mà về. Tới nơi, ngươi sẽ xức dầu phong Kha-da-ên làm vua A-ram; <sup>16</sup> còn Giê-hu con của Nim-si, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Ít-ra-en. Ê-li-sa con Sa-phát, người A-vên Mơ-khô-la, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi. <sup>17</sup> Kẻ thoát gươm của Kha-da-ên sẽ bị Giê-hu giết; người thoát tay Giê-hu sẽ bị Ê-li-sa giết. <sup>18</sup> Nhưng Ta, Ta sẽ dành ra cho Ta bảy nghìn người trong Ít-ra-en: tất cả những kẻ đã không hề bái gối trước Ba-an, những môi miệng không hề hôn kính nó.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ê-li-sa được gọi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Ê-li-a bỏ đó ra đi và gặp ông Ê-li-sa là con ông Sa-phát đang cày ruộng; trước mặt ông Ê-li-sa có mười hai cặp bò; chính ông thì đi theo cặp thứ mười hai. Ông Ê-li-a đi ngang qua, ném tấm áo choàng của mình lên người ông Ê-li-sa. <sup>20</sup> Ông này liền để bò lại, chạy theo ông Ê-li-a và nói: &#8220;Xin cho con về hôn cha mẹ để từ giã, rồi con sẽ đi theo ông.&#8221; Ông Ê-li-a trả lời: &#8220;Cứ về đi! Thầy có làm gì anh đâu?&#8221; <sup>21</sup> Ông Ê-li-sa bỏ ông Ê-li-a mà về, bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà. Rồi ông đứng dậy, đi theo ông Ê-li-a và phục vụ ông.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Các Cuộc Chiến Với Người A-Ram</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vây hãm Sa-ma-ri</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ben Ha-đát, vua A-ram tập họp tất cả quân đội lại. Cùng với ba mươi hai vua, có cả xe lẫn ngựa, vua tiến lên vây hãm Sa-ma-ri và tấn công thành ấy. <sup>2</sup> Vua sai sứ giả vào thành yết kiến A-kháp, vua Ít-ra-en, <sup>3</sup> và nói với vua này rằng: &#8220;Ben Ha-đát nói thế này: bạc, vàng của ông thuộc về ta; các người vợ đẹp con khôn của ông cũng thuộc về ta.&#8221; <sup>4</sup> Vua Ít-ra-en trả lời và nói: &#8220;Xin tuân lời ngài, thưa đức vua, chúa thượng tôi! Bản thân tôi và mọi sự tôi có đều thuộc về ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các sứ giả trở lại và nói: &#8220;Vua Ben Ha-đát bảo thế này: Ta đã sai sứ nói với ông rằng: &#8220;Bạc vàng của ông, phải nộp cho ta; các vợ con của ông, cũng phải nộp cho ta&#8221;. <sup>6</sup> Ngày mai giờ này thế nào ta cũng sai tôi tớ ta đến với ông; chúng sẽ lục soát nhà ông và nhà tôi tớ ông. Những gì chúng cho là quý, chúng sẽ lấy hết và đem đi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Bấy giờ vua Ít-ra-en triệu tập tất cả kỳ mục trong xứ lại và nói: &#8220;Các ông phải biết và thấy rõ là vua ấy đang tìm cách hại chúng ta, vì ông đã sai người đến đòi ta phải nộp vợ con, bạc vàng của ta, dù ta đã chẳng từ chối.&#8221; <sup>8</sup> Tất cả kỳ mục và toàn dân thưa với vua: &#8220;Xin ngài đừng nghe, cũng đừng chấp thuận!&#8221; <sup>9</sup> Vua trả lời các sứ giả của vua Ben Ha-đát rằng: &#8220;Xin các ông về thưa với đức vua, chúa thượng tôi: tất cả những gì ngài đã sai sứ nói với tôi tớ ngài đây lần đầu, thì tôi sẽ làm; còn chuyện này thì tôi không thể làm được.&#8221; Các sứ giả ra về mang theo lời phúc đáp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Bấy giờ vua Ben Ha-đát sai sứ đến nói với vua: &#8220;Xin các thần minh làm cho ta thế này và còn hơn thế nữa, nếu ở Sa-ma-ri có đủ bụi cho tất cả đám dân theo ta mỗi người một nắm!&#8221; <sup>11</sup> Nhưng vua Ít-ra-en đáp lại rằng: &#8220;Hãy bảo kẻ đang thắt lưng, chớ tự hào như kẻ đã cởi thắt lưng ra!&#8221; <sup>12</sup> Khi vua Ben Ha-đát nghe biết việc này -bấy giờ vua đang uống rượu với các vua trong lều- thì ra lệnh cho bầy tôi của vua: &#8220;Chuẩn bị!&#8221; Và họ chuẩn bị tấn công thành.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến thắng của Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nhưng này, có một ngôn sứ đến gặp A-kháp, vua Ít-ra-en, và thưa với vua: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ngươi có thấy đám dân đông đảo kia không? Này, hôm nay Ta trao chúng vào tay ngươi, để ngươi biết Ta là Ðức Chúa.&#8221; <sup>14</sup> Vua A-kháp nói: &#8220;Nhờ ai?&#8221; Ngôn sứ đáp: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Nhờ trai tráng dưới quyền các vị chỉ huy khu vực.&#8221; Vua lại hỏi: &#8220;Ai sẽ khai chiến?&#8221; Ngôn sứ trả lời: &#8220;Chính ngài!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Vua A-kháp duyệt lại trai tráng dưới quyền các vị chỉ huy khu vực, tính được hai trăm ba mươi hai người. Ngoài số người này, vua cũng duyệt lại toàn quân, tất cả con cái Ít-ra-en, tính được bảy ngàn. <sup>16</sup> Họ xuất quân vào buổi trưa lúc Ben Ha-đát đang say sưa trong lều với ba mươi hai vua đồng minh của mình. <sup>17</sup> Các trai tráng dưới quyền các vị chỉ huy khu vực xuất quân trước. Vua Ben Ha-đát sai người đi xem xét, và họ báo cáo với vua rằng: &#8220;Có những người đi ra từ thành Sa-ma-ri.&#8221; <sup>18</sup> Vua nói: &#8220;Nếu chúng đi ra để cầu hoà, thì hãy bắt sống chúng: còn nếu chúng đi ra để khiêu chiến, thì cũng bắt sống luôn!&#8221; <sup>19</sup> Vậy các trai tráng dưới quyền các vị chỉ huy khu vực cùng với đoàn quân theo sau tiến ra ngoài thành. <sup>20</sup> Họ đánh nhau. Quân A-ram tháo chạy, bị quân Ít-ra-en đuổi theo; Ben Ha-đát, vua A-ram cỡi ngựa chạy thoát thân cùng với mấy kỵ binh. <sup>21</sup> Vua Ít-ra-en cũng ra và đánh giết ngựa xe, gây tổn thất nặng nề cho A-ram.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời gian sau đó</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Vị ngôn sứ đến gặp vua Ít-ra-en và thưa với vua: &#8220;Mời vua đi! Xin vua can đảm lên! Xin cân nhắc và xem xét điều ngài phải thực hiện, vì mùa xuân tới vua A-ram sẽ tấn công ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Các bầy tôi của vua A-ram thưa với vua rằng: &#8220;Thần của chúng là thần đồi núi, vì thế chúng mạnh hơn chúng ta. Nhưng nếu chúng ta đánh nhau với chúng dưới đồng bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng. <sup>24</sup> Vậy, xin ngài làm thế này là truất phế các vua và đặt các quan đầu tỉnh thay vào. <sup>25</sup> Còn ngài, thì xin lập một đạo quân như đạo quân đã bỏ ngài trước đây, với số ngựa và xe cũng như thế. Chúng ta sẽ giao tranh với chúng nơi đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng.&#8221; Vua nghe và làm như lời họ nói.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến thắng tại A-phếch</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Khi mùa xuân tới, vua Ben Ha-đát kiểm tra người A-ram và tiến lên A-phếch giao chiến với Ít-ra-en. <sup>27</sup> Con cái Ít-ra-en cũng được kiểm tra và được tiếp tế lương thực; họ đã lên đường nghênh chiến. Con cái Ít-ra-en như hai bầy dê cái đóng trại đối diện với chúng, trong khi người A-ram tràn ngập khắp xứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Bấy giờ người của Thiên Chúa đến gặp vua Ít-ra-en và nói: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: vì người A-ram nói Ðức Chúa là thần núi, chứ không phải thần thung lũng nên Ta sẽ trao tất cả đám quân đông đảo ấy vào tay ngươi, để các ngươi biết Ta là Ðức Chúa.&#8221; <sup>29</sup> Hai bên đóng trại đối diện nhau trong bảy ngày. Ngày thứ bảy giao tranh bùng nổ; con cái Ít-ra-en giết được một trăm ngàn bộ binh của A-ram trong một ngày. <sup>30</sup> Những kẻ sống sót chạy trốn về A-phếch vào nội thành; nhưng tường thành đổ xuống đè lên hai mươi bảy ngàn người còn sót lại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua Ben Ha-đát cũng trốn vào thành, ẩn núp hết chỗ này đến chỗ khác. <sup>31</sup> Bề tôi của vua nói với vua: &#8220;Này, chúng tôi nghe nói các vua nhà Ít-ra-en là những vua nhân từ; chúng ta hãy lấy vải bố thắt lưng và cột dây lên đầu rồi ra trình diện vua Ít-ra-en. Có khi vua ấy sẽ để cho ngài an toàn tính mệnh.&#8221; <sup>32</sup> Vậy họ lấy vải bố thắt lưng và cột dây lên đầu, rồi ra trình diện vua Ít-ra-en và nói: &#8220;Tôi tớ ngài là Ben Ha-đát nói: Xin để tôi sống!&#8221; Vua đáp: &#8220;Thế ra ông ấy còn sống ư? Ông là anh em ta đó.&#8221; <sup>33</sup> Những người kia cảm thấy có điềm tốt, liền vội vàng dựa vào lời ấy mà nói: &#8220;Vua Ben Ha-đát là anh em của ngài!&#8221; Vua nói: &#8220;Các ngươi đi tìm ông ấy cho ta.&#8221; Vua Ben Ha-đát ra gặp vua A-kháp. Vua A-kháp mời vua Ben Ha-đát lên xe của mình. <sup>34</sup> Vua Ben Ha-đát nói: &#8220;Các thành thân phụ tôi đã lấy của thân phụ ngài, tôi xin hoàn lại; xin ngài cứ dựng lên những dãy phố tại Ða-mát, như thân phụ tôi đã làm ở Sa-ma-ri.&#8221; Vua A-kháp nói: &#8220;Còn tôi, dựa vào giao ước, tôi sẽ để cho ngài đi.&#8221; Vậy vua A-kháp lập một giao ước với ông và để cho ông đi.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Một ngôn sứ lên án cách cư xử của vua A-kháp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Theo lệnh Ðức Chúa, một người trong nhóm các ngôn sứ nói với bạn mình: &#8220;Ðánh tôi đi.&#8221; Nhưng người kia không chịu đánh. <sup>36</sup> Ông này nói: &#8220;Vì anh không vâng nghe tiếng Ðức Chúa, thì này khi anh bỏ tôi mà đi, một con sư tử sẽ vồ chết anh.&#8221; Khi người ấy bỏ bạn mà đi, thì gặp một con sư tử và bị nó vồ chết. <sup>37</sup> Vị ngôn sứ gặp một người khác, liền nói: &#8220;Ðánh tôi đi!&#8221; Người ấy đánh ông, làm ông bị thương. <sup>38</sup> Vị ngôn sứ ra đường chờ vua &#8211; ông cột tấm băng bên trên mắt để khỏi bị nhận diện -. <sup>39</sup> Khi vua đi qua, ông kêu lên: &#8220;Tôi tớ của ngài ra trận thì bỗng có kẻ bỏ hàng ngũ dẫn đến cho tôi một người, và bảo: &#8220;Hãy canh giữ người này! Nếu mất nó, thì mạng anh sẽ đền mạng nó, hoặc anh sẽ phải trả ba mươi ký bạc. <sup>40</sup> Thế nhưng, khi tôi tớ ngài đang bận chuyện này chuyện khác, thì nó biến mất.&#8221; Vua Ít-ra-en liền nói với người ấy: &#8220;Ngươi đã phán quyết rồi đó! Chính ngươi đã tuyên án!&#8221; <sup>41</sup> Người ấy vội vàng gỡ tấm băng trên mắt, và vua Ít-ra-en nhận ra đó là một trong các ngôn sứ. <sup>42</sup> Người ấy nói với vua: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Vì ngươi đã để cho kẻ bị Ta lên án biệt tru, thoát khỏi tay ngươi, thì mạng ngươi sẽ đền mạng nó, dân ngươi sẽ thay cho dân nó.&#8221; <sup>43</sup> Vua Ít-ra-en buồn rầu và bực bội trở về nhà. Vua vào Sa-ma-ri.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Vườn Nho Của Ông Na-Vốt</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Na-vốt từ chối, không chịu nhượng vườn nho của mình</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau những sự việc đó, thì xảy ra chuyện ông Na-vốt người Gít-rơ-en có một vườn nho bên cạnh cung điện vua A-kháp, vua Sa-ma-ri. <sup>2</sup> Vua A-kháp nói với ông Na-vốt rằng: &#8220;Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho ta, để ta làm vườn rau, vì nó ở ngay sát cạnh nhà ta. Ðể bù lại, ta sẽ cho ngươi một vườn nho tốt hơn, hay là, nếu ngươi muốn, giá bao nhiêu, ta sẽ trả bằng bạc.&#8221; <sup>3</sup> Nhưng ông Na-vốt thưa với vua A-kháp: &#8220;Xin Ðức Chúa đừng để tôi nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho ngài!&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-kháp và hoàng hậu I-de-ven</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua A-kháp trở về nhà buồn rầu và bực bội vì lời ông Na-vốt, người Gít-rơ-en đã nói với vua: &#8220;Tôi sẽ không nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho vua.&#8221; Vua nằm trên giường, quay mặt đi, và không chịu ăn uống gì. <sup>5</sup> Hoàng hậu I-de-ven đi vào, nói với vua: &#8220;Tại sao tâm thần vua buồn rầu, và vua không chịu ăn uống gì như vậy?&#8221; <sup>6</sup> Vua trả lời: &#8220;Tôi đã nói chuyện với Na-vốt người Gít-rơ-en và bảo nó: Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho ta mà lấy tiền, hoặc, nếu ngươi muốn, ta sẽ đổi cho một vườn nho khác. Nhưng nó lại nói: &#8220;Tôi không nhượng vườn nho của tôi cho vua được.&#8221; <sup>7</sup> Bấy giờ hoàng hậu I-de-ven nói với vua: &#8220;Vua cai trị Ít-ra-en hay thật! Mời vua dậy mà ăn cho lòng phấn khởi lên! Thiếp sẽ tặng vua vườn nho của Na-vốt người Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Na-vốt bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Bấy giờ, bà nhân danh vua A-kháp viết thơ, rồi dùng con dấu của vua mà đóng ấn, và gửi cho các kỳ mục và thân hào cư ngụ trong thành với ông Na-vốt. <sup>9</sup> Trong thơ bà viết rằng: &#8220;Hãy công bố một thời kỳ chay tịnh và đặt Na-vốt ngồi ở hàng đầu dân chúng. <sup>10</sup> Hãy đặt hai đứa vô lại ngồi đối diện với nó, để chúng tố cáo nó: &#8220;Ông đã nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua. Và hãy đem nó ra ngoài ném đá cho chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Dân chúng, kỳ mục và thân hào cư ngụ trong thành làm theo lệnh bà I-de-ven như trong thơ bà đã viết gửi cho họ. <sup>12</sup> Họ công bố thời kỳ chay tịnh và đặt ông Na-vốt ngồi ở hàng đầu dân chúng. <sup>13</sup> Rồi có hai kẻ vô lại đi vào, ngồi đối diện với ông. Những kẻ vô lại ấy tố cáo ông Na-vốt trước mặt dân rằng: &#8220;Na-vốt đã nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua.&#8221; Họ liền đưa ông ra ngoài thành và ném đá ông. Ông đã chết. <sup>14</sup> Họ sai người đi nói với bà I-de-ven: &#8220;Na-vốt đã bị ném đá chết.&#8221; <sup>15</sup> Khi bà I-de-ven nghe biết ông Na-vốt đã bị ném đá chết, thì nói với vua A-kháp: &#8220;Xin vua đứng dậy và chiếm đoạt vườn nho của Na-vốt, người Gít-rơ-en, kẻ đã từ chối không chịu nhượng cho ngài để lấy tiền, vì Na-vốt không còn sống nữa, nó chết rồi.&#8221; <sup>16</sup> Khi nghe biết ông Na-vốt đã chết, vua A-kháp đứng dậy, xuống chiếm đoạt vườn nho của ông Na-vốt, người Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Ê-li-a tuyên cáo án lệnh của Thiên Chúa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Có lời Ðức Chúa phán với ông Ê-li-a, người Tít-be, rằng: <sup>18</sup> &#8220;Ngươi hãy đứng dậy, xuống gặp A-kháp, vua Ít-ra-en, ở Sa-ma-ri. Này, nó đang ở trong vườn nho của Na-vốt, vì nó đã xuống chiếm đoạt vườn nho ấy. <sup>19</sup> Ngươi hãy nói với nó rằng: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ngươi đã giết hại, lại còn chiếm đoạt nữa ư? &#8211; ngươi hãy nói với nó -, Ðức Chúa phán thế này: Tại chính nơi chó đã liếm máu Na-vốt, thì chó cũng sẽ liếm máu ngươi&#8221;.&#8221; <sup>20</sup> Vua A-kháp nói với ông Ê-li-a: &#8220;Hỡi kẻ thù của ta, ngươi đã bắt được ta.&#8221; Ông đáp: &#8220;Tôi đã bắt được ngài làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. <sup>21</sup> Này, Ta sẽ giáng tai hoạ xuống trên ngươi: Ta sẽ xoá sạch hậu duệ ngươi, Ta sẽ tiêu diệt các đàn ông con trai của A-kháp trong Ít-ra-en, đang bị ràng buộc hay được tự do. <sup>22</sup> Ta sẽ làm cho nhà ngươi nên như nhà Gia-róp-am, con của Nơ-vát, và như nhà Ba-sa con của A-khi-gia, vì ngươi đã chọc giận Ta và đã làm cho Ít-ra-en phạm tội.&#8221; <sup>23</sup> Ðức Chúa cũng tuyên án phạt I-de-ven rằng: &#8220;Chó sẽ ăn thịt I-de-ven trong cánh đồng Gít-rơ-en. <sup>24</sup> Kẻ nào thuộc về A-kháp mà chết trong thành thì sẽ bị chó ăn thịt, người chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa thây.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Thật, không hề có ai như vua A-kháp, đã liều lĩnh làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, vì bị hoàng hậu I-de-ven xúi giục. <sup>26</sup> Vua sẽ làm chuyện rất ghê tởm là đi theo các tượng thần, như dân E-mô-ri, những kẻ Ðức Chúa đã đuổi khuất mắt con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-kháp hối hận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Khi nghe những lời ấy, vua A-kháp xé áo mình ra, khoác áo vải bố bám sát vào thịt, ăn chay, nằm ngủ với bao bì và bước đi thiểu não. <sup>28</sup> Bấy giờ có lời Ðức Chúa phán với ông Ê-li-a, người Tít-be, rằng: <sup>29</sup> &#8220;Ngươi có thấy A-kháp đã hạ mình trước mặt Ta thế nào không? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta, nên Ta sẽ không giáng hoạ trong buổi sinh thời của nó, nhưng đến đời con nó, Ta sẽ giáng hoạ xuống nhà nó.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">5. Lại Giao Tranh Với Người A-Ram</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-kháp quyết định tấn công Ra-mốt Ga-la-át</strong> (2 Sb 18: 1-3)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Suốt ba năm, không có giao tranh giữa A-ram và Ít-ra-en. <sup>2</sup> Năm thứ ba, Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa, xuống thăm vua Ít-ra-en. <sup>3</sup> Vua Ít-ra-en nói với bề tôi mình rằng: &#8220;Các ngươi biết: Ra-mốt Ga-la-át là của chúng ta, thế mà chúng ta cứ để yên không lấy lại khỏi tay vua A-ram.&#8221; <sup>4</sup> Rồi vua nói với vua Giơ-hô-sa-phát: &#8220;Ngài có đi tấn công Ra-mốt Ga-la-át với tôi không?&#8221; Vua Giơ-hô-sa-phát nói với vua Ít-ra-en: &#8220;Tôi cũng làm như ngài, dân tôi cũng như dân ngài, ngựa của tôi cũng như ngựa của ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ngôn sứ tiên báo thành công</strong> (2 Sb 18: 4-11)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nhưng vua Giơ-hô-sa-phát nói với vua Ít-ra-en: &#8220;Hôm nay, xin ngài thỉnh vấn sấm ngôn của Ðức Chúa.&#8221; <sup>6</sup> Vua Ít-ra-en tập họp các ngôn sứ, khoảng bốn trăm người, và nói với họ: &#8220;Ta có phải đi đánh Ra-mốt Ga-la-át không hay là phải ngưng lại?&#8221; Họ thưa: &#8220;Xin vua cứ lên, Chúa sẽ trao thành ấy vào tay vua.&#8221; <sup>7</sup> Nhưng vua Giơ-hô-sa-phát nói: &#8220;Ở đây không có ngôn sứ nào khác của Ðức Chúa nữa, để chúng ta nhờ ông thỉnh vấn cho hay sao?&#8221; <sup>8</sup> Vua Ít-ra-en trả lời vua Giơ-hô-sa-phát: &#8220;Còn một người nữa chúng ta có thể nhờ thỉnh vấn Ðức Chúa được, nhưng tôi ghét ông ta, vì ông ta không hề tiên báo cho tôi điều lành, mà chỉ toàn điều dữ. Ðó là Mi-kha-giơ-hu, con của Gim-la.&#8221; Vua Giơ-hô-sa-phát nói: &#8220;Ðức vua đừng nói như vậy.&#8221; <sup>9</sup> Vua Ít-ra-en gọi một hoạn quan tới và bảo: &#8220;Mau đưa Mi-kha-giơ-hu, con của Gim-la, đến đây.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Vua Ít-ra-en và Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa, lúc ấy mỗi vua đang ngồi trên ngai, mình mặc cẩm bào, ở sân lúa tại cổng thành Sa-ma-ri; và tất cả các ngôn sứ đều đang nói liên miên trước mặt các vua. <sup>11</sup> Ông Xít-ki-gia, con ông Cơ-na-a-na, đã làm một cặp sừng bằng sắt và nói: &#8220;Ðức Chúa phán như sau: Với những chiếc sừng này, ngươi sẽ húc A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng.&#8221; <sup>12</sup> Và tất cả các ngôn sứ đều nói tiên tri như thế mà rằng: &#8220;Xin vua cứ đi lên Ra-mốt Ga-la-át là sẽ gặp may. Ðức Chúa sẽ trao thành ấy vào tay vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Mi-kha-giơ-hu báo trước cuộc thất trận</strong> (2 Sb 18: 12 -27)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người được sai đi mời ông Mi-kha-giơ-hu nói với ông rằng: &#8220;Này, lời các ngôn sứ đều đồng thanh báo cho vua điều may; mong sao lời của ông cũng giống như lời của họ. Xin ông cũng báo điều may.&#8221; <sup>14</sup> Ông Mi-kha-giơ-hu nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống! Ðức Chúa phán sao, tôi sẽ nói vậy.&#8221; <sup>15</sup> Rồi ông vào gặp vua, vua nói với ông: &#8220;Này, Mi-kha-giơ-hu, chúng ta có nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át không, hay là ngưng lại?&#8221; Ông thưa với vua: &#8220;Xin vua cứ lên, vua sẽ gặp may. Ðức Chúa sẽ trao thành ấy vào tay vua.&#8221; <sup>16</sup> Vua liền nói với ông: &#8220;Ðã bao lần, ta thề buộc ngươi là, nhân danh Ðức Chúa, ngươi chỉ được nói thật với ta?&#8221; <sup>17</sup> Ông Mi-kha-giơ-hu mới nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Tôi đã thấy toàn thể Ít-ra-en tán loạn trên núi</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">như chiên không người chăn</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðức Chúa phán: chúng không còn chủ nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai nấy hãy về nhà bình an!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Vua Ít-ra-en nói với vua Giơ-hô-sa-phát: &#8220;Tôi đã chẳng nói với ngài rằng: ông ta không hề tiên báo cho tôi điều may, mà chỉ toàn điều rủi đó sao?&#8221; <sup>19</sup> Ông Mi-kha-giơ-hu lại nói: &#8220;Vì thế, hãy nghe lời Ðức Chúa: tôi đã thấy Ðức Chúa ngự trên ngai, và toàn thể đạo thiên binh đứng chầu Người ở hai bên tả hữu. <sup>20</sup> Và Ðức Chúa phán: &#8220;Ai sẽ dụ A-kháp tiến lên, cho nó gục ngã tại Ra-mốt Ga-la-át? Và kẻ nói thế này, người nói thế kia. <sup>21</sup> Bấy giờ thần khí xuất hiện, đứng trước Ðức Chúa và nói: &#8220;Tôi sẽ dụ y. Ðức Chúa hỏi thần khí: &#8220;Bằng cách nào? <sup>22</sup> Thần khí đáp: &#8220;Tôi sẽ xuất hiện làm thần khí dối trá trên môi miệng tất cả các ngôn sứ của vua ấy. Ðức Chúa liền phán: &#8220;Ngươi sẽ lừa dối được nó và ngươi sẽ thành công. Cứ đi và làm như thế. <sup>23</sup> Này Ðức Chúa đã đặt thần khí dối trá trên môi miệng tất cả những ngôn sứ này của vua, vì Ðức Chúa đã phán quyết điều dữ hại vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Bấy giờ Xít-ki-gia-hu, con ông Cơ-na-a-na, đến gần vả vào mặt ông Mi-kha-giơ-hu và nói: &#8220;Thần khí của Ðức Chúa từ nơi ta đã qua ngả nào mà nói với mi?&#8221; <sup>25</sup> Ông Mi-kha-giơ-hu nói: &#8220;Rồi ngươi sẽ thấy vào ngày ngươi phải chui rúc hết phòng này sang phòng khác, để lẩn trốn.&#8221; <sup>26</sup> Vua Ít-ra-en liền nói: &#8220;Bắt lấy Mi-kha-giơ-hu và dẫn nó tới thị trưởng A-môn, và tới hoàng tử Giô-át. <sup>27</sup> Ngươi sẽ nói thế này: Ðức vua nói như sau: Giam tên này vào nhà tù và cho nó ăn uống ít thôi, cho tới khi ta về bình an.&#8221; <sup>28</sup> Ông Mi-kha-giơ-hu liền nói: &#8220;Nếu vua trở về bình an, thì Ðức Chúa đã không dùng tôi mà phán.&#8221; Ông nói tiếp: &#8220;Toàn thể các dân tộc, xin hãy nghe cho!&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-kháp tử trận tại Ra-mốt Ga-la-át</strong> (2 Sb 18: 28 -34)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Vua Ít-ra-en và Giơ-hô-sa-phát, vua Giu-đa, lên Ra-mốt Ga-la-át. <sup>30</sup> Vua Ít-ra-en nói với vua Giơ-hô-sa-phát: &#8220;Tôi sẽ cải trang và ra trận; còn ngài, thì xin cứ mặc áo của ngài.&#8221; Vua Ít-ra-en cải trang và ra trận. <sup>31</sup> Vua A-ram đã ra lệnh cho ba mươi hai người chỉ huy chiến xa của vua rằng: &#8220;Các ngươi không đánh ai, dù nhỏ hay lớn, chỉ đánh một mình vua Ít-ra-en thôi.&#8221; <sup>32</sup> Khi các người chỉ huy chiến xa nhìn thấy vua Giơ-hô-sa-phát thì nói: &#8220;Ðúng là vua Ít-ra-en đây rồi,&#8221; và dồn lực lượng tấn công vua, nhưng vua Giơ-hô-sa-phát thét lên. <sup>33</sup> Khi thấy rằng đó không phải là vua Ít-ra-en thì các người chỉ huy chiến xa không đuổi theo nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Một người giương cung bắn đại, lại trúng ngay vua Ít-ra-en vào giữa khớp của áo giáp. Vua liền bảo người đánh xe: &#8220;Quay xe lại, đưa ta ra khỏi chiến trường, vì ta đã bị thương.&#8221; <sup>35</sup> Nhưng trận chiến hôm ấy trở nên ác liệt, và người ta đã cho vua đứng trên xe, đối diện với quân A-ram, và đến chiều thì vua chết; máu từ vết thương chảy cả vào lòng xe. <sup>36</sup> Lúc mặt trời lặn, có tiếng kêu vang lên khắp trại rằng: &#8220;Ai nấy về thành mình, ai nấy về xứ mình! <sup>37</sup> Vì vua đã chết!&#8221; Họ đưa vua về Sa-ma-ri và chôn cất vua tại đó. <sup>38</sup> Người ta xối nước rửa xe, cạnh hồ nước ở Sa-ma-ri; chó liếm máu vua và gái điếm tắm rửa trong hồ ấy, đúng như lời Ðức Chúa đã phán.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">6. Sau Khi Vua A-Kháp Qua Ðời</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết thúc triều vua A-kháp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Các truyện còn lại về vua A-kháp, các việc vua làm, điện ngà vua xây, các thành vua kiến thiết đều đã được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Ít-ra-en. <sup>40</sup> Vua A-kháp an nghỉ với tổ tiên. Con vua là A-khát-gia-hu lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triều đại vua Giơ-hô-sa-phát ở Giu-đa</strong> (876-848) (2 Sb 20:31-21:1)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Năm thứ tư triều A-kháp, vua Ít-ra-en, Giơ-hô-sa-phát con vua A-xa lên làm vua Giu-đa. <sup>42</sup> Giơ-hô-sa-phát lên ngôi vua khi được ba mươi lăm tuổi, vua trị vì tại Giê-ru-sa-lem hai mươi lăm năm. Thân mẫu vua là bà A-du-va, ái nữ ông Sin-khi. <sup>43</sup> Vua hoàn toàn theo đường lối phụ vương A-xa đã đi, không sai trệch, tức là làm điều ngay chính trước mắt Ðức Chúa. <sup>44</sup> Thế nhưng, các nơi cao không biến đi hết, dân chúng vẫn tiếp tục tế lễ và dâng hương tại các nơi đó. <sup>45</sup> Vua Giơ-hô-sa-phát giao hảo với vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Các truyện còn lại về vua Giơ-hô-sa-phát, các chiến công của vua, các cuộc chiến vua đã thực hiện, đã chẳng được ghi chép trong sách Sử biên niên các vua Giu-đa đó sao? <sup>47</sup> Vua còn quét sạch khỏi xứ bọn trai điếm phục vụ đền thần còn sót lại từ thời phụ vương A-xa. <sup>48</sup> Bấy giờ ở Ê-đôm không có vua; nhưng có một vị thủ lãnh nhiếp chính. <sup>49</sup> Vua Giơ-hô-sa-phát đóng một đoàn tàu Tác-sít để đi Ô-phia tìm vàng, nhưng không đi được, vì tàu bị vỡ tại E-xi-ôn Ghe-ve. <sup>50</sup> Bấy giờ vua A-khát-gia-hu, con vua A-kháp, nói với vua Giơ-hô-sa-phát: &#8220;Xin để cho tôi tớ của tôi cùng đi tàu với tôi tớ của ngài.&#8221; Nhưng vua Giơ-hô-sa-phát không muốn. <sup>51</sup> Vua Giơ-hô-sa-phát an nghỉ với tổ tiên, và được chôn cất với các ngài trong Thành vua Ða-vít, tổ phụ vua. Con vua là Giơ-hô-ram lên ngôi kế vị.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A-khát-gia-hu vua Ít-ra-en</strong> (853-852) <strong> và ngôn sứ Ê-li-a</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> Năm thứ mười bảy triều vua Giơ-hô-sa-phát cai trị Giu-đa, A-khát-gia-hu con vua A-kháp lên làm vua cai trị Ít-ra-en tại Sa-ma-ri; vua trị vì Ít-ra-en được hai năm. <sup>53</sup> Vua làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, vì vua theo đường lối của thân phụ và thân mẫu vua, đường lối của con ông Nơ-vát là Gia-róp-am, người đã lôi kéo Ít-ra-en phạm tội. <sup>54</sup> Vua làm tôi Ba-an và phục lạy nó; vua chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, y như thân phụ vua đã làm.</span></p>
<p align="justify">
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/464/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=464&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-cac-vua-i/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Samuel II (Sa-mu-en 2)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-ii-sa-mu-en-2/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-ii-sa-mu-en-2/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 18:19:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.5. Sách Samuel II (Sa-mu-en 2)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=459</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - Ông Ða-vít nghe tin vua Sa-un chết 1 Sau khi vua Sa-un chết, ông Ða-vít đánh thắng người A-ma-lếch trở về, và ở lại Xích-lắc hai ngày. 2 Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Sa-un đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=459&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít nghe tin vua Sa-un chết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau khi vua Sa-un chết, ông Ða-vít đánh thắng người A-ma-lếch trở về, và ở lại Xích-lắc hai ngày. <sup>2</sup> Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Sa-un đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Ða-vít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy. <sup>3</sup> Ông Ða-vít hỏi anh: &#8220;Anh từ đâu đến?&#8221; Anh trả lời ông: &#8220;Tôi đã chạy thoát từ trại Ít-ra-en.&#8221; <sup>4</sup> Ông Ða-vít nói với anh: &#8220;Chuyện gì đã xảy ra? Kể lại cho tôi đi!&#8221; Anh nói: &#8220;Dân đã bỏ chiến trường mà chạy trốn; nhiều người trong dân tử trận, cả vua Sa-un và con vua là ông Giô-na-than cũng đã chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span id="more-459"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông hỏi người thanh niên đưa tin cho ông: &#8220;Làm sao anh biết được vua Sa-un và con vua là ông Giô-na-than đã chết?&#8221; <sup>6</sup> Người thanh niên đưa tin cho ông trả lời: &#8220;Tình cờ tôi ở trên núi Ghin-bô-a và thấy vua Sa-un đang tựa vào cây giáo của vua, có chiến xa và kỵ binh bám sát vua. <sup>7</sup> Vua quay lại, thấy tôi và gọi tôi. Tôi thưa: &#8220;Dạ, tôi đây!&#8221; <sup>8</sup> Vua hỏi tôi: &#8220;Ngươi là ai?&#8221; Tôi thưa: &#8220;Tôi là người A-ma-lếch.&#8221; <sup>9</sup> Vua bảo tôi: &#8220;Ngươi hãy đứng bên ta và kết liễu đời ta, vì ta bị choáng váng, mặc dầu sinh lực vẫn còn nguyên vẹn nơi ta.&#8221; <sup>10</sup> Vậy tôi đứng bên vua và kết liễu đời vua, vì biết rằng vua sẽ không sống được sau khi thất trận. Tôi đã lấy huy hiệu trên đầu vua và cái vòng trên cánh tay vua và đem lại đây cho chúa thượng.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Ða-vít nắm lấy áo mình mà xé ra, tất cả những người ở với ông cũng vậy. <sup>12</sup> Họ cử hành tang lễ, khóc lóc và ăn chay cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua, thương tiếc dân Ðức Chúa và nhà Ít-ra-en, vì những người này đã ngã gục dưới lưỡi gươm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Ða-vít hỏi người thanh niên báo tin cho ông: &#8220;Ngươi quê ở đâu?&#8221; Anh đáp: &#8220;Tôi là con một người ngoại kiều A-ma-lếch.&#8221; <sup>14</sup> Ông Ða-vít nói với anh: &#8220;Ngươi không sợ sao mà dám tra tay sát hại người Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong?&#8221; <sup>15</sup> Ông Ða-vít gọi một trong các đầy tớ và nói: &#8220;Lại gần mà giết nó đi.&#8221; Người này đâm anh ta và anh ta chết. <sup>16</sup> Ông Ða-vít bảo anh ta: &#8220;Máu ngươi đổ xuống đầu ngươi, vì chính miệng ngươi đã cáo tội ngươi, khi ngươi nói: &#8220;Chính tôi đã kết liễu cuộc đời của người Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong&#8221;.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít làm văn tế khóc vua Sa-un và ông Giô-na-than</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Bấy giờ ông Ða-vít đọc bài văn tế này khóc vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua. <sup>18</sup> Ông nói: Ðể dạy cho con cái Giu-đa. Bài Cây Cung, được ghi chép trong sách Người Công Chính.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> &#8220;Hỡi Ít-ra-en, trên các đồi của ngươi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">những người con ưu tú đã bỏ mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Than ôi! Anh hùng nay ngã gục!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Các người đừng báo tin cho thành Gát,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đừng công bố trong các phố phường Át-cơ-lôn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kẻo con gái người Phi-li-tinh vui mừng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">con gái bọn không cắt bì hớn hở!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Hỡi núi đồi Ghin-bô-a,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ước gì trên các ngươi chẳng còn mưa rơi sương đọng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chẳng còn những cánh đồng phì nhiêu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì tại đó khiên thuẫn các anh hùng đã bị vứt bỏ!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Khiên thuẫn của Sa-un không được bôi dầu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> nhưng vấy máu những người bị đâm,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dính mỡ các anh hùng;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cây cung của Giô-na-than không lùi lại,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thanh gươm của Sa-un không trở về vô hiệu quả.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Sa-un và Giô-na-than,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ôi những con người dễ thương, dễ mến,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sống chẳng xa nhau, chết cũng chẳng rời,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhanh hơn chim bằng, mạnh hơn sư tử!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Thiếu nữ Ít-ra-en hỡi, hãy khóc Sa-un,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">người đã mặc cho các cô vải điều lộng lẫy,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đính trên áo các cô đồ trang sức bằng vàng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Than ôi! Các anh hùng đã ngã gục giữa lúc giao tranh!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Trên các đồi của ngươi, Giô-na-than đã bỏ mình!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Giô-na-than, anh hỡi, lòng tôi se lại vì anh!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Tôi thương anh biết mấy!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Tình anh đối với tôi thật diệu kỳ hơn cả tình nhi nữ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Than ôi! Anh hùng nay ngã gục, võ khí đã tan tành! &#8220;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">IV. Vua Ða-Vít</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Vua Ða-Vít Trị Vì Giu-Ða</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít được xức dầu phong vương tại Khép-rôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó, ông Ða-vít thỉnh ý Ðức Chúa: &#8220;Con có nên đi lên một trong các thành Giu-đa không?&#8221; Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Cứ lên.&#8221; Ông Ða-vít nói: &#8220;Con phải lên đâu?&#8221; Người phán: &#8220;Lên Khép-rôn.&#8221; <sup>2</sup> Ông Ða-vít lên đó, cùng với hai bà vợ, là bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en, và bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men. <sup>3</sup> Còn những người đi theo ông, ông Ða-vít cũng đưa họ lên, mỗi người cùng với gia đình mình, và họ ở các thành vùng Khép-rôn. <sup>4</sup> Người Giu-đa kéo đến, và tại đó, họ xức dầu tấn phong ông Ða-vít làm vua nhà Giu-đa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít sai sứ giả đi Gia-vết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vua Ða-vít sai sứ giả đến với người Gia-vết miền Ga-la-át và nói với họ: &#8220;Xin Ðức Chúa chúc phúc cho anh em, vì anh em đã làm việc nghĩa ấy với chúa thượng của anh em là vua Sa-un, và đã chôn cất vua. <sup>6</sup> Giờ đây, xin Ðức Chúa lấy tình thương và lòng thành tín mà đối xử với anh em. Cả tôi nữa, tôi cũng sẽ lấy lòng tốt như vậy mà đối xử với anh em, vì anh em đã làm điều ấy. <sup>7</sup> Giờ đây, anh em hãy mạnh bạo lên, hãy tỏ ra là những người can đảm, vì chúa thượng của anh em là vua Sa-un đã chết. Còn tôi thì nhà Giu-đa đã xức dầu tấn phong làm vua của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Áp-ne tôn ông Ít-bô-sét làm vua Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông Áp-ne là con ông Ne và là tướng chỉ huy quân đội vua Sa-un, đã rước ông Ít-bô-sét, con vua Sa-un, đưa sang Ma-kha-na-gim, <sup>9</sup> và tôn làm vua miền Ga-la-át, dân A-su-ri, miền Gít-rơ-en, Ép-ra-im, Ben-gia-min và toàn thể Ít-ra-en. <sup>10</sup> Ông Ít-bô-sét, con vua Sa-un, được bốn mươi tuổi khi lên làm vua Ít-ra-en, và trị vì hai năm. Chỉ có nhà Giu-đa theo vua Ða-vít. <sup>11</sup> Thời gian vua Ða-vít làm vua tại Khép-rôn, cai trị nhà Giu-đa, là bảy năm sáu tháng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giu-đa và Ít-ra-en giao chiến. Trận Ghíp-ôn.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Áp-ne, con ông Ne, cùng bề tôi vua Ít-bô-sét, con vua Sa-un, ra quân từ Ma-kha-na-gim, tiến về phía Ghíp-ôn. <sup>13</sup> Ông Giô-áp, con bà Xơ-ru-gia, cùng bề tôi vua Ða-vít, ra quân từ Khép-rôn và gặp họ gần hồ Ghíp-ôn. Một phe đóng ở bên này hồ, một phe đóng ở bên kia.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Áp-ne nói với ông Giô-áp: &#8220;Các trai tráng hãy đứng dậy và đấu trước mặt chúng ta!&#8221; Ông Giô-áp nói: &#8220;Họ hãy đứng dậy!&#8221; <sup>15</sup> Họ đứng lên và đi qua cho người ta đếm: mười hai người Ben-gia-min thuộc phía vua Ít-bô-sét, con vua Sa-un, mười hai người trong số bề tôi vua Ða-vít. <sup>16</sup> Mỗi người túm lấy đầu đối thủ của mình và lấy gươm đâm vào sườn đối thủ, khiến họ đều cùng ngã gục. Người ta gọi nơi ấy là Thửa Ðất Ðá Tảng; thửa đất ấy ở Ghíp-ôn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ngày hôm ấy, cuộc giao tranh diễn ra rất ác liệt. Ông Áp-ne và người Ít-ra-en bị bề tôi vua Ða-vít đánh bại. <sup>18</sup> Ở đó có ba con trai bà Xơ-ru-gia là ông Giô-áp, ông A-vi-sai và ông A-xa-hên. Ông A-xa-hên có đôi chân lanh lẹ như sơn dương ngoài đồng. <sup>19</sup> Ông A-xa-hên đuổi theo ông Áp-ne, chạy sau ông ấy, không trệch bên phải bên trái. <sup>20</sup> Ông Áp-ne ngoái lại và hỏi: &#8220;Có phải mày đó không, A-xa-hên?&#8221; Ông này trả lời: &#8220;Tao đây.&#8221; <sup>21</sup> Ông Áp-ne bảo ông ấy: &#8220;Mày hãy đi trệch sang bên phải hay bên trái, túm lấy một đứa trong các đầy tớ kia và lột lấy áo của nó.&#8221; Nhưng ông A-xa-hên không chịu ngưng đuổi theo ông ấy. <sup>22</sup> Ông Áp-ne lại bảo ông A-xa-hên lần nữa rằng: &#8220;Mày hãy ngưng đuổi theo tao. Mày muốn tao quật mày xuống đất sao? Tao sẽ còn mặt mũi nào mà nhìn Giô-áp, anh mày được?&#8221; <sup>23</sup> Nhưng ông A-xa-hên từ chối không chịu ngưng, nên ông Áp-ne lấy giáo đâm ngược vào bụng ông ấy, và giáo xuyên qua lưng. Ông ngã xuống đó và chết ngay tại chỗ. Mọi kẻ đến chỗ ông A-xa-hên ngã xuống chết, thì dừng lại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ông Giô-áp và ông A-vi-sai đuổi theo ông Áp-ne. Khi mặt trời lặn, họ tới đồi Am-ma, ở phía đông Ghi-ác, trên đường đi sa mạc Ghíp-ôn. <sup>25</sup> Con cái Ben-gia-min tập hợp lại sau lưng ông Áp-ne, họ làm thành một khối và đóng trên một đỉnh đồi. <sup>26</sup> Ông Áp-ne gọi ông Giô-áp và nói: &#8220;Chẳng lẽ cứ để gươm chém giết mãi sao? Ông không biết rằng rốt cuộc chỉ là cay với đắng ư? Ðến bao giờ ông mới bảo quân binh thôi không đuổi theo anh em của họ nữa?&#8221; <sup>27</sup> Ông Giô-áp nói: &#8220;Có Thiên Chúa hằng sống! Ông mà không nói, thì mãi đến sáng quân binh mới thôi không đuổi theo anh em của họ.&#8221; <sup>28</sup> Ông Giô-áp cho thổi tù và, tất cả quân binh dừng lại, không đuổi theo Ít-ra-en nữa, và họ không còn tiếp tục giao chiến.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ông Áp-ne và người của ông đi trong vùng A-ra-va suốt đêm ấy, họ sang sông Gio-đan, đi xuyên qua cả vùng Bít-rôn và tới Ma-kha-na-gim. <sup>30</sup> Ông Giô-áp thôi không đuổi theo ông Áp-ne; ông tập hợp toàn thể quân binh lại; trong số bề tôi vua Ða-vít thiếu mười chín người và ông A-xa-hên. <sup>31</sup> Bề tôi vua Ða-vít đã hạ được ba trăm sáu mươi người trong số người Ben-gia-min và người của ông Áp-ne, và những người này đã chết. <sup>32</sup> Người ta mang ông A-xa-hên đi và chôn cất ông trong mộ của cha ông, tại Bê-lem. Ông Giô-áp và người của ông đi suốt đêm, và khi trời sáng thì đến Khép-rôn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Chiến tranh kéo dài giữa nhà Sa-un và nhà Ða-vít. Vua Ða-vít ngày càng mạnh thêm, còn nhà Sa-un thì ngày càng yếu đi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các con vua Ða-vít sinh ra tại Khép-rôn</strong> (1 Sb 3:1-3)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Tại Khép-rôn, vua Ða-vít đã sinh được những người con trai: con đầu lòng là Am-nôn, do bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en; <sup>3</sup> người thứ hai là Ki-láp, do bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men; người thứ ba là Áp-sa-lôm, do bà Ma-a-kha, ái nữ của Tan-mai, vua Gơ-sua; <sup>4</sup> người thứ tư là A-đô-ni-gia, do bà Khác-ghít; người thứ năm là Sơ-phát-gia, do bà A-vi-tan; <sup>5</sup> người thứ sáu là Gít-rơ-am, do bà Éc-la, vợ vua Ða-vít. Ðó là những người con trai vua Ða-vít đã sinh được tại Khép-rôn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Áp-ne đoạn giao với vua Ít-bô-sét</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Trong khi có chiến tranh giữa nhà Sa-un và nhà Ða-vít, ông Áp-ne củng cố địa vị trong nhà Sa-un. <sup>7</sup> Vua Sa-un trước kia có người tỳ thiếp tên là Rít-pa, con gái ông Ai-gia. Vua Ít-bô-sét nói với ông Áp-ne: &#8220;Tại sao ông đi lại với tỳ thiếp của cha tôi?&#8221; <sup>8</sup> Ông Áp-ne giận lắm vì những lời vua Ít-bô-sét và nói: &#8220;Tôi là đầu chó của Giu-đa sao? Hôm nay tôi lấy tình nghĩa mà đối xử với nhà của vua Sa-un, cha ngài, với anh em của người và với các bạn của người; tôi đã không để ngài rơi vào tay Ða-vít. Thế mà hôm nay ngài lại bắt lỗi tôi về chuyện một người đàn bà! <sup>9</sup> Xin Thiên Chúa phạt Áp-ne thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu tôi không làm cho Ða-vít điều Ðức Chúa đã thề với ông ấy, <sup>10</sup> là cất vương quyền khỏi nhà Sa-un và thiết lập ngai vàng của Ða-vít trên Ít-ra-en và trên Giu-đa, từ Ðan đến Bơ-e Se-va!&#8221; <sup>11</sup> Vua Ít-bô-sét không thể đáp lại ông Áp-ne một lời, vì vua sợ ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Áp-ne điều đình với vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Áp-ne sai sứ giả thay mặt mình đến nói với vua Ða-vít: &#8220;Ðất này thuộc về ai?&#8221; Ông nói: &#8220;Ngài hãy lập giao ước với tôi, tôi sẽ giúp ngài một tay để làm cho toàn thể Ít-ra-en quay về với ngài.&#8221; <sup>13</sup> Vua đáp: &#8220;Tốt. Tôi sẽ lập giao ước với ông. Tôi chỉ xin ông một điều: ông sẽ không được ra mắt tôi, nếu ông không đem đến cho tôi bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, khi ông đến ra mắt tôi.&#8221; <sup>14</sup> Vua Ða-vít sai sứ giả đến nói với vua Ít-bô-sét, con vua Sa-un: &#8220;Hãy trả lại tôi vợ tôi là Mi-khan, người tôi đã nộp một trăm bao qui đầu người Phi-li-tinh để cưới.&#8221; <sup>15</sup> Vua Ít-bô-sét sai người đến nhà chồng bà là ông Pan-ti-ên, con ông La-gít, để đem bà về. <sup>16</sup> Chồng bà đi với bà; ông vừa đi theo vừa khóc, cho đến Ba-khu-rim. Ông Áp-ne bảo ông ấy: &#8220;Thôi, về đi!&#8221; Ông ấy trở về.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Áp-ne ngỏ lời với các kỳ mục Ít-ra-en: &#8220;Ðã từ lâu, anh em ao ước được ông Ða-vít làm vua. <sup>18</sup> Vậy bây giờ anh em hãy hành động, vì Ðức Chúa đã phán về ông Ða-vít rằng: &#8220;Chính nhờ tay Ða-vít, tôi tớ Ta, mà Ta sẽ cứu Ít-ra-en, dân Ta, khỏi tay người Phi-li-tinh và khỏi tay mọi kẻ thù của nó&#8221;.&#8221; <sup>19</sup> Ông Áp-ne cũng đã nói cho người Ben-gia-min nghe. Rồi ông Áp-ne đi Khép-rôn nói cho vua Ða-vít nghe tất cả những gì Ít-ra-en và toàn thể nhà Ben-gia-min coi là tốt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ông Áp-ne đến với vua Ða-vít tại Khép-rôn, có hai mươi người cùng đi với ông. Vua Ða-vít làm tiệc đãi ông Áp-ne và những người cùng đi với ông. <sup>21</sup> Ông Áp-ne nói với ông Ða-vít: &#8220;Tôi sẽ lên đường đi tập hợp toàn thể Ít-ra-en về cho đức vua là chúa thượng tôi. Họ sẽ lập giao ước với ngài và ngài sẽ làm vua cai trị mọi nơi lòng ngài ao ước.&#8221; Vua Ða-vít cho ông Áp-ne về, và ông ra đi bình an.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Áp-ne bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Trong khi đó, các bề tôi vua Ða-vít cùng với ông Giô-áp đi hành quân trở về, đem theo chiến lợi phẩm rất lớn. Ông Áp-ne không còn ở với vua Ða-vít tại Khép-rôn, vì vua đã cho ông về, và ông đã ra đi bình an. <sup>23</sup> Khi ông Giô-áp và toàn thể quân đội cùng đi với ông trở về, người ta báo tin cho ông Giô-áp rằng: &#8220;Ông Áp-ne, con ông Ne, đã đến gặp nhà vua. Nhà vua đã cho ông ấy về, và ông đã ra đi bình an.&#8221; <sup>24</sup> Ông Giô-áp đến gặp vua và nói: &#8220;Ngài đã làm gì thế? Kìa, Áp-ne đã đến gặp ngài. Tại sao ngài cho nó về và nó đã ra đi như vậy? <sup>25</sup> Ngài thừa biết Áp-ne, con ông Ne: nó đến chính là để lừa dối ngài, để biết đường đi nước bước của ngài, và để biết tất cả những gì ngài làm!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ở nhà vua Ða-vít ra, ông Giô-áp sai người chạy theo ông Áp-ne. Tới bể nước Xi-ra, họ mời ông trở lại, nhưng vua Ða-vít không biết gì. <sup>27</sup> Khi ông Áp-ne về đến Khép-rôn, ông Giô-áp kéo riêng ông vào phía trong cửa thành, như để nói chuyện thân mật với ông. Tại đó ông Giô-áp đâm vào bụng ông ấy, và ông ấy đã chết để trả nợ máu ông A-xa-hên, em ông Giô-áp. <sup>28</sup> Sau đó, vua Ða-vít nghe biết sự việc thì nói: &#8220;Ta và vương quốc của ta mãi mãi vô can trước mặt Ðức Chúa về máu ông Áp-ne, con ông Ne. <sup>29</sup> Ước gì máu đó đổ xuống đầu Giô-áp và xuống toàn thể nhà cha nó! Ước gì trong nhà Giô-áp không bao giờ hết người mắc bệnh lậu hay phong hủi, người chỉ biết cầm con suốt, người ngã gục dưới lưỡi gươm hay người thiếu bánh ăn!&#8221; <sup>30</sup> Ông Giô-áp và ông A-vi-sai, anh ông, đã giết ông Áp-ne, bởi vì ông này đã giết ông A-xa-hên, em của họ, trong trận Ghíp-ôn. <sup>31</sup> Vua Ða-vít nói với ông Giô-áp và toàn thể quân binh theo ông: &#8220;Hãy xé áo mình ra, quấn áo vải thô và cử hành tang lễ cho ông Áp-ne.&#8221; Vua Ða-vít theo sau đòn cáng. <sup>32</sup> Người ta chôn cất ông Áp-ne tại Khép-rôn. Vua oà lên khóc bên mộ ông Áp-ne, và toàn dân cũng khóc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Vua làm bài văn tế khóc ông Áp-ne; vua nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Há Áp-ne lại phải chết cái chết của một thằng ngu?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Hỡi ông, tay ông không bị trói,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chân ông chẳng bị xiềng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Như người ta ngã gục</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trước những quân gian ác,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ông đã phải ngã gục!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Toàn dân lại khóc ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Toàn dân đến ép vua Ða-vít ăn đôi chút khi còn ban ngày. Nhưng vua Ða-vít thề rằng: &#8220;Xin Thiên Chúa phạt tôi thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu tôi nếm bánh hay bất cứ cái gì trước khi mặt trời lặn!&#8221; <sup>36</sup> Toàn dân ghi nhận điều đó và tán thành, như toàn dân vẫn tán thành mọi điều vua làm. <sup>37</sup> Hôm ấy, toàn dân và toàn thể Ít-ra-en biết rằng không phải do lệnh vua mà ông Áp-ne, con ông Ne, đã bị giết. <sup>38</sup> Vua nói với triều thần: &#8220;Các ngươi không biết rằng, hôm nay, một vị tướng, một vĩ nhân đã ngã gục tại Ít-ra-en sao? <sup>39</sup> Phần ta, hôm nay, ta còn yếu thế, tuy đã được xức dầu phong vương, nhưng những người này là các con bà Xơ-ru-gia, thì cứng cỏi hơn ta. Xin Ðức Chúa đáp trả kẻ làm điều ác, xứng với lòng độc ác của nó! &#8220;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ít-bô-sét bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi người con vua Sa-un nghe tin ông Áp-ne đã chết tại Khép-rôn, thì tay chân rụng rời; toàn thể Ít-ra-en cũng kinh hoàng. <sup>2</sup> Người con vua Sa-un có hai tướng cướp, một thằng tên là Ba-a-na, một thằng tên là Rê-kháp. Chúng là con ông Rim-môn người thành Bơ-ê-rốt, và thuộc chi tộc Ben-gia-min, vì cả Bơ-ê-rốt cũng được kể như thuộc Ben-gia-min. <sup>3</sup> Người Bơ-ê-rốt đã trốn đến Ghít-ta-gim và là ngoại kiều ở đó cho đến ngày nay. <sup>4</sup> Ông Giô-na-than, con vua Sa-un, có một con trai bại hai chân. Nó được năm tuổi khi người ta từ Gít-rơ-en đến báo tin về vua Sa-un và ông Giô-na-than. Vú nuôi mang nó đi trốn, nhưng trong lúc chị hoảng hốt chạy trốn, nó ngã và bị què. Nó tên là Mơ-phi-bô-sét.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các con ông Rim-môn người Bơ-ê-rốt, là Rê-kháp và Ba-a-na, đã lên đường và đã đến nhà vua Ít-bô-sét vào lúc nóng nực nhất trong ngày. Vua đang nằm ngủ trưa. <sup>6</sup> Chúng vào tận trong nhà, như để xúc lúa mì, đâm vào bụng vua, rồi Rê-kháp và Ba-a-na, anh nó, trốn thoát. <sup>7</sup> Khi chúng vào nhà thì vua đang nằm trên giường tại phòng ngủ, chúng đâm chết vua rồi chặt đầu. Rồi chúng mang đầu vua và đi theo đường A-ra-va suốt đêm. <sup>8</sup> Chúng đem đầu vua Ít-bô-sét đến cho vua Ða-vít tại Khép-rôn và nói với vua: &#8220;Ðây là đầu của Ít-bô-sét, con vua Sa-un, kẻ thù của ngài, người đã tìm hại mạng sống ngài. Hôm nay Ðức Chúa đã cho đức vua là chúa thượng tôi trả thù vua Sa-un và dòng dõi vua ấy.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vua Ða-vít trả lời Rê-kháp và Ba-a-na, anh nó, là những người con ông Rim-môn người Bơ-ê-rốt; vua nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống, Ðấng đã giải thoát ta khỏi mọi cảnh ngặt nghèo! <sup>10</sup> Kẻ đưa tin cho ta rằng vua Sa-un đã chết, và coi mình là người đưa tin mừng, thì ta đã túm lấy và giết đi ở Xích-lắc, để thưởng công nó đã đem tin mừng. <sup>11</sup> Phương chi khi những kẻ ác ôn đã giết một người công chính trong nhà người ấy, trên giường người ấy! Há bây giờ ta lại không hỏi tội các ngươi về máu tay các ngươi đã đổ ra, và không khử trừ các ngươi khỏi mặt đất sao?&#8221; <sup>12</sup> Vua Ða-vít ra lệnh cho đầy tớ. Họ giết chúng, chặt tay chặt chân, rồi treo gần hồ Khép-rôn. Còn đầu vua Ít-bô-sét thì họ đem đi và chôn trong mộ ông Áp-ne tại Khép-rôn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Vua Ða-Vít Trị Vì Giu-Ða Và Ít-Ra-En</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en</strong> (1 Sb 11: 1-3)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Toàn thể các chi tộc Ít-ra-en đến gặp vua Ða-vít tại Khép-rôn và thưa: &#8220;Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài. <sup>2</sup> Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un làm vua cai trị chúng tôi, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Ít-ra-en. Ðức Chúa đã phán với ngài: &#8220;Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Ít-ra-en.&#8221; <sup>3</sup> Toàn thể kỳ mục Ít-ra-en đến gặp vua tại Khép-rôn. Vua Ða-vít lập giao ước với họ tại Khép-rôn, trước nhan Ðức Chúa. Rồi họ xức dầu tấn phong Ða-vít làm vua Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua Ða-vít được ba mươi tuổi khi lên làm vua, và trị vì bốn mươi năm. <sup>5</sup> Tại Khép-rôn, vua trị vì Giu-đa bảy năm sáu tháng. Tại Giê-ru-sa-lem, vua trị vì toàn thể Ít-ra-en và Giu-đa ba mươi ba năm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm Giê-ru-sa-lem</strong> (1 Sb 11: 4-9)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vua và người của vua tiến về Giê-ru-sa-lem đánh người Giơ-vút là dân bản xứ. Chúng nói với vua Ða-vít: &#8220;Ông sẽ không vào đây được, vì người mù người què sẽ đẩy lui ông.&#8221; Nghĩa là: &#8220;Ông Ða-vít sẽ không vào đây được.&#8221; <sup>7</sup> Vua Ða-vít đã chiếm được đồn luỹ Xi-on, đó là Thành vua Ða-vít. <sup>8</sup> Ngày hôm đó, vua Ða-vít nói: &#8220;Mọi kẻ muốn đánh người Giơ-vút, thì hãy qua đường hầm mà tấn công người mù người què, những kẻ mà lòng vua Ða-vít ghét.&#8221; Vì thế có câu: &#8220;Người mù người què sẽ không được vào Ðền.&#8221; <sup>9</sup> Vua Ða-vít đóng tại đồn luỹ và gọi đó là Thành vua Ða-vít. Rồi vua Ða-vít xây chung quanh, từ nền Mi-lô vào phía trong. <sup>10</sup> Vua Ða-vít ngày càng mạnh thế, và Ðức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, ở với vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Khi-ram, vua thành Tia, sai sứ giả đến với vua Ða-vít, đem theo gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đẽo đá xây, và họ đã xây nhà cho vua Ða-vít. <sup>12</sup> Vua Ða-vít biết rằng Ðức Chúa đã đặt mình làm vua cai trị Ít-ra-en, và vì dân Người là Ít-ra-en, Người đã làm cho vương quyền của vua được vinh hiển.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các con vua Ða-vít sinh ra tại Giê-ru-sa-lem</strong> (1 Sb 14: 3-7)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Sau khi từ Khép-rôn tới, vua Ða-vít lấy thêm tỳ thiếp và vợ ở Giê-ru-sa-lem, và vua Ða-vít sinh thêm con trai con gái. <sup>14</sup> Ðây là tên những người vua sinh được tại Giê-ru-sa-lem: Sam-mu-a, Sô-váp, Na-than, Sa-lô-môn, <sup>15</sup> Gíp-kha, Ê-li-su-a, Ne-phéc, Gia-phia,16 Ê-li-sa-ma, En-gia-đa và Ê-li-phe-lét.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến thắng quân Phi-li-tinh</strong> (1 Sb 14: 8-16)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Khi quân Phi-li-tinh nghe biết là người ta đã xức dầu tấn phong vua Ða-vít làm vua Ít-ra-en, thì toàn thể quân Phi-li-tinh lên tìm bắt vua Ða-vít. Vua Ða-vít nghe tin liền xuống nơi ẩn náu. <sup>18</sup> Quân Phi-li-tinh đến và tràn vào thung lũng người Ra-pha. <sup>19</sup> Vua Ða-vít thỉnh ý Ðức Chúa: &#8220;Con có nên tiến đánh quân Phi-li-tinh không? Ngài có trao chúng vào tay con không?&#8221; Ðức Chúa trả lời vua Ða-vít: &#8220;Cứ lên, vì chắc chắn ta sẽ trao quân Phi-li-tinh vào tay ngươi.&#8221; <sup>20</sup> Vua Ða-vít đến Ba-an Pơ-ra-xim, và vua Ða-vít đánh bại chúng ở đó. Vua nói: &#8220;Ðức Chúa đã chọc thủng quân thù trước mặt tôi, như chỗ bị nước chọc thủng.&#8221; Vì thế, người ta đặt tên cho nơi ấy là Ba-an Pơ-ra-xim. <sup>21</sup> Chúng đã bỏ lại đó các tượng thần của chúng, và vua Ða-vít và người của vua đã mang đi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Một lần nữa, quân Phi-li-tinh lại lên và tràn vào thung lũng người Ra-pha. <sup>23</sup> Vua Ða-vít thỉnh ý Ðức Chúa; Người phán: &#8220;Ðừng lên, nhưng hãy đi vòng, đánh tập hậu, và tấn công chúng từ phía lùm cây sếu. <sup>24</sup> Khi nào ngươi nghe tiếng chân bước trên ngọn các cây sếu, bấy giờ ngươi hãy mau mau tấn công, vì bấy giờ Ðức Chúa sẽ ra trận trước mặt ngươi để đánh quân đội Phi-li-tinh.&#8221; <sup>25</sup> Vua Ða-vít làm như Ðức Chúa đã truyền cho vua, và vua đã đánh bại người Phi-li-tinh từ Ghe-va cho đến lối vào Ghe-de.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Rước Hòm Bia về Giê-ru-sa-lem</strong> (1 Sb 13: 1-14; 15: 25 -16: 3.43)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít lại quy tụ toàn thể tinh binh Ít-ra-en: ba mươi ngàn người. <sup>2</sup> Từ Ba-a-lê Giu-đa, vua Ða-vít lên đường và cùng đi với toàn dân đang ở với vua, để đưa Hòm Bia Thiên Chúa từ đó lên, Hòm Bia mang danh Ðức Chúa các đạo binh, Ðấng ngự trên các thần hộ giá. <sup>3</sup> Người ta đặt Hòm Bia Thiên Chúa lên một cỗ xe mới và mang đi từ nhà ông A-vi-na-đáp ở trên đồi. Các con ông A-vi-na-đáp là Út-da và Ác-giô điều khiển cỗ xe mới. <sup>4</sup> Họ đưa xe đi từ nhà ông A-vi-na-đáp ở trên đồi, trên xe có Hòm Bia Thiên Chúa, còn ông Ác-giô đi trước Hòm Bia. <sup>5</sup> Vua Ða-vít và toàn thể nhà Ít-ra-en vui đùa trước nhan Ðức Chúa, với mọi thứ nhạc cụ bằng gỗ trắc bá, với đàn cầm đàn sắt, trống con, chũm choẹ, thanh la.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Khi đoàn người tới sân lúa Na-khôn, thì ông Út-da giơ tay ra về phía Hòm Bia Thiên Chúa và giữ lại, vì bò trượt chân. <sup>7</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với ông Út-da, và Thiên Chúa đánh phạt ông tại chỗ vì lầm lỗi đó. Ông chết tại đó, bên Hòm Bia Thiên Chúa. <sup>8</sup> Vua Ða-vít buồn bực vì Ðức Chúa đã đột phá hại ông Út-da. Người ta gọi nơi ấy là Pe-rét Út-da cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ngày hôm đó, vua Ða-vít sợ Ðức Chúa, ông nói: &#8220;Hòm Bia Ðức Chúa đến với tôi thế nào được?&#8221; <sup>10</sup> Vua Ða-vít không muốn đưa Hòm Bia Ðức Chúa về với mình trong Thành vua Ða-vít, nên cho chuyển hướng sang nhà ông Ô-vết Ê-đôm, người thành Gát. <sup>11</sup> Hòm Bia Ðức Chúa ở nhà ông Ô-vết Ê-đôm người thành Gát, ba tháng, và Ðức Chúa giáng phúc cho ông Ô-vết Ê-đôm cùng cả nhà ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Người ta báo tin cho vua Ða-vít rằng: &#8220;Vì Hòm Bia Thiên Chúa, Ðức Chúa đã giáng phúc cho nhà ông Ô-vết Ê-đôm cùng tất cả những gì thuộc về ông.&#8221; Vua Ða-vít liền đi và rước Hòm Bia Thiên Chúa từ nhà ông Ô-vết Ê-đôm lên Thành vua Ða-vít, trong niềm hân hoan. <sup>13</sup> Khi những người khiêng Hòm Bia của Ðức Chúa đi được sáu bước, thì vua sát tế một con bò và một con bê béo. <sup>14</sup> Vua Ða-vít quấn ê-phốt vải gai, nhảy múa hết sức mình trước nhan Ðức Chúa. <sup>15</sup> Vua Ða-vít và toàn thể nhà Ít-ra-en rước Hòm Bia Ðức Chúa lên giữa tiếng hò reo với tiếng tù và. <sup>16</sup> Khi Hòm Bia Ðức Chúa vào Thành vua Ða-vít, bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, từ cửa sổ nhìn xuống thấy vua Ða-vít nhảy múa quay cuồng trước nhan Ðức Chúa, thì sinh lòng khinh dể. <sup>17</sup> Người ta đưa Hòm Bia Ðức Chúa đặt vào chỗ đã dọn giữa lều vua Ða-vít đã dựng sẵn. Vua Ða-vít dâng lên trước nhan Ðức Chúa những lễ toàn thiêu và những lễ kỳ an. <sup>18</sup> Khi đã hoàn tất việc dâng các lễ toàn thiêu và lễ kỳ an, vua Ða-vít nhân danh Ðức Chúa các đạo binh chúc phúc cho dân. <sup>19</sup> Rồi vua phân phát cho toàn dân, cho tất cả đám đông Ít-ra-en, đàn ông cũng như đàn bà, mỗi người một cái bánh ngọt, một phần thịt và một cái bánh nho. Rồi toàn dân ai nấy về nhà mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi vua Ða-vít trở về để chúc phúc cho nhà mình, bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, ra đón vua và nói: &#8220;Vua Ít-ra-en hôm nay thật là danh giá, khi để hở hang trước mắt các nữ tỳ của tôi tớ mình, như một đứa vô danh tiểu tốt để hở hang!&#8221; <sup>21</sup> Vua Ða-vít nói với bà Mi-khan: &#8220;Trước nhan Ðức Chúa, Ðấng đã chọn tôi thay vì thân phụ bà và cả nhà thân phụ bà, để đặt tôi làm người lãnh đạo dân Ðức Chúa là Ít-ra-en, trước nhan Ðức Chúa tôi sẽ vui đùa. <sup>22</sup> Tôi sẽ còn hạ mình hơn thế nữa, tôi sẽ coi mình là thấp hèn; nhưng đối với các nữ tỳ mà bà nói, đối với chúng, tôi sẽ được danh giá.&#8221; <sup>23</sup> Và bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, không có con cho đến ngày chết.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lời sấm của ông Na-than</strong> (1 Sb 17: 1-15)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi vua được yên cửa yên nhà và Ðức Chúa đã cho vua được thảnh thơi mọi bề, không còn thù địch nào nữa, <sup>2</sup> thì vua nói với ngôn sứ Na-than: &#8220;Ông xem, tôi được ở nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Bia Thiên Chúa thì ở trong lều vải.&#8221; <sup>3</sup> Ông Na-than thưa với vua: &#8220;Tất cả những gì ngài ấp ủ trong lòng, xin ngài cứ đi mà thực hiện, vì Ðức Chúa ở với ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Nhưng ngay đêm ấy, có lời Ðức Chúa phán với ông Na-than rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> &#8220;Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Ða-vít: Ðức Chúa phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao? <sup>6</sup> Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Ít-ra-en lên từ Ai-cập cho tới ngày hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm. <sup>7</sup> Trong suốt thời gian rày đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en, có bao giờ Ta đã lên tiếng hỏi một trong các thủ lãnh Ít-ra-en mà Ta đã đặt lên chăn dắt dân Ta là Ít-ra-en: &#8220;Sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng gỗ bá hương? <sup>8</sup> Bây giờ ngươi hãy nói với tôi tớ Ta là Ða-vít như sau: Ðức Chúa các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en. <sup>9</sup> Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất. <sup>10</sup> Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu, <sup>11</sup> kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, Ðức Chúa báo cho ngươi biết là Ðức Chúa lập cho ngươi một nhà. <sup>12</sup> Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. <sup>13</sup> Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. <sup>14</sup> Ðối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người. <sup>15</sup> Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó, như Ta đã cho rời khỏi Sa-un, kẻ Ta đã bắt rời khỏi mặt ngươi. <sup>16</sup> Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Na-than đã nói lại với vua Ða-vít, đúng y như tất cả những lời ấy và tất cả thị kiến ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít cầu nguyện</strong> (1 Sb 17: 16 -27)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Vua Ða-vít vào ngồi chầu trước nhan Ðức Chúa và thưa: &#8220;Lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, con là ai và nhà của con là gì, mà Ngài đã đưa con tới địa vị này? <sup>19</sup> Nhưng lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, Ngài còn coi đó là quá ít; Ngài lại hứa cho nhà của tôi tớ Ngài một tương lai lâu dài. Phải chăng đó là luật chung cho con người, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng? <sup>20</sup> Ða-vít còn nói được gì thêm với Ngài? Ngài biết tôi tớ Ngài, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng! <sup>21</sup> Vì lời Ngài đã phán và theo như lòng Ngài muốn, Ngài đã thực hiện tất cả công trình vĩ đại này, để làm cho tôi tớ Ngài được biết. <sup>22</sup> Vì thế, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, Ngài thật vĩ đại: không ai sánh được như Ngài; và không có Thiên Chúa nào khác ngoại trừ Ngài, theo như mọi điều tai chúng con đã từng được nghe. <sup>23</sup> Dưới đất có một dân tộc nào được như dân Ngài là Ít-ra-en? Thiên Chúa đã đến cứu chuộc dân này để làm thành dân của Ngài, đặt tên cho nó, thực hiện cho nó những điều vĩ đại và khủng khiếp, hầu xua đuổi các dân tộc và các thần của chúng cho khuất mắt dân mà Ngài đã cứu chuộc từ Ai-cập về cho mình. <sup>24</sup> Ngài đã lập Ít-ra-en, dân Ngài, để nó thành dân Ngài mãi mãi; còn Ngài, lạy Ðức Chúa, Ngài đã trở thành Thiên Chúa của chúng. <sup>25</sup> Giờ đây, lạy Ðức Chúa là Thiên Chúa, lời Ngài đã phán về tôi tớ Ngài và nhà của nó, xin Ngài giữ mãi mãi, và xin hành động như Ngài đã phán. <sup>26</sup> Danh Ngài sẽ vĩ đại mãi mãi và người ta sẽ nói: &#8220;Ðức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa thống trị Ít-ra-en. Nhà của tôi tớ Ngài là Ða-vít sẽ vững bền trước nhan Ngài. <sup>27</sup> Thật vậy, lạy Ðức Chúa các đạo binh, Thiên Chúa của Ít-ra-en, chính Ngài đã mặc khải cho tôi tớ Ngài rằng: Ta sẽ xây cho ngươi một nhà. Vì thế tôi tớ Ngài đủ can đảm dâng lên Ngài lời cầu nguyện ấy. <sup>28</sup> Giờ đây, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý, và Ngài đã hứa ban cho tôi tớ Ngài điều tốt đẹp ấy. <sup>29</sup> Vậy giờ đây, cúi xin Ngài giáng phúc cho nhà của tôi tớ Ngài, để nhà ấy được tồn tại mãi trước nhan Ngài. Bởi vì, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, chính Ngài đã phán, và nhờ Ngài giáng phúc mà nhà của tôi tớ Ngài sẽ được chúc lành mãi mãi.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các cuộc chiến tranh thời vua Ða-vít</strong> (1 Sb 18: 1-13)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó, vua Ða-vít đánh bại người Phi-li-tinh, hạ nhục chúng và đoạt quyền bá chủ từ tay người Phi-li-tinh. <sup>2</sup> Vua đánh bại người Mô-áp, bắt chúng nằm rạp xuống đất và lấy dây đo: vua đo hai dây để giết và đủ một dây để cho sống. Người Mô-áp phải làm nô lệ cho vua Ða-vít và triều cống vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Vua Ða-vít đánh bại vua nước Xô-va là Ha-đát-e-de, con ông Rơ-khốp, khi vua này đi tái lập chủ quyền trên vùng Sông Cả. <sup>4</sup> Vua Ða-vít bắt được của vua ấy một ngàn bảy trăm kỵ binh và hai mươi ngàn bộ binh; và vua Ða-vít đã cắt gân chân tất cả những con ngựa kéo xe, chỉ chừa lại một trăm. <sup>5</sup> Người A-ram ở Ða-mát đến cứu viện Ha-đát-e-de, vua Xô-va, nhưng vua Ða-vít đã hạ của A-ram hai mươi ngàn người. <sup>6</sup> Vua Ða-vít đặt những trấn thủ cai trị người A-ram ở Ða-mát; người A-ram phải làm nô lệ cho vua Ða-vít và triều cống vua. Ðức Chúa đã cho vua Ða-vít đi đâu thắng đó. <sup>7</sup> Vua Ða-vít lấy các khiên vàng mà tôi tớ vua Ha-đát-e-de mang, và đưa về Giê-ru-sa-lem. <sup>8</sup> Tại Be-tác và Bê-rô-thai, các thành của vua Ha-đát-e-de, vua Ða-vít đã lấy được rất nhiều đồng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Tô-i, vua Kha-mát, nghe tin vua Ða-vít đã đánh bại toàn thể quân đội vua Ha-đát-e-de. <sup>10</sup> Vua Tô-i sai con là Giô-ram đến với vua Ða-vít để vấn an và chúc mừng vua vì đã chiến đấu với vua Ha-đát-e-de và đánh bại vua ấy, vì vua Ha-đát-e-de là kẻ thù của vua Tô-i. Giô-ram mang theo những đồ bạc, đồ vàng và đồ đồng. <sup>11</sup> Các đồ ấy, vua Ða-vít cũng đã thánh hiến cho Ðức Chúa, cùng với bạc và vàng vua đã thánh hiến, bạc vàng của mọi dân tộc vua đã khuất phục, <sup>12</sup> là: A-ram, Mô-áp, con cái Am-mon, người Phi-li-tinh và A-ma-lếch, cũng như từ chiến lợi phẩm thu được của vua Xô-va là Ha-đát-e-de, con ông Rơ-khốp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Vua Ða-vít làm cho danh mình lẫy lừng, lúc trở về sau khi đánh bại mười tám ngàn người Ê-đôm trong thung lũng Muối. <sup>14</sup> Vua Ða-vít đặt các trấn thủ tại Ê-đôm; vua đặt các trấn thủ trong toàn xứ Ê-đôm, và toàn dân Ê-đôm phải làm nô lệ cho vua Ða-vít. Ðức Chúa đã cho vua Ða-vít đi đâu thắng đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Việc cai trị vương quốc</strong> (1 Sb 18: 14 -17)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Vua Ða-vít trị vì toàn thể Ít-ra-en. Vua Ða-vít thực hiện điều chính trực công minh cho toàn dân. <sup>16</sup> Ông Giô-áp, con bà Xơ-ru-gia, chỉ huy quân đội. Ông Giơ-hô-sa-phát, con ông A-khi-lút, làm quốc vụ khanh. <sup>17</sup> Ông Xa-đốc, con ông A-khi-túp, và ông A-khi-me-léc con ông Ép-gia-tha, làm tư tế. Ông Xơ-ra-gia làm ký lục. <sup>18</sup> Ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, chỉ huy quân Cơ-rê-thi và quân Pơ-lê-thi. Các con trai vua Ða-vít làm tư tế.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Gia Ðình Vua Ða-Vít. Việc Kế Thừa Ngôi Vua.</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">A. Mơ-phi-bô-sét</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít xử tốt với con trai ông Giô-na-than</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít nói: &#8220;Nhà Sa-un có còn người nào sống sót không? Vì ông Giô-na-than, ta sẽ lấy tình mà đối xử với người ấy.&#8221; <sup>2</sup> Nhà Sa-un có một người tôi tớ tên là Xi-va. Người ta mời ông đến gặp vua Ða-vít. Vua hỏi ông: &#8220;Ngươi là Xi-va phải không? &#8221; Ông thưa: &#8220;Chính tôi tớ ngài đây.&#8221; <sup>3</sup> Vua bảo ông: &#8220;Nhà Sa-un không còn người nào nữa sao, để ta lấy tình mà đối xử với người ấy như Thiên Chúa đòi hỏi?&#8221; Ông Xi-va trả lời vua: &#8220;Vẫn còn một người con trai của ông Giô-na-than, bị bại hai chân.&#8221; <sup>4</sup> Vua hỏi ông: &#8220;Ông ấy ở đâu?&#8221; Ông Xi-va trả lời vua: &#8220;Ông ấy đang ở nhà ông Ma-khia, con ông A-mi-ên, tại Lô Ðơ-va.&#8221; <sup>5</sup> Vua Ða-vít sai người đi đón ông về từ nhà ông Ma-khia, con ông Am-mi-ên, tại Lô Ðơ-va.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Khi ông Mơ-phi-bô-sét, con ông Giô-na-than, cháu vua Sa-un, đến gặp vua Ða-vít, ông cúi rạp xuống mà lạy. Vua Ða-vít gọi: &#8220;Mơ-phi-bô-sét!&#8221; Ông thưa: &#8220;Dạ, tôi tớ ngài đây!&#8221; <sup>7</sup> Vua Ða-vít bảo ông: &#8220;Ðừng sợ! Vì ông Giô-na-than, cha cháu, ta muốn lấy tình mà đối xử với cháu. Ta sẽ trả cho cháu tất cả ruộng đất của vua Sa-un, ông của cháu. Phần cháu, cháu sẽ luôn luôn dùng bữa tại bàn ăn của ta.&#8221; <sup>8</sup> Ông lạy và nói: &#8220;Tôi tớ ngài là gì, mà ngài quay về phía một con chó chết như cháu?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vua Ða-vít gọi ông Xi-va, đầy tớ vua Sa-un, và bảo ông: &#8220;Tất cả những gì thuộc về vua Sa-un và thuộc về toàn thể nhà Sa-un, ta ban cho con trai của chủ ngươi. <sup>10</sup> Ngươi, con cái ngươi và tôi tớ ngươi sẽ cày cấy đất đai cho ông ấy. Ngươi sẽ thu hoạch và cái đó sẽ là lương thực cho con của chủ ngươi ăn. Còn ông Mơ-phi-bô-sét, con của chủ ngươi, ông sẽ luôn luôn dùng bữa tại bàn ăn của ta.&#8221; Ông Xi-va có mười lăm con trai và hai mươi tôi tớ. <sup>11</sup> Ông Xi-va thưa vua: &#8220;Tất cả những gì đức vua là chúa thượng tôi truyền cho tôi tớ ngài, tôi tớ ngài sẽ làm như thế.&#8221; Vậy ông Mơ-phi-bô-sét ăn tại bàn của vua, như một trong các hoàng tử. <sup>12</sup> Ông Mơ-phi-bô-sét có một con trai nhỏ tên là Mi-kha. Mọi người ở trong nhà ông Xi-va đều là tôi tớ ông Mơ-phi-bô-sét. <sup>13</sup> Nhưng ông Mơ-phi-bô-sét ở Giê-ru-sa-lem, vì ông luôn luôn ăn tại bàn của vua. Ông bị què hai chân.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">B. Chiến tranh với Am-mon. Vua Sa-lô-môn sinh ra.</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Am-mon làm nhục sứ giả vua Ða-vít</strong> (1 Sb 19: 1-5)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó, vua của con cái Am-mon qua đời, và Kha-nun, con vua ấy, lên ngôi kế vị. <sup>2</sup> Vua Ða-vít nói: &#8220;Ta sẽ lấy tình mà đối xử với vua Kha-nun, con vua Na-khát, như cha vua ấy đã lấy tình mà đối xử với ta. Vua Ða-vít sai bề tôi chuyển lời chia buồn với vua ấy về vua cha. Nhưng khi bề tôi vua Ða-vít đến đất con cái Am-mon, <sup>3</sup> thì các tướng lãnh của con cái Am-mon thưa với vua Kha-nun, chúa thượng của chúng: &#8220;Ngài tưởng là Ða-vít kính trọng vua cha khi sai người đến chia buồn với ngài sao? Chẳng phải Ða-vít đã sai bề tôi đến với ngài là để quan sát thành, dò thám và lật đổ thành sao?&#8221; <sup>4</sup> Vua Kha-nun liền bắt bề tôi vua Ða-vít, cạo một nửa râu và cắt một nửa áo của họ cho đến mông, rồi thả về. <sup>5</sup> Người ta báo tin cho vua Ða-vít, vua sai người đi đón họ, vì những người ấy nhục nhã lắm. Vua bảo: &#8220;Các ngươi cứ ở lại Giê-ri-khô chờ cho râu mọc lại rồi hãy về.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến dịch thứ nhất đánh người Am-mon</strong> (1 Sb 19: 6-15)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Con cái Am-mon thấy rằng mình đã trở nên đáng ghét đối với vua Ða-vít. Con cái Am-mon đã sai người đi thuê của dân A-ram ở Bết Rơ-khốp và dân A-ram ở Xô-va: hai mươi ngàn bộ binh; của vua thành Ma-a-kha: một ngàn người; của dân thành Tốp: mười hai ngàn người. <sup>7</sup> Vua Ða-vít nghe tin thì sai ông Giô-áp đi với toàn thể đạo binh các dũng sĩ. <sup>8</sup> Con cái Am-mon tiến ra và dàn trận ở lối vào cửa thành. Quân A-ram Xô-va, quân A-ram Rơ-khốp, quân Tốp và quân Ma-a-kha thì đóng riêng ngoài đồng. <sup>9</sup> Ông Giô-áp thấy rằng mình phải đối phó với mặt trận cả phía trước lẫn phía sau, nên đã chọn trong toàn thể tinh binh của Ít-ra-en một số người và dàn trận đối diện với người A-ram. <sup>10</sup> Phần quân còn lại, ông giao cho ông A-vi-sai, anh ông, để dàn trận đối diện với con cái Am-mon. <sup>11</sup> Ông nói: &#8220;Nếu người A-ram mạnh hơn tôi, thì bác sẽ cứu viện tôi. Còn nếu con cái Am-mon mạnh hơn bác, thì tôi sẽ đến cứu viện bác. <sup>12</sup> Can đảm lên, chúng ta hãy tỏ ra can đảm, vì dân chúng ta và vì các thành của Thiên Chúa chúng ta! Xin Ðức Chúa thực hiện điều Người coi là tốt!&#8221; <sup>13</sup> Ông Giô-áp và quân binh của ông tiến lên giao chiến với quân A-ram, và chúng chạy trốn trước mặt họ. <sup>14</sup> Khi con cái Am-mon thấy quân A-ram chạy trốn, thì chúng cũng chạy trốn trước mặt ông A-vi-sai và rút về thành. Sau khi thắng con cái Am-mon, ông Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thắng quân A-ram</strong> (1 Sb 19: 16 -19)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Người A-ram thấy mình bị Ít-ra-en đánh bại, thì họp lại với nhau. <sup>16</sup> Vua Ha-đát-e-de sai người đi chiêu mộ người A-ram ở bên kia Sông Cả. Chúng đến Khê-lam, có Sô-vác, tướng chỉ huy quân đội của vua Ha-đát-e-de, cầm đầu. <sup>17</sup> Người ta báo tin cho vua Ða-vít. Vua quy tụ toàn thể Ít-ra-en, vượt sông Gio-đan và đến Khê-lam. Người A-ram dàn trận đối diện với vua Ða-vít và giao chiến với vua. <sup>18</sup> Người A-ram chạy trốn trước mặt Ít-ra-en. Vua Ða-vít tiêu diệt của người A-ram bảy trăm chiến xa và bốn mươi ngàn kỵ binh. Còn Sô-vác, tướng chỉ huy quân đội, thì bị vua hạ và chết tại đó. <sup>19</sup> Tất cả các vua chư hầu của vua Ha-đát-e-de thấy mình bị Ít-ra-en đánh bại, thì cầu hoà với Ít-ra-en và làm tôi họ. Người A-ram sợ không dám cứu viện con cái Am-mon nữa.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến dịch thứ hai đánh người Am-mon. Vua Ða-vít phạm tội.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Ða-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Ða-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Vào một buổi chiều, vua Ða-vít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. <sup>3</sup> Vua Ða-vít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: &#8220;Ðó chính là bà Bát Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết.&#8221; <sup>4</sup> Vua Ða-vít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. <sup>5</sup> Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Ða-vít rằng: &#8220;Tôi có thai.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vua Ða-vít sai người đến nói với ông Giô-áp: &#8220;Hãy sai U-ri-gia, người Khết, về gặp ta.&#8221; Ông Giô-áp sai ông U-ri-gia về gặp vua Ða-vít. <sup>7</sup> Khi ông U-ri-gia đến với vua, vua Ða-vít hỏi thăm về ông Giô-áp, về quân binh, về chiến sự. <sup>8</sup> Rồi vua Ða-vít bảo ông U-ri-gia: &#8220;Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân.&#8221; Ông U-ri-gia ra khỏi đền vua, có người bưng ra một phần thức ăn của nhà vua theo sau. <sup>9</sup> Nhưng ông U-ri-gia nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Người ta báo tin cho vua Ða-vít rằng: &#8220;Ông U-ri-gia đã không xuống nhà ông.&#8221; Vua Ða-vít hỏi ông U-ri-gia: &#8220;Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư? Tại sao ngươi không xuống nhà của ngươi?&#8221; <sup>11</sup> Ông U-ri-gia thưa với vua Ða-vít: &#8220;Hòm Bia cũng như Ít-ra-en và Giu-đa đang ở lều, chủ tướng tôi là ông Giô-áp và các bề tôi của chúa thượng đang đóng trại ở ngoài đồng trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao? Tôi xin lấy mạng sống của ngài, lấy chính mạng sống của ngài mà thề: tôi sẽ không làm điều ấy!&#8221; <sup>12</sup> Vua Ða-vít bảo ông U-ri-gia: &#8220;Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi đi.&#8221; Ông U-ri-gia ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó. Ngày hôm sau, <sup>13</sup> vua Ða-vít mời ông; ông ăn uống trước mặt vua, và vua cho ông uống say. Ðến chiều, ông ra nằm giường của ông cùng với các bề tôi của chúa thượng ông, nhưng không xuống nhà mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Sáng hôm sau, vua Ða-vít viết thư cho ông Giô-áp và gửi ông U-ri-gia mang đi. <sup>15</sup> Trong thư, vua viết rằng: &#8220;Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.&#8221; <sup>16</sup> Ông Giô-áp đang thám sát thành liền để ông U-ri-gia ở chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất. <sup>17</sup> Người trong thành xông ra, giao chiến với ông Giô-áp. Một số người trong quân binh, trong các bề tôi vua Ða-vít đã ngã gục, và ông U-ri-gia, người Khết, cũng chết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Giô-áp sai người về báo cho vua Ða-vít biết tất cả diễn tiến trận đánh. <sup>19</sup> Ông ra lệnh cho người lính biệt phái rằng: &#8220;Khi anh kể tất cả diễn tiến trận đánh cho đức vua xong, <sup>20</sup> nếu cơn giận đức vua nổi lên và người hỏi anh: &#8220;Tại sao các ngươi lại đến gần thành mà giao chiến? Các ngươi không biết là người ta bắn từ trên tường thành xuống sao? <sup>21</sup> Ai đã hạ A-vi-me-léc, con ông Giơ-rúp-be-sét? Chẳng phải một người đàn bà đã liệng xuống ông một thớt cối đá và ông đã chết tại Tê-vết đó sao? Tại sao các ngươi lại đến gần tường thành?, thì anh sẽ nói: &#8220;Tôi tớ ngài là ông U-ri-gia, người Khết, cũng đã chết&#8221;.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Người lính biệt phái ra đi và đến báo cho vua Ða-vít biết mọi điều ông Giô-áp đã sai anh về nói. <sup>23</sup> Người lính biệt phái nói với vua Ða-vít: &#8220;Những người ấy đã mạnh hơn chúng tôi và đã xông ra đánh chúng tôi ở ngoài đồng, nhưng chúng tôi đã đẩy lui chúng cho đến lối vào cửa thành. <sup>24</sup> Từ trên tường thành, lính bắn cung đã bắn xuống các bề tôi của ngài. Một số bề tôi đức vua đã chết, cả tôi tớ ngài là ông U-ri-gia, người Khết, cũng đã chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Vua Ða-vít bảo người lính biệt phái: &#8220;Hãy nói với ông Giô-áp thế này: &#8220;Ðừng bực mình về chuyện ấy, vì việc binh đao là thế: khi thì người này, khi thì người kia bị chém. Hãy mạnh mẽ tấn công và phá huỷ thành. Ngươi hãy khích lệ ông ấy.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Vợ ông U-ri-gia nghe tin ông U-ri-gia, chồng mình, đã chết, thì làm ma cho chồng. <sup>27</sup> Khi tang lễ đã qua, vua Ða-vít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Ða-vít không đẹp lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngôn sứ Na-than trách vua Ða-vít. Vua hối hận.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa sai ông Na-than đến với vua Ða-vít. Ông vào gặp vua và nói với vua:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Có hai người ở trong cùng một thành,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một người giàu, một người nghèo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Còn người nghèo chẳng có gì cả,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Có khách đến thăm người giàu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông bắt con chiên cái của người nghèo</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà làm thịt đãi người đến thăm ông.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vua Ða-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết! <sup>6</sup> Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót.&#8221; <sup>7</sup> Ông Na-than nói với vua Ða-vít: &#8220;Kẻ đó chính là ngài! Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Ít-ra-en, chính Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Sa-un. <sup>8</sup> Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa thượng ngươi, và đã đặt các người vợ của chúa thượng ngươi vào vòng tay ngươi. Ta đã cho ngươi nhà Ít-ra-en và Giu-đa. Nếu bấy nhiêu mà còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế nữa. <sup>9</sup> Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Ðức Chúa mà làm điều dữ trái mắt Người? Ngươi đã dùng gươm đâm U-ri-gia, người Khết; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi; còn chính y, ngươi đã dùng gươm của con cái Am-mon mà giết. <sup>10</sup> Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của U-ri-gia, người Khết, làm vợ ngươi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ta sắp dùng chính nhà của ngươi mà gây hoạ cho ngươi. Ta sẽ bắt các vợ của ngươi trước mắt ngươi mà cho một người khác, và nó sẽ nằm với các vợ của ngươi giữa thanh thiên bạch nhật. <sup>12</sup> Thật vậy, ngươi đã hành động lén lút, nhưng Ta, Ta sẽ làm điều ấy trước mặt toàn thể Ít-ra-en và giữa thanh thiên bạch nhật.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Bấy giờ vua Ða-vít nói với ông Na-than: &#8220;Tôi đắc tội với Ðức Chúa.&#8221; Ông Na-than nói với vua Ða-vít: &#8220;Về phía Ðức Chúa, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết. <sup>14</sup> Thế nhưng vì trong việc này ngài đã cả gan khinh thị Ðức Chúa, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết.&#8221; <sup>15</sup> Rồi ông Na-than trở về nhà.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con bà Bát Se-va chết. Vua Sa-lô-môn chào đời.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Vua Ða-vít cầu khẩn Thiên Chúa cho đứa trẻ, vua ăn chay nhiệm nhặt, và khi về nhà ngủ đêm thì nằm dưới đất. <sup>17</sup> Các kỳ mục trong nhà của vua nài nỉ xin vua trỗi dậy, nhưng vua không chịu và cũng chẳng ăn chút gì với họ. <sup>18</sup> Ðến ngày thứ bảy, đứa bé chết. Triều thần vua Ða-vít sợ không dám báo tin cho vua biết là đứa bé đã chết, vì họ bảo nhau: &#8220;Khi đứa trẻ còn sống, chúng ta đã nói với đức vua và người đã không nghe chúng ta. Bây giờ làm thế nào để nói với người là đứa bé đã chết? Hẳn người sẽ làm liều!&#8221; <sup>19</sup> Thấy triều thần thì thầm với nhau, vua Ða-vít hiểu là đứa bé đã chết. Vua Ða-vít hỏi triều thần: &#8220;Có phải đứa bé chết rồi không?&#8221; Họ thưa: &#8220;Vâng, chết rồi!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Bấy giờ vua Ða-vít từ dưới đất trỗi dậy, tắm rửa, xức dầu thơm, thay quần áo; rồi vua vào Nhà Ðức Chúa mà phủ phục. Trở về nhà, vua yêu cầu người ta dọn bữa, và vua đã ăn. <sup>21</sup> Triều thần nói với vua: &#8220;Ngài làm gì vậy? Khi đứa bé còn sống, thì ngài ăn chay và khóc lóc vì nó. Khi đứa bé chết rồi, thì ngài lại trỗi dậy và dùng bữa!&#8221; <sup>22</sup> Vua trả lời: &#8220;Bao lâu đứa bé còn sống, ta ăn chay và khóc lóc vì ta tự bảo: &#8220;Biết đâu Ðức Chúa sẽ thương xót ta và đứa bé sẽ sống! <sup>23</sup> Bây giờ nó chết rồi, ta ăn chay làm gì? Hỏi rằng ta còn có thể làm cho nó trở lại được không? Ta đi đến với nó, chứ nó không trở lại với ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vua Ða-vít an ủi bà Bát Se-va, vợ mình. Vua đến với nàng và nằm với nàng. Nàng sinh một con trai và vua gọi tên nó là Sa-lô-môn. Ðức Chúa yêu thương nó, <sup>25</sup> và sai ngôn sứ Na-than đến cho biết điều đó. Vì Ðức Chúa, ông gọi tên nó là Giơ-đi-đơ-gia.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hạ thành Ráp-ba</strong> (1 Sb 20: 1-3)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ông Giô-áp tấn công thành Ráp-ba của con cái Am-mon và hạ được hoàng thành. <sup>27</sup> Ông Giô-áp sai lính biệt phái về nói với vua Ða-vít: &#8220;Tôi đã tấn công Ráp-ba, tôi còn hạ được cả thành dưới, chỗ có nhiều nước. <sup>28</sup> Giờ đây, xin ngài tập hợp số quân binh còn lại, bao vây và chiếm thành, kẻo chính tôi sẽ hạ thành và nó sẽ mang tên tôi.&#8221; <sup>29</sup> Vua Ða-vít tập hợp toàn thể quân binh, đi Ráp-ba, tấn công và hạ thành. <sup>30</sup> Vua lột vương miện trên đầu vua chúng, vương miện cân nặng ba mươi ký vàng và có một viên ngọc quý; viên ngọc ấy được đặt trên đầu vua Ða-vít. Vua lấy đi rất nhiều chiến lợi phẩm của thành. <sup>31</sup> Còn dân trong thành thì vua đưa đi và bắt phải làm những việc dùng đến cưa, cuốc sắt, rìu sắt, và phải đúc gạch. Vua xử như thế với mọi thành của con cái Am-mon. Rồi vua Ða-vít và toàn thể quân binh trở về Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">C. Truyện Áp-sa-lôm</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Am-nôn làm nhục em gái là Ta-ma</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó xảy ra chuyện này. Áp-sa-lôm, con trai vua Ða-vít, có một cô em gái xinh đẹp, tên là Ta-ma. Am-nôn, con trai vua Ða-vít, yêu cô. <sup>2</sup> Am-nôn khắc khoải đến ốm tương tư vì Ta-ma, em gái cậu, bởi cô là gái còn trinh và Am-nôn thấy không có cách làm gì được cô. <sup>3</sup> Am-nôn có người bạn tên là Giô-na-đáp, con ông Sim-a, ông này là anh vua Ða-vít. Giô-na-đáp là người rất khôn lanh. <sup>4</sup> Cậu hỏi Am-nôn: &#8220;Này hoàng tử, sao mà sáng nào cũng bơ phờ như thế? Không nói cho anh biết được sao?&#8221; Am-nôn nói với cậu: &#8220;Em yêu Ta-ma, em gái của Áp-sa-lôm em trai em.&#8221; <sup>5</sup> Giô-na-đáp bảo cậu: &#8220;Chú cứ nằm trên giường và giả bệnh. Cha của chú sẽ đến thăm chú, chú sẽ thưa với người: &#8220;Xin cho phép Ta-ma, em con, đến lo việc ăn uống cho con: em con sẽ làm món ăn trước mắt con, để con thấy, và sẽ tự tay mang đến cho con ăn&#8221;.&#8221; <sup>6</sup> Am-nôn đi nằm và giả bệnh. Vua đến thăm, và Am-nôn thưa với vua: &#8220;Xin cho phép Ta-ma, em con, đến làm trước mắt con hai cái bánh và tự tay mang đến cho con dùng.&#8221; <sup>7</sup> Vua Ða-vít sai người đến nhà cô Ta-ma mà bảo: &#8220;Con hãy đến nhà Am-nôn, anh con, và làm món ăn cho anh.&#8221; <sup>8</sup> Ta-ma đến nhà Am-nôn, anh cô. Cậu đang nằm. Cô lấy bột, nhào, làm bánh trước mắt cậu và đem chiên. <sup>9</sup> Rồi cô cầm chảo và đổ bánh ra trước mặt cậu, nhưng cậu từ chối không chịu ăn. Am-nôn nói: &#8220;Hãy bảo mọi người ra khỏi đây.&#8221; Mọi người ra khỏi đó. <sup>10</sup> Am-nôn bảo Ta-ma: &#8220;Em đưa món ăn vào trong phòng, và tự tay mang đến cho anh dùng.&#8221; Ta-ma lấy những cái bánh cô đã làm, và đưa vào phòng cho Am-nôn, anh cô. <sup>11</sup> Cô đang bưng đến cho cậu thì cậu nắm lấy cô và nói với cô: &#8220;Ðến đây em, nằm với anh đi!&#8221; <sup>12</sup> Cô bảo cậu: &#8220;Ðừng, anh! Ðừng cưỡng hiếp em; vì không được phép làm điều ấy trong Ít-ra-en. Chớ làm chuyện đồi bại ấy. <sup>13</sup> Em đây, em sẽ mang nỗi hổ nhục của em đi đâu? Còn anh, anh sẽ bị coi như một tên đồi bại trong Ít-ra-en. Bây giờ, xin anh cứ thưa với đức vua, người sẽ không từ chối gả em cho anh đâu.&#8221; <sup>14</sup> Nhưng cậu không muốn nghe lời cô. Mạnh hơn cô, cậu cưỡng hiếp cô và nằm với cô.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bấy giờ Am-nôn đâm ra ghét cô, ghét thậm tệ: cậu còn ghét cô hơn là đã yêu cô. Am-nôn bảo cô: &#8220;Ðứng dậy! Cút đi!&#8221; <sup>16</sup> Cô nói với cậu: &#8220;Ðừng, đuổi em như vậy còn ác hơn là điều ác anh vừa làm đối với em.&#8221; Nhưng cậu không muốn nghe cô. <sup>17</sup> Cậu gọi người đầy tớ hầu hạ cậu và bảo: &#8220;Ðuổi cô này ra khỏi đây và khoá cửa lại sau khi cô ấy ra.&#8221; <sup>18</sup> Bấy giờ cô đang mặc áo chùng dài tay, vì các công chúa còn trinh thường mặc như thế. Người hầu của cậu cho cô ra ngoài, rồi khoá cửa lại sau khi cô ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ta-ma lấy tro bụi rắc lên đầu, xé cái áo chùng dài tay cô đang mặc, đặt tay lên đầu, vừa đi vừa kêu la. <sup>20</sup> Áp-sa-lôm, anh cô, hỏi cô: &#8220;Có phải thằng Am-nôn, anh của em, đã nằm với em không? Bây giờ, em ơi, nín đi: nó là anh của em. Ðừng để tâm vào chuyện này.&#8221; Ta-ma ở vậy trong nhà của Áp-sa-lôm, anh cô. <sup>21</sup> Vua Ða-vít nghe biết tất cả sự việc ấy thì giận lắm. <sup>22</sup> Áp-sa-lôm không nói bất cứ điều gì với Am-nôn, bởi lẽ Áp-sa-lôm ghét Am-nôn vì chuyện cưỡng hiếp Ta-ma, em cậu.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm ám sát Am-nôn rồi trốn đi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Hai năm sau, nhân dịp Áp-sa-lôm thuê thợ xén lông cừu tại Ba-an Kha-xo, gần Ép-ra-im, Áp-sa-lôm mời tất cả các hoàng tử. <sup>24</sup> Áp-sa-lôm vào gặp vua và thưa: &#8220;Tôi tớ ngài có thuê thợ xén lông cừu. Kính xin đức vua và triều thần đến với tôi tớ ngài.&#8221; <sup>25</sup> Vua nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Không được, con ạ, chúng ta không nên đi cả, kẻo thành gánh nặng cho con.&#8221; Cậu nài nỉ vua, nhưng vua không muốn đi. Vua chúc phúc cho cậu. <sup>26</sup> Áp-sa-lôm nói: &#8220;Vậy ít là xin cho anh Am-nôn của con đi với chúng con.&#8221; Vua hỏi cậu: &#8220;Nó đi với con làm gì?&#8221; <sup>27</sup> Áp-sa-lôm nài nỉ vua, nên vua cho Am-nôn và tất cả các hoàng tử đi với cậu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Áp-sa-lôm ra lệnh cho các đầy tớ của cậu rằng: &#8220;Các ngươi hãy để ý! Khi rượu đã làm cho lòng Am-nôn vui vẻ, và ta bảo các ngươi: &#8220;Hạ Am-nôn! , thì các ngươi hãy giết chết nó. Ðừng sợ! Chẳng phải là chính ta ra lệnh cho các ngươi sao? Can đảm lên, hãy tỏ ra là những người dũng cảm!&#8221; <sup>29</sup> Các đầy tớ của Áp-sa-lôm đã xử với Am-nôn như Áp-sa-lôm đã ra lệnh. Tất cả các hoàng tử đứng lên, mỗi người cưỡi la của mình mà chạy trốn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Khi họ còn đang trên đường, thì có tin báo về cho vua Ða-vít rằng: &#8220;Áp-sa-lôm đã hạ tất cả các hoàng tử, không người nào sống sót.&#8221; <sup>31</sup> Vua đứng dậy, xé áo ra và nằm xuống đất. Toàn thể triều thần đứng chung quanh đều xé áo ra. <sup>32</sup> Nhưng Giô-na-đáp, con ông Sim-a là anh vua Ða-vít, lên tiếng nói: &#8220;Xin chúa thượng đừng nói rằng người ta đã giết chết tất cả các cậu hoàng tử. Chỉ một mình Am-nôn chết thôi, vì Áp-sa-lôm đã quyết định điều ấy từ ngày Ta-ma, em gái mình bị cưỡng hiếp. <sup>33</sup> Giờ đây, xin đức vua là chúa thượng tôi đừng có tưởng rằng tất cả các hoàng tử đã chết. Không, chỉ một mình Am-nôn chết thôi. <sup>34</sup> Còn Áp-sa-lôm thì đã trốn đi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người đầy tớ đứng cạnh ngước mắt lên nhìn thì thấy một đám đông đi trên con đường sau lưng mình, bên sườn núi. <sup>35</sup> Giô-na-đáp nói với vua: &#8220;Kìa, các hoàng tử đang đến. Việc đã xảy ra như lời tôi tớ ngài nói.&#8221; <sup>36</sup> Cậu vừa nói xong thì này các hoàng tử đến. Họ oà lên khóc. Cả vua và toàn thể triều thần cũng lớn tiếng than khóc. <sup>37</sup> Còn Áp-sa-lôm thì trốn đi và đến với ông Tan-mai, là con ông Am-mi-hút và là vua xứ Gơ-sua. Ngày ngày vua để tang con.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-áp điều đình cho Áp-sa-lôm trở về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Áp-sa-lôm đã trốn đi, đến Gơ-sua và ở đó ba năm. <sup>39</sup> Vua Ða-vít hết giận Áp-sa-lôm, vì vua đã khuây khoả được nỗi buồn mất Am-nôn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Giô-áp, con bà Xơ-ru-gia, biết rằng lòng vua hướng về Áp-sa-lôm. <sup>2</sup> Ông Giô-áp sai người đi Tơ-cô-a tìm một người đàn bà khôn lanh và bảo bà ấy: &#8220;Xin bà giả bộ để tang: bà hãy mặc áo tang, đừng xức dầu thơm, và làm như một người đàn bà đã từ lâu để tang một người chết. <sup>3</sup> Rồi bà đến gặp đức vua và thưa với người lời lẽ thế này.&#8221; Ông Giô-áp đặt lời lẽ vào miệng bà.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vậy người đàn bà Tơ-cô-a đến nói với vua. Bà sấp mặt xuống đất mà lạy rồi thưa: &#8220;Thưa đức vua, xin cứu tôi với!&#8221; <sup>5</sup> Vua hỏi bà: &#8220;Ngươi có chuyện gì?&#8221; Bà thưa: &#8220;Than ôi! Tôi là đàn bà goá, chồng tôi đã chết. <sup>6</sup> Nữ tỳ ngài có hai con trai. Hai đứa xô xát ở ngoài đồng, không có ai can ngăn chúng. Ðứa này đánh đứa kia và giết chết nó. <sup>7</sup> Và này toàn thể thị tộc đã đứng lên chống lại nữ tỳ ngài và bảo: &#8220;Bà hãy nộp kẻ đã hạ người anh em mình. Chúng tôi sẽ bắt nó chết để đền mạng người anh em nó đã giết, và sẽ tiêu diệt luôn cả người thừa kế. Họ sẽ dập tắt chút than hồng còn sót lại cho tôi, không để cho chồng tôi được duy trì tên tuổi và còn người nối dõi trên mặt đất.&#8221; <sup>8</sup> Vua nói với người đàn bà: &#8220;Ngươi cứ về nhà. Chính ta sẽ ra lệnh về việc của ngươi.&#8221; <sup>9</sup> Người đàn bà Tơ-cô-a thưa vua: &#8220;Thưa đức vua là chúa thượng tôi, tội đổ xuống đầu tôi và xuống nhà cha tôi! Còn đức vua và ngai vàng của người thì vô can.&#8221; <sup>10</sup> Vua nói: &#8220;Kẻ nào nói gì với ngươi, cứ đưa nó đến với ta, và nó sẽ không còn đụng tới ngươi nữa.&#8221; <sup>11</sup> Bà nói: &#8220;Xin đức vua lấy Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, mà thề, để kẻ đòi nợ máu đừng gây thêm chết chóc, và người ta đừng tiêu diệt con trai tôi.&#8221; Vua nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống! Không một sợi tóc nào của con trai ngươi sẽ rơi xuống đất!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Người đàn bà nói: &#8220;Xin cho nữ tỳ ngài được thưa với đức vua là chúa thượng tôi một lời.&#8221; Vua bảo: &#8220;Cứ nói.&#8221; <sup>13</sup> Người đàn bà nói: &#8220;Vậy tại sao ngài lại tính một chuyện có hại cho dân Thiên Chúa như thế? Vì đã nói lời ấy, nên đức vua giống như một kẻ mắc tội, nếu đức vua không cho kẻ ngài đã đày biệt xứ được trở về. <sup>14</sup> Thật vậy, thế nào chúng ta cũng phải chết, như nước chảy xuống đất không thể hốt lại được. Nhưng Thiên Chúa không lấy sự sống đi và Người định liệu cho kẻ bị đày biệt xứ khỏi bị biệt xứ xa Người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> &#8220;Giờ đây, nếu tôi đến thưa điều ấy với đức vua là chúa thượng tôi, chính là vì dân đã làm cho tôi sợ. Nữ tỳ ngài tự nhủ: &#8220;Tôi phải thưa với đức vua, may ra đức vua sẽ làm điều nữ tỳ người nói. <sup>16</sup> Thật vậy, đức vua sẽ nhận lời mà giải thoát nữ tỳ người khỏi bàn tay kẻ muốn tiêu diệt tôi cùng với con trai tôi, không cho hưởng cơ nghiệp của Thiên Chúa&#8221;. <sup>17</sup> Nữ tỳ ngài tự nhủ: &#8220;Ước chi lời của đức vua là chúa thượng tôi làm tôi yên lòng, vì đức vua là chúa thượng tôi khác nào sứ giả Thiên Chúa để lắng nghe điều thiện điều ác. Xin Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, ở với ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Vua trả lời người đàn bà rằng: &#8220;Ðừng giấu ta điều ta sắp hỏi ngươi.&#8221; Người đàn bà nói: &#8220;Xin đức vua là chúa thượng tôi cứ nói.&#8221; <sup>19</sup> Vua hỏi: &#8220;Có phải bàn tay ông Giô-áp ở với ngươi trong tất cả việc này không?&#8221; Người đàn bà thưa rằng: &#8220;Thưa đức vua là chúa thượng tôi, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề: không ai có thể đi trệch bên phải bên trái ra khỏi mọi điều đức vua là chúa thượng tôi đã nói. Phải, chính tôi tớ ngài là ông Giô-áp đã truyền cho tôi và đã đặt vào miệng nữ tỳ ngài mọi lời ấy. <sup>20</sup> Chính là để cho sự việc có một bộ mặt khác mà tôi tớ ngài là ông Giô-áp đã làm việc đó. Nhưng sự khôn ngoan của chúa thượng sánh được với sự khôn ngoan của sứ giả Thiên Chúa: ngài biết tất cả những gì xảy ra trên mặt đất.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Vua bảo ông Giô-áp: &#8220;Ðược, ta làm ngay điều đó. Cứ đi, dẫn cậu Áp-sa-lôm về.&#8221; <sup>22</sup> Ông Giô-áp sấp mặt xuống đất mà lạy và chúc phúc cho vua. Ông Giô-áp nói: &#8220;Ngày hôm nay tôi tớ ngài biết rằng tôi được đẹp lòng đức vua là chúa thượng tôi, vì đức vua đã làm theo như lời của tôi tớ ngài.&#8221; <sup>23</sup> Ông Giô-áp lên đường đi Gơ-sua và đưa Áp-sa-lôm về Giê-ru-sa-lem. <sup>24</sup> Vua nói: &#8220;Nó hãy lui về nhà nó và sẽ không được gặp mặt ta.&#8221; Áp-sa-lôm lui về nhà mình và không được gặp mặt vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Một vài chi tiết về Áp-sa-lôm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Trong toàn thể Ít-ra-en, không có ai đẹp trai như Áp-sa-lôm, khiến người ta hết lời ca tụng: từ bàn chân cho tới đỉnh đầu không có một khuyết điểm nào. <sup>26</sup> Khi y cạo đầu -cuối mỗi năm y cạo đầu, vì tóc đè nặng trên đầu y và phải cạo- tóc đầu y cân nặng hai ký, theo quả cân của nhà vua. <sup>27</sup> Áp-sa-lôm sinh được ba con trai, và một con gái tên là Ta-ma. Nàng là một phụ nữ có nhan sắc.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm được tha thứ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Áp-sa-lôm ở Giê-ru-sa-lem hai năm mà không được gặp mặt vua. <sup>29</sup> Áp-sa-lôm sai người tìm ông Giô-áp để cử ông đến gặp vua, nhưng ông không chịu đến gặp y. Y lại sai người đi tìm một lần nữa, nhưng ông không chịu đến. <sup>30</sup> Y bảo các tôi tớ: &#8220;Hãy xem cánh đồng của ông Giô-áp, ở bên cánh đồng của ta, ông ấy trồng lúa mạch ở đó. Hãy đi nổi lửa mà đốt.&#8221; Tôi tớ của Áp-sa-lôm đã nổi lửa đốt cánh đồng. <sup>31</sup> Ông Giô-áp đứng lên và đến nhà Áp-sa-lôm mà hỏi y: &#8220;Tại sao tôi tớ của chú nổi lửa đốt cánh đồng của tôi?&#8221; <sup>32</sup> Áp-sa-lôm nói với ông Giô-áp: &#8220;Anh xem: tôi đã sai người đến mời anh tới đây, để cử anh đi thưa với đức vua: &#8220;Con từ Gơ-sua về làm gì? Thà con vẫn ở đó còn hơn. Bây giờ tôi muốn được gặp mặt đức vua. Nếu tôi có lỗi gì, xin người cứ giết tôi đi!&#8221; <sup>33</sup> Ông Giô-áp vào gặp vua và báo cho vua biết. Vua cho gọi Áp-sa-lôm. Y vào gặp vua, sấp mặt xuống đất trước mặt vua mà lạy. Vua hôn Áp-sa-lôm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thủ đoạn của Áp-sa-lôm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó, Áp-sa-lôm đóng cho mình một cỗ xe, với những con ngựa và năm mươi người hộ tống. <sup>2</sup> Áp-sa-lôm dậy sớm và đứng ở bên đường vào cửa thành. Mỗi khi người nào có kiện cáo mà đến với vua để xin xét xử, thì Áp-sa-lôm gọi người ấy lại mà hỏi: &#8220;Ông người thành nào?&#8221; Người kia thưa: &#8220;Tôi tớ ngài thuộc chi tộc này, chi tộc nọ trong Ít-ra-en.&#8221; <sup>3</sup> Áp-sa-lôm bảo người ấy: &#8220;Ông xem: vụ kiện của ông đúng và hợp lý, nhưng không có ai thay mặt đức vua để nghe ông đâu.&#8221; <sup>4</sup> Áp-sa-lôm nói: &#8220;Phải chi có ai đặt tôi làm thẩm phán trong xứ này! Tất cả những người có kiện cáo và cần xét xử, sẽ đến với tôi, và tôi sẽ xử công minh cho họ.&#8221; <sup>5</sup> Khi có người đến lạy y thì y đưa tay ra, giữ lấy người ấy mà hôn. <sup>6</sup> Áp-sa-lôm làm như thế với mọi người Ít-ra-en đến xin vua xét xử. Và Áp-sa-lôm đã mua chuộc lòng người Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm làm loạn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Sau bốn năm, Áp-sa-lôm thưa với vua: &#8220;Xin cho phép con đi Khép-rôn để con giữ trọn lời đã khấn hứa với Ðức Chúa, <sup>8</sup> vì khi còn ở Gơ-sua miền A-ram, tôi tớ ngài đã có lời khấn hứa rằng: &#8220;Nếu quả thực Ðức Chúa cho con trở về Giê-ru-sa-lem, thì con sẽ thờ phượng Ðức Chúa&#8221;.&#8221; <sup>9</sup> Vua bảo y: &#8220;Con đi bình an.&#8221; Y lên đường đi Khép-rôn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Áp-sa-lôm sai người bí mật đến tất cả các chi tộc Ít-ra-en mà nói: &#8220;Khi anh em nghe thấy tiếng tù và thì hãy nói: Áp-sa-lôm đã lên ngôi vua tại Khép-rôn!&#8221; <sup>11</sup> Cùng với Áp-sa-lôm có hai trăm người đi từ Giê-ru-sa-lem; họ là những khách được mời, vô tình mà đến, không hay biết gì về chuyện đó. <sup>12</sup> Khi dâng các hy lễ, Áp-sa-lôm sai người đi tìm A-khi-thô-phen, người thành Ghi-lô, cố vấn của vua Ða-vít, và triệu y về từ thành của y là Ghi-lô. Bọn mưu phản thêm mạnh và dân theo Áp-sa-lôm ngày càng đông.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít chạy trốn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người đưa tin đến nói với vua Ða-vít: &#8220;Lòng người Ít-ra-en đã theo Áp-sa-lôm.&#8221; <sup>14</sup> Vua Ða-vít bảo toàn thể triều thần ở với vua tại Giê-ru-sa-lem: &#8220;Ðứng lên! Chúng ta chạy trốn đi, vì chúng ta sẽ không thoát được Áp-sa-lôm. Ði cho mau, kẻo chẳng mấy chốc nó đuổi kịp chúng ta, giáng tai hoạ xuống chúng ta và dùng lưỡi gươm giết dân thành.&#8221; <sup>15</sup> Triều thần thưa với vua: &#8220;Ðức vua là chúa thượng chọn cái gì, các tôi tớ ngài đây xin sẵn sàng!&#8221; <sup>16</sup> Vua đi ra và cả nhà theo chân, nhưng vua để lại mười người tỳ thiếp để giữ nhà. <sup>17</sup> Vua đi ra và toàn dân theo chân, họ dừng lại ở ngôi nhà cuối cùng. <sup>18</sup> Toàn thể triều thần đi qua, sát bên cạnh vua, tất cả quân Cơ-rê-thi, tất cả quân Pơ-lê-thi và tất cả quân Gát -tức là sáu trăm người đã theo chân vua từ Gát đến- đi qua trước mặt vua. <sup>19</sup> Vua nói với ông Ít-tai, người Gát: &#8220;Tại sao cả ngươi nữa cũng đi với chúng ta? Hãy trở về và ở với nhà vua, bởi vì ngươi là người nước ngoài, ngươi còn bỏ quê hương mà sống lưu vong. <sup>20</sup> Ngươi mới đến hôm qua, mà hôm nay ta lại bắt ngươi phải đi lang thang với chúng ta, trong khi ta đi mà chẳng biết đi đâu! Hãy trở về và đưa các anh em ngươi trở về cùng với ngươi. Xin Ðức Chúa lấy tình thương và lòng thành tín mà đối xử với ngươi.&#8221; <sup>21</sup> Ông Ít-tai trả lời vua rằng: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống và có đức vua là chúa thượng tôi đang sống, tôi thề: đức vua là chúa thượng tôi ở đâu, thì dù sống dù chết, tôi tớ ngài cũng ở đó!&#8221; <sup>22</sup> Vua Ða-vít bảo ông Ít-tai: &#8220;Hãy đi qua!&#8221; Ông Ít-tai, người Gát, đã đi qua cùng với tất cả những người của ông và mọi trẻ con theo ông. <sup>23</sup> Cả xứ khóc to tiếng và toàn dân đi qua. Vua đi qua thung lũng Kít-rôn, và toàn dân đi qua phía trước con đường vào sa mạc.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hòm Bia ở lại Giê-ru-sa-lem</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Và có cả ông Xa-đốc, và cùng với ông, có tất cả các thầy Lê-vi khiêng Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa. Họ đặt Hòm Bia Thiên Chúa xuống, và ông Ép-gia-tha tiến lên, cho đến khi toàn dân ra khỏi thành đã đi qua hết. <sup>25</sup> Vua bảo ông Xa-đốc: &#8220;Hãy đưa Hòm Bia Thiên Chúa về thành. Nếu ta được đẹp lòng Ðức Chúa, thì Người sẽ đưa ta trở về và cho ta thấy Hòm Bia và nơi Người ngự. <sup>26</sup> Nhưng nếu Người nói là Người không thương ta nữa, thì này ta đây, Người cứ làm cho ta điều Người cho là tốt.&#8221; <sup>27</sup> Vua nói với tư tế Xa-đốc: &#8220;Ngươi thấy không? Cứ trở về thành bình an. Có hai con trai của các ngươi ở với các ngươi: A-khi-ma-át, con của ngươi, và Giô-na-than, con của Ép-gia-tha. <sup>28</sup> Các ngươi xem: ta sẽ nán lại ở các chỗ qua sông vào sa mạc, chờ khi có lời các ngươi gửi đến báo tin cho ta.&#8221; <sup>29</sup> Ông Xa-đốc và ông Ép-gia-tha đưa Hòm Bia Thiên Chúa về Giê-ru-sa-lem, và họ ở lại đó.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít nhờ ông Khu-sai giúp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Vua Ða-vít lên dốc Cây Ô-liu, vừa lên vừa khóc, đầu trùm khăn, chân đi đất, và toàn dân đi với vua ai cũng đầu trùm khăn, vừa lên vừa khóc. <sup>31</sup> Người ta báo tin cho vua Ða-vít rằng: &#8220;A-khi-thô-phen ở trong đám những người âm mưu cùng với Áp-sa-lôm.&#8221; Vua Ða-vít nói: &#8220;Lạy ÐỨC CHÚA, xin làm cho lời bàn của A-khi-thô-phen ra vô hiệu!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Khi vua Ða-vít lên tới đỉnh, nơi người ta thờ lạy Thiên Chúa, thì này ông Khu-sai, người Ác-ki, đón gặp vua, áo chùng ông xé rách, đầu thì rắc đất. <sup>33</sup> Vua Ða-vít nói với ông: &#8220;Nếu ông qua đây với ta, thì ông sẽ nên gánh nặng cho ta. <sup>34</sup> Nhưng nếu ông trở về thành và nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Thưa đức vua, tôi là tôi tớ ngài; trước đây tôi là tôi tớ cha ngài, còn bây giờ tôi là tôi tớ ngài&#8221;, thì ông sẽ phá cho ta lời bàn của A-khi-thô-phen. <sup>35</sup> Nào các tư tế Xa-đốc và Ép-gia-tha sẽ chẳng có ở đó với ông sao? Tất cả những gì nghe được từ đền vua, ông sẽ báo cho các tư tế Xa-đốc và Ép-gia-tha. <sup>36</sup> Họ có hai người con trai ở đó với họ là A-khi-ma-át, con Xa-đốc và Giô-na-than, con Ép-gia-tha. Các ông sẽ nhờ chúng báo cho ta mọi điều các ông nghe được.&#8221; <sup>37</sup> Ông Khu-sai, bạn vua Ða-vít, vào thành khi Áp-sa-lôm đến Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít và ông Xi-va</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi vua Ða-vít đi qua đỉnh được một chút, thì có ông Xi-va, đầy tớ ông Mơ-phi-bô-sét đón gặp vua, dẫn theo hai con lừa thồ chở hai trăm cái bánh, một trăm chùm nho khô, một trăm trái cây và một bầu da đầy rượu. <sup>2</sup> Vua Ða-vít hỏi ông Xi-va: &#8220;Ngươi định làm gì với những thứ này?&#8221; Ông Xi-va trả lời: &#8220;Lừa thì để cho hoàng gia cưỡi, bánh và trái cây thì để cho các đầy tớ ăn, rượu thì để cho người mệt lả trong sa mạc uống.&#8221; <sup>3</sup> Vua hỏi: &#8220;Người con của chủ ngươi đâu?&#8221; Ông Xi-va thưa với vua: &#8220;Ông ấy ở lại Giê-ru-sa-lem, vì ông tự bảo: &#8220;Hôm nay nhà Ít-ra-en sẽ trả lại cho ta vương quyền của cha ta.&#8221; <sup>4</sup> Vua bảo ông Xi-va: &#8220;Vậy tất cả những gì là của Mơ-phi-bô-sét thì là của ngươi.&#8221; Ông Xi-va nói: &#8220;Tôi xin bái tạ. Ước chi tôi được đẹp lòng ngài, thưa đức vua là chúa thượng tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sim-y nguyền rủa vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi vua Ða-vít đến Ba-khu-rim thì kìa có một người từ đó đi ra. Y thuộc cùng một thị tộc với nhà Sa-un, và tên là Sim-y, con ông Ghê-ra. Y vừa đi ra vừa nguyền rủa. <sup>6</sup> Y ném đá vào vua Ða-vít và tất cả bề tôi vua, mặc dầu có toàn thể quân đội và toàn thể các dũng sĩ ở bên phải và bên trái vua. <sup>7</sup> Sim-y nói thế này trong lời nguyền rủa của y: &#8220;Cút đi, cút đi, tên khát máu, thằng vô lại! <sup>8</sup> Ðức Chúa đã đổ xuống đầu mày tất cả máu của nhà Sa-un, người đã bị mày chiếm ngôi, và Ðức Chúa đã trao vương quyền vào tay Áp-sa-lôm, con mày. Và này, mày phải tai hoạ, vì mày là tên khát máu!&#8221; <sup>9</sup> Ông A-vi-sai, con bà Xơ-ru-gia, thưa với vua: &#8220;Tại sao thằng chó chết này dám nguyền rủa đức vua là chúa thượng tôi? Xin cho tôi qua chặt đầu nó!&#8221; <sup>10</sup> Vua nói: &#8220;Chuyện của ta can gì đến các ngươi, hỡi các con bà Xơ-ru-gia? Nếu nó nguyền rủa và nếu Ðức Chúa bảo nó: &#8220;Hãy nguyền rủa Ða-vít&#8221;, thì ai dám hỏi: &#8220;Tại sao mày làm như thế?&#8221; <sup>11</sup> Vua Ða-vít nói với ông A-vi-sai và tất cả bề tôi: &#8220;Này con trai ta, do chính ta sinh ra mà còn tìm hại mạng sống ta, huống chi là tên Ben-gia-min này! Cứ để nó nguyền rủa, nếu Ðức Chúa đã bảo nó. <sup>12</sup> May ra Ðức Chúa sẽ đoái nhìn đến nỗi khổ cực của ta và Ðức Chúa sẽ trả lại cho ta hạnh phúc, thay vì lời nguyền rủa của nó hôm nay.&#8221; <sup>13</sup> Vua Ða-vít và người của vua vẫn đi trên đường, còn Sim-y thì đi ở sườn núi, song song với vua, vừa đi vừa nguyền rủa và ném đá, song song với vua; y làm bụi tung lên. <sup>14</sup> Vua và toàn dân theo vua đi tới nơi thì mệt lả. Họ nghỉ lấy sức tại đó.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Khu-sai đến với Áp-sa-lôm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Áp-sa-lôm và toàn thể quân binh người Ít-ra-en vào Giê-ru-sa-lem, có A-khi-thô-phen cùng đi. <sup>16</sup> Khi ông Khu-sai, người Ác-ki, bạn vua Ða-vít, đến gặp Áp-sa-lôm, thì ông Khu-sai nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Vạn tuế đức vua! Vạn tuế đức vua!&#8221; <sup>17</sup> Áp-sa-lôm hỏi ông Khu-sai: &#8220;Tình nghĩa của ông đối với người bạn ông là như thế ư? Tại sao ông không đi với bạn ông?&#8221; <sup>18</sup> Ông Khu-sai nói với ông Áp-sa-lôm: &#8220;Ðức Chúa, cũng như dân này và tất cả mọi người Ít-ra-en đã chọn ai, thì tôi sẽ thuộc về người ấy và ở với người ấy. <sup>19</sup> Thứ đến, tôi sẽ phục vụ ai, nếu không phải là con của người ấy? Tôi đã phục vụ cha ngài thế nào, thì tôi cũng sẽ phục vụ ngài như vậy.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm và các tỳ thiếp của vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Áp-sa-lôm bảo A-khi-thô-phen: &#8220;Các ngươi hãy bàn nhau xem chúng ta phải làm gì.&#8221; <sup>21</sup> A-khi-thô-phen nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Xin ngài hãy đến với các tỳ thiếp mà cha ngài đã để lại giữ nhà. Toàn thể Ít-ra-en sẽ nghe biết rằng ngài đã trở nên đáng ghét đối với cha ngài, và mọi người theo ngài sẽ mạnh bạo lên.&#8221; <sup>22</sup> Người ta căng lều cho Áp-sa-lôm trên sân thượng, và Áp-sa-lôm đến với các tỳ thiếp của cha mình trước mắt toàn thể Ít-ra-en. <sup>23</sup> Lời bàn mà A-khi-thô-phen đưa ra trong những ngày ấy thì giống như lời Thiên Chúa phán, khi người ta thỉnh ý. Mọi lời bàn của A-khi-thô-phen đều có giá trị như thế đối với cả vua Ða-vít lẫn Áp-sa-lôm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Khu-sai làm hỏng kế hoạch của A-khi-thô-phen</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> A-khi-thô-phen nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Xin để tôi tuyển mười hai ngàn người, tôi sẽ lên đường đuổi theo Ða-vít ngay đêm nay. <sup>2</sup> Tôi sẽ đến tấn công ông ấy, trong lúc ông ấy kiệt sức, tay chân rụng rời, tôi sẽ làm cho ông khiếp sợ, toàn dân theo ông sẽ bỏ trốn, và tôi sẽ hạ một mình nhà vua. <sup>3</sup> Tôi sẽ đưa toàn dân về với ngài. Hạ được người mà ngài đang tìm thì cũng như làm cho mọi người trở về: toàn dân sẽ được bình an.&#8221; <sup>4</sup> Áp-sa-lôm và toàn thể các kỳ mục Ít-ra-en thấy lời đó là phải.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nhưng Áp-sa-lôm nói: &#8220;Hãy mời cả ông Khu-sai, người Ác-ki, để chúng ta cũng nghe cả ông ấy nữa, xem ông nói gì.&#8221; <sup>6</sup> Ông Khu-sai đến gặp Áp-sa-lôm. Áp-sa-lôm nói với ông rằng: &#8220;Ông A-khi-thô-phen đã nói như vậy. Chúng ta có nên làm điều ông ấy nói không? Nếu không thì chính ông nói đi.&#8221; <sup>7</sup> Ông Khu-sai nói với Áp-sa-lôm: &#8220;Lần này lời bàn ông A-khi-thô-phen đưa ra không hay.&#8221; <sup>8</sup> Rồi ông Khu-sai nói: &#8220;Ngài biết rằng cha ngài và người của ông là những dũng sĩ và họ cay đắng trong tâm hồn như gấu mẹ mất con ngoài đồng. Cha ngài là một chiến binh, ông sẽ không nghỉ đêm với dân. <sup>9</sup> Bây giờ chắc ông đang ẩn núp trong một hầm hố hay một nơi nào đó. Nếu ngay từ đầu có những người phe ta ngã gục, chắc chắn có người sẽ nghe biết và sẽ nói: &#8220;Dân theo Áp-sa-lôm đã bị bại! <sup>10</sup> Bấy giờ cả người can đảm, có gan như gan sư tử, cũng sẽ nản lòng, vì toàn thể Ít-ra-en biết rằng cha ngài là một dũng sĩ và những kẻ theo ông là người can đảm. <sup>11</sup> Vậy tôi xin bàn thế này: toàn thể Ít-ra-en, từ Ðan tới Bơ-e Se-va sẽ tập trung về với ngài, đông như cát ngoài bãi biển, và ngài sẽ đích thân đi đánh trận. <sup>12</sup> Chúng ta sẽ đến đánh ông tại bất cứ nơi nào ông đang ở, chúng ta sẽ đậu trên ông như sương rơi trên đất đai, và ông cũng như những người theo ông sẽ không còn sót lại một ai. <sup>13</sup> Nếu ông tập trung vào một thành, toàn thể Ít-ra-en sẽ đem dây thừng đến thành đó và chúng ta sẽ lôi thành ấy xuống thung lũng, đến nỗi không còn tìm thấy ở đó một hòn sỏi.&#8221; <sup>14</sup> Áp-sa-lôm và tất cả các người Ít-ra-en nói: &#8220;Lời bàn của ông Khu-sai, người Ác-ki, hay hơn lời bàn của ông A-khi-thô-phen.&#8221; Thật vậy, Ðức Chúa đã quyết định phá lời bàn hay của A-khi-thô-phen, để đem tai hoạ đến cho Áp-sa-lôm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông Khu-sai nói với các tư tế Xa-đốc và Ép-gia-tha: &#8220;A-khi-thô-phen đã bàn thế này thế này với Áp-sa-lôm và các kỳ mục Ít-ra-en; còn tôi, tôi đã bàn thế kia thế kia. <sup>16</sup> Bây giờ các ông hãy mau sai người đi báo tin cho vua Ða-vít rằng: &#8220;Xin đức vua đừng dừng lại đêm nay tại các vùng đất hoang trong sa mạc, nhưng ngài phải đi qua ngay, kẻo đức vua và toàn dân theo người sẽ bị tiêu diệt&#8221;.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðược tin báo, vua Ða-vít qua sông Gio-đan.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Giô-na-than và A-khi-ma-át đứng sẵn ở Ên Rô-ghên. Một nữ tỳ đi báo tin cho họ, rồi họ đi báo tin cho vua Ða-vít, họ không vào thành, vì không được để người ta nhìn thấy. <sup>18</sup> Nhưng một thanh niên thấy họ và báo cho Áp-sa-lôm. Cả hai vội vàng đi và đến nhà một người ở Ba-khu-rim, người này có một cái giếng trong sân. Họ xuống đó. <sup>19</sup> Vợ người ấy lấy tấm bố, trải ra trên miệng giếng rồi rải hạt lên trên. Chẳng ai hay biết gì.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Các tôi tớ Áp-sa-lôm vào nhà bà ấy và hỏi: &#8220;A-khi-ma-át và Giô-na-than đâu?&#8221; Bà trả lời chúng: &#8220;Họ đã đi qua sông.&#8221; Chúng tìm nhưng không thấy, nên trở về Giê-ru-sa-lem. <sup>21</sup> Sau khi chúng đi rồi, thì hai người lên khỏi giếng và đi báo tin cho vua Ða-vít. Họ nói với vua Ða-vít: &#8220;Xin các ngài lên đường và mau mau qua sông, bởi vì A-khi-thô-phen đã bàn thế này để hại các ngài.&#8221; <sup>22</sup> Vua Ða-vít và tất cả quân binh theo vua đã lên đường qua sông Gio-đan. Khi trời sáng, mọi người đã qua sông, không sót một ai.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> A-khi-thô-phen thấy người ta không làm theo lời bàn của mình thì thắng lừa, lên đường đi về nhà, trong thành mình. Y thu xếp việc nhà, rồi thắt cổ tự tử. Y được chôn cất trong phần mộ của cha y.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm qua sông Gio-đan. Vua Ða-vít tại Ma-kha-na-gim.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vua Ða-vít đến Ma-kha-na-gim, trong khi Áp-sa-lôm và toàn thể người Ít-ra-en cùng với y qua sông Gio-đan. <sup>25</sup> Áp-sa-lôm đã đặt A-ma-xa chỉ huy quân đội thay ông Giô-áp. A-ma-xa là con trai một người đàn ông tên là Gít-ra, người Ít-ra-en; người này đã đi lại với bà A-vi-ga-gin là con gái ông Na-khát và là chị em với bà Xơ-ru-gia, mẹ ông Giô-áp. <sup>26</sup> Ít-ra-en và Áp-sa-lôm đóng trại ở đất Ga-la-át.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Khi vua Ða-vít đến Ma-kha-na-gim, thì ông Sô-vi con ông Na-khát, từ thành Ráp-ba của con cái Am-mon, ông Ma-khia con ông Am-mi-ên, từ Lô Ðơ-va, và ông Bác-di-lai người Ga-la-át, từ Rốc-lim, <sup>28</sup> đem giường, chậu, bát đĩa, lúa mì, lúa mạch, bột, gié lúa rang, đậu tằm, đậu nâu, <sup>29</sup> mật ong, sữa chua, chiên dê và bê sữa, đến dâng cho vua Ða-vít và dân ở với vua, vì họ nói: &#8220;Dân đói, mệt lả và khát trong sa mạc.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phe Áp-sa-lôm bại trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít duyệt đám quân binh theo ông và đặt những người chỉ huy một ngàn, chỉ huy một trăm quân, để điều khiển họ. <sup>2</sup> Vua Ða-vít sai quân binh đi: một phần ba giao cho ông Giô-áp, một phần ba giao cho ông A-vi-sai, là con bà Xơ-ru-gia và là em ông Giô-áp, một phần ba giao cho ông Ít-tai, người Gát. Vua nói với quân binh: &#8220;Ta sẽ đích thân ra trận với các ngươi.&#8221; <sup>3</sup> Nhưng quân binh nói: &#8220;Ngài không được ra trận; vì nếu chúng tôi chạy trốn, người ta sẽ không để tâm đến chúng tôi, nếu một nửa số chúng tôi chết, người ta sẽ không để tâm đến chúng tôi, còn ngài, ngài bằng mười ngàn người chúng tôi; vậy tốt hơn là ngài cứ ở trong thành mà tiếp viện chúng tôi. &#8221; <sup>4</sup> Vua nói với họ: &#8220;Ta sẽ làm điều các ngươi coi là tốt.&#8221; Vua đứng ở bên cửa thành, trong khi quân binh kéo ra từng đơn vị một trăm, một ngàn. <sup>5</sup> Vua ra lệnh cho ông Giô-áp, ông A-vi-sai và ông Ít-tai rằng: &#8220;Vì ta, hãy nhẹ tay với cậu Áp-sa-lôm!&#8221; Toàn thể quân binh nghe thấy vua ra lệnh cho tất cả các tướng về Áp-sa-lôm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Quân binh ra ngoài đồng nghênh chiến với Ít-ra-en, và cuộc giao tranh xẩy ra trong rừng Ép-ra-im. <sup>7</sup> Tại đó, quân binh Ít-ra-en bị bề tôi vua Ða-vít đánh bại. Hôm ấy là một ngày đại bại: hai mươi ngàn người chết tại đó. <sup>8</sup> Cuộc giao tranh tản ra khắp xứ, và ngày hôm ấy quân binh chết vì rừng nhiều hơn là chết vì gươm.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Áp-sa-lôm chết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Áp-sa-lôm bị bề tôi vua Ða-vít bắt gặp. Áp-sa-lôm đang cưỡi con la đi vào dưới một cây vân hương lớn, cành lá chằng chịt. Ðầu y mắc vào cây vân hương và y bị treo giữa trời và đất, còn con la y cưỡi thì đi mất. <sup>10</sup> Một người trông thấy và báo tin cho ông Giô-áp: &#8220;Này, tôi thấy Áp-sa-lôm treo trên một cây vân hương.&#8221; <sup>11</sup> Ông Giô-áp nói với người đã báo tin cho ông: &#8220;Này, anh đã thấy, sao anh không hạ nó ngay tại chỗ? Như thế, hẳn ta đã phải cho anh ba lượng bạc và một cái thắt lưng rồi!&#8221; <sup>12</sup> Người kia nói với ông Giô-áp: &#8220;Giả như người ta cân ngay vào tay tôi ba trăm lượng bạc, tôi cũng không dám ra tay hại hoàng tử, vì chính tai chúng tôi đã nghe đức vua ra lệnh cho ông, ông A-vi-sai và ông Ít-tai rằng: &#8220;Dù là ai đi nữa, các người cũng phải giữ gìn cậu Áp-sa-lôm! <sup>13</sup> Cho dù tôi liều mạng làm điều thất trung ấy, thì cũng chẳng có gì giấu được đức vua, còn ông, ông sẽ đứng xa.&#8221; <sup>14</sup> Ông Giô-áp nói: &#8220;Tôi không mất thời giờ với anh như thế nữa&#8221;, rồi ông cầm lấy ba cây thương trong tay, đâm vào tim Áp-sa-lôm, khi y vẫn còn sống, treo trên cây vân hương. <sup>15</sup> Rồi mười thanh niên, người hầu cận của ông Giô-áp, xúm lại đánh Áp-sa-lôm và giết y.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Giô-áp cho thổi tù và, cùng lúc đó quân binh thôi không đuổi theo Ít-ra-en nữa, vì ông Giô-áp đã giữ quân binh lại. <sup>17</sup> Người ta đem Áp-sa-lôm quăng vào một cái hố lớn trong rừng, rồi chất một đống đá rất lớn lên trên. Toàn thể Ít-ra-en đã chạy trốn, ai nấy về lều mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi còn sống, Áp-sa-lôm đã khởi công dựng cho mình một tấm bia trong thung lũng Nhà Vua, vì y tự bảo: &#8220;Tôi không có con trai để lưu truyền tên tuổi.&#8221; Y đã lấy tên mình mà đặt cho tấm bia ấy. Người ta còn gọi là &#8220;đài Áp-sa-lôm&#8221; cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít được tin Áp-sa-lôm chết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> A-khi-ma-át, con ông Xa-đốc, nói: &#8220;Xin cho phép tôi chạy đi báo tin mừng cho đức vua là Ðức Chúa đã phân xử để đức vua thoát khỏi tay các kẻ thù của đức vua.&#8221; <sup>20</sup> Ông Giô-áp nói với anh: &#8220;Hôm nay, anh sẽ không phải là người đem tin mừng. Hôm khác, anh sẽ đem tin mừng, nhưng hôm nay anh sẽ không đem tin mừng, vì lý do là hoàng tử đã chết.&#8221; <sup>21</sup> Ông Giô-áp bảo một người Cút: &#8220;Ði báo cho đức vua điều anh đã thấy.&#8221; Người Cút sụp xuống lạy ông Giô-áp rồi chạy đi. <sup>22</sup> Một lần nữa, A-khi-ma-át, con ông Xa-đốc, lại nói với ông Giô-áp: &#8220;Ra sao thì ra! Xin cho phép tôi cũng chạy theo người Cút.&#8221; Ông Giô-áp nói: &#8220;Chạy làm gì, con ơi? Ðem tin mừng đó chẳng lợi lộc gì cho con đâu!&#8221; <sup>23</sup> Anh nói: &#8220;Ra sao thì ra! Tôi cứ chạy đi!&#8221; Ông bảo: &#8220;Thì chạy đi!&#8221; A-khi-ma-át chạy theo con đường vùng sông Gio-đan và vượt qua người Cút.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vua Ða-vít đang ngồi giữa hai cửa thành. Người lính canh đi tới sân thượng cửa thành, trên tường thành. Anh ngước mặt lên nhìn thì thấy một người đang chạy một mình. <sup>25</sup> Người lính canh kêu lên và báo tin cho vua. Vua nói: &#8220;Nếu nó chỉ có một mình, tức là nó có tin mừng để báo.&#8221; Trong khi người này tiếp tục đi đến gần, <sup>26</sup> thì người lính canh thấy một người khác đang chạy. Anh gọi người giữ cửa và nói: &#8220;Kìa, một người nữa đang chạy một mình.&#8221; Vua nói: &#8220;Cả người ấy cũng báo tin mừng.&#8221; <sup>27</sup> Người lính canh nói: &#8220;Tôi thấy kiểu chạy của người thứ nhất như kiểu chạy của anh A-khi-ma-át, con ông Xa-đốc.&#8221; Vua nói: &#8220;Anh ta là một người tốt, anh đến để đem tin mừng, tin tốt đấy!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> A-khi-ma-át kêu lên và nói với vua: &#8220;Kính chúc bình an! &#8221; Rồi anh sấp mặt xuống đất lạy vua và nói: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa là Thiên Chúa của ngài, đã nộp những kẻ giơ tay chống lại đức vua là chúa thượng của con!&#8221; <sup>29</sup> Vua hỏi: &#8220;Cậu Áp-sa-lôm có được bình an không?&#8221; A-khi-ma-át trả lời: &#8220;Con thấy có đông người xôn xao khi ông Giô-áp sai một tôi tớ đức vua và tôi tớ ngài đây, nhưng con không biết có chuyện gì.&#8221; <sup>30</sup> Vua nói: &#8220;Hãy lui ra một bên và đứng đó.&#8221; Anh lui ra một bên và đứng chờ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Bấy giờ người Cút đến. Người Cút nói: &#8220;Xin đức vua là chúa thượng tôi nghe tin mừng. Hôm nay Ðức Chúa đã phân xử để ngài thoát khỏi tay tất cả những kẻ đứng lên chống lại ngài.&#8221; <sup>32</sup> Ðức vua hỏi người Cút: &#8220;Cậu Áp-sa-lôm có được bình an không?&#8221; Người Cút trả lời: &#8220;Ước chi các kẻ thù của đức vua là chúa thượng tôi và mọi kẻ đứng lên chống lại ngài để làm hại ngài, đều phải chung một số phận như cậu ấy! &#8220;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít khóc con</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít run rẩy, đi lên lầu trên cửa thành và khóc. Vua vừa đi vừa nói: &#8220;Áp-sa-lôm con ơi, con ơi, Áp-sa-lôm con ơi! Phải chi cha chết thay con! Áp-sa-lôm con ơi, con ơi!&#8221; <sup>2</sup> Người ta báo cho ông Giô-áp: &#8220;Kìa đức vua đang khóc, đang khóc thương Áp-sa-lôm!&#8221; <sup>3</sup> Hôm ấy, chiến thắng đã trở thành tang tóc cho toàn thể quân binh, vì hôm ấy, quân binh được nghe nói rằng: &#8220;Ðức vua buồn phiền vì mất con.&#8221; <sup>4</sup> Hôm ấy, quân binh lén lút vào thành như một đám quân binh lén lút về, xấu hổ vì đã trốn chạy trong khi giao chiến. <sup>5</sup> Còn vua thì che mặt và lớn tiếng kêu: &#8220;Áp-sa-lôm con ơi, Áp-sa-lôm con ơi, con ơi!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Giô-áp vào gặp vua trong nhà và nói: &#8220;Hôm nay ngài làm bẽ mặt tất cả bề tôi ngài, là những kẻ hôm nay đã cứu sống ngài, cứu sống các con trai con gái ngài, cứu sống các bà vợ và cứu sống các tỳ thiếp của ngài. <sup>7</sup> Ngài yêu những kẻ ghét ngài và ghét những kẻ yêu ngài. Vâng, hôm nay ngài đã cho thấy rằng tướng với binh chẳng là gì cả đối với ngài, vì hôm nay tôi biết, nếu Áp-sa-lôm còn sống và tất cả chúng tôi có chết hôm nay thì ngài cũng coi là đương nhiên. <sup>8</sup> Giờ đây, xin ngài đứng lên và ra uỷ lạo bề tôi ngài, vì tôi xin lấy Ðức Chúa mà thề: nếu ngài không ra, thì sẽ không còn ai ở lại với ngài đêm nay, và đối với ngài, đó sẽ là một tai hoạ lớn hơn mọi tai hoạ đã xảy đến cho ngài, từ lúc ngài còn trẻ cho đến bây giờ.&#8221; <sup>9</sup> Vua đứng lên và ra ngồi ở cửa thành. Người ta báo cho toàn thể quân binh rằng: &#8220;Kìa đức vua đang ngồi ở cửa thành&#8221;, và toàn thể quân binh đến trước mặt vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuẩn bị đưa vua Ða-vít trở về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en, toàn dân tranh luận với nhau, họ nói: &#8220;Ðức vua đã giải thoát chúng ta khỏi bàn tay kẻ thù, người đã cứu chúng ta khỏi bàn tay người Phi-li-tinh, và bây giờ người đã phải trốn khỏi xứ để thoát Áp-sa-lôm. <sup>11</sup> Còn Áp-sa-lôm, người mà chúng ta đã xức dầu tôn lên làm vua chúng ta, thì đã tử trận. Bây giờ, sao anh em còn ngồi yên đó mà không đưa đức vua về?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Vua Ða-vít sai người đi nói với các tư tế Xa-đốc và Ép-gia-tha rằng: &#8220;Các ngươi hãy nói với các kỳ mục Giu-đa rằng: &#8220;Tại sao anh em lại là những người cuối cùng để đưa đức vua về nhà người, trong khi điều mà toàn thể Ít-ra-en nói đã đến tai đức vua tại nhà người? <sup>13</sup> Anh em là những anh em của tôi, anh em là cốt nhục của tôi. Vậy tại sao anh em lại là những người cuối cùng để đưa đức vua về? <sup>14</sup> Các ngươi hãy nói với A-ma-xa: &#8220;Ngươi chẳng phải là cốt nhục của ta sao? Xin Thiên Chúa phạt ta thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu ngươi không mãi mãi là tướng quân chỉ huy quân đội ta, thay cho Giô-áp!&#8221; <sup>15</sup> Vua làm cho mọi người Giu-đa, muôn người như một, phải xiêu lòng, và họ sai người đến nói với vua: &#8220;Xin ngài và toàn thể bề tôi trở về!&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trên đường về. Sim-y đón vua Ða-vít.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Vậy vua trở về và tới sông Gio-đan. Người Giu-đa tới Ghin-gan để đón vua và đưa vua qua sông Gio-đan. <sup>17</sup> Sim-y, con ông Ghê-ra, người Ben-gia-min ở Ba-khu-rim, vội vàng xuống với người Giu-đa để đón vua Ða-vít. <sup>18</sup> Cùng với y có một ngàn người Ben-gia-min. Ông Xi-va, đầy tớ nhà Sa-un, và cùng với ông, mười lăm con trai và hai mươi đầy tớ, ào tới sông Gio-đan trước vua. <sup>19</sup> Họ đưa bè sang để đón hoàng gia qua và làm điều vua coi là tốt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Y thưa với vua: &#8220;Xin chúa thượng đừng hạch tội tôi. Xin đừng nhớ đến tội tôi tớ ngài đã phạm ngày đức vua là chúa thượng tôi ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Xin đức vua đừng để tâm đến. <sup>21</sup> Quả thật, tôi tớ ngài biết rằng mình đã phạm tội. Nhưng này, hôm nay tôi là người đầu tiên trong toàn thể nhà Giu-se đã tới đón đức vua là chúa thượng tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông A-vi-sai, con bà Xơ-ru-gia, lên tiếng nói: &#8220;Có phải vì thế mà Sim-y, kẻ đã nguyền rủa đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong, không bị xử tử sao?&#8221; <sup>23</sup> Vua Ða-vít nói: &#8220;Chuyện của ta can gì đến các ngươi, hỡi các con bà Xơ-ru-gia, khiến hôm nay các ngươi trở nên người chống đối ta? Hôm nay mà lại có người trong Ít-ra-en bị xử tử sao? Ta chẳng biết rằng hôm nay ta là vua Ít-ra-en sao?&#8221; <sup>24</sup> Vua nói với Sim-y: &#8220;Ngươi sẽ không phải chết.&#8221; Và vua đã thề với y.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Mơ-phi-bô-sét</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ông Mơ-phi-bô-sét, con cháu vua Sa-un, xuống đón vua. Ông đã không cắt móng chân, không xén râu ria, không giặt áo, từ ngày vua đi cho đến ngày vua về bình an. <sup>26</sup> Vậy khi ông tới Giê-ru-sa-lem để đón vua, thì vua hỏi ông: &#8220;Tại sao ngươi đã không đi với ta, Mơ-phi-bô-sét?&#8221; <sup>27</sup> Ông trả lời: &#8220;Thưa đức vua là chúa thượng tôi, người đầy tớ của tôi đã đánh lừa tôi. Thật vậy, tôi tớ ngài đã tự bảo: &#8220;Ta sẽ thắng cho mình con lừa cái, ta sẽ cưỡi lừa và đi với đức vua&#8221;, vì tôi tớ ngài bị què. <sup>28</sup> Nó đã vu khống tôi tớ ngài trước mặt đức vua là chúa thượng tôi. Nhưng đức vua là chúa thượng tôi khác nào sứ giả Thiên Chúa, xin ngài cứ làm điều ngài coi là tốt. <sup>29</sup> Thật vậy, đối với đức vua là chúa thượng tôi, tất cả nhà cha tôi chỉ toàn những người đáng chết; thế mà đức vua lại đặt tôi tớ ngài vào số những kẻ ăn tại bàn của ngài. Tôi còn quyền gì nữa? Tôi còn có thể kêu xin đức vua gì nữa?&#8221; <sup>30</sup> Vua bảo ông: &#8220;Ngươi còn nói những chuyện ấy làm gì nữa? Ta bảo: ngươi và Xi-va, các ngươi hãy chia đất với nhau.&#8221; <sup>31</sup> Ông Mơ-phi-bô-sét nói với vua: &#8220;Nó cứ lấy cả đi, vì nay đức vua là chúa thượng tôi đã trở về nhà bình an.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Bác-di-lai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Bác-di-lai, người Ga-la-át, đã từ Rốc-lim xuống. Ông đã qua sông Gio-đan với vua, để tiễn vua gần sông Gio-đan. <sup>33</sup> Ông Bác-di-lai bấy giờ đã già lắm, ông được tám mươi tuổi. Chính ông đã cấp dưỡng cho vua, khi vua ở Ma-kha-na-gim, vì ông là người rất giàu. <sup>34</sup> Vua nói với ông Bác-di-lai: &#8220;Ông hãy đi tiếp với ta, ta sẽ đưa ông về ở với ta tại Giê-ru-sa-lem và sẽ cấp dưỡng cho ông.&#8221; <sup>35</sup> Ông Bác-di-lai trả lời vua: &#8220;Tôi còn sống được bao nhiêu năm nữa, để lên Giê-ru-sa-lem cùng với đức vua? <sup>36</sup> Hôm nay, tôi đã tám mươi tuổi rồi. Tôi còn phân biệt được tốt xấu nữa không? Tôi tớ ngài còn thưởng thức được của ăn thức uống nữa không? Tôi còn nghe được giọng hát của các nam ca sĩ với nữ ca sĩ nữa không? Tôi tớ ngài còn trở nên gánh nặng cho đức vua là chúa thượng tôi làm gì nữa? <sup>37</sup> Tôi tớ ngài sẽ chỉ đi với đức vua mấy bước qua sông Gio-đan. Ðức vua ban cho tôi phần thưởng đó làm gì? <sup>38</sup> Xin cho phép tôi tớ ngài trở về, để được chết trong thành của tôi bên phần mộ cha mẹ tôi. Ðây có tôi tớ ngài là Kim-ham. Xin cho nó đi tiếp với đức vua là chúa thượng tôi, ngài cứ làm cho nó điều ngài coi là tốt.&#8221; <sup>39</sup> Vua nói: &#8220;Kim-ham sẽ đi tiếp với ta. Ta sẽ làm cho nó điều ông coi là tốt, và tất cả những gì ông muốn xin ta, ta sẽ làm cho ông.&#8221; <sup>40</sup> Toàn dân qua sông Gio-đan, và vua cũng qua. Vua hôn ông Bác-di-lai và chúc phúc cho ông, rồi ông trở về nhà.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giu-đa và Ít-ra-en tranh nhau đón vua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Vua đi tiếp tới Ghin-gan và Kim-ham đi tiếp với vua. Toàn dân Giu-đa cũng như một nửa dân Ít-ra-en đã đưa vua đi qua. <sup>42</sup> Mọi người Ít-ra-en đến gặp vua và nói với vua: &#8220;Tại sao anh em chúng tôi, những người Giu-đa, đã bắt cóc và đưa đức vua cùng với hoàng gia và mọi người phò Ða-vít qua sông Gio-đan?&#8221; <sup>43</sup> Mọi người Giu-đa trả lời người Ít-ra-en: &#8220;Vì đức vua là bà con gần với tôi. Sao anh lại tức giận vì điều ấy? Chúng tôi đâu có ăn bám đức vua, hoặc được người mang đến cho cái gì?&#8221; <sup>44</sup> Người Ít-ra-en trả lời người Giu-đa rằng: &#8220;Tôi có quyền trên đức vua gấp mười lần, ngay cả trên vua Ða-vít, tôi cũng có quyền hơn anh. Sao anh lại khinh tôi? Tôi chẳng phải là người đầu tiên nói đến chuyện đưa đức vua của tôi về sao?&#8221; Nhưng lời lẽ của người Giu-đa thì cứng cỏi hơn lời lẽ của người Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Se-va làm loạn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Tình cờ ở đó có một đứa vô lại tên là Se-va, con của Bích-ri, người Ben-gia-min. Y thổi tù và và nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Chúng ta không chung phần với Ða-vít, chúng ta chẳng chung gia tài với con của Gie-sê. Hỡi Ít-ra-en, ai nấy về lều mình!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Mọi người Ít-ra-en bỏ vua Ða-vít mà lên theo Se-va, con của Bích-ri. Nhưng người Giu-đa thì theo sát vua của họ, từ sông Gio-đan tới Giê-ru-sa-lem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Vua Ða-vít về nhà tại Giê-ru-sa-lem. Vua bắt mười người tỳ thiếp mà vua đã để lại giữ nhà, và cho họ vào một nhà có người canh giữ. Vua cấp dưỡng cho họ nhưng không đi lại với họ. Họ bị giam cho tới ngày chết, goá bụa khi chồng vẫn sống.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông A-ma-xa bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua bảo ông A-ma-xa: &#8220;Trong vòng ba ngày, ngươi hãy triệu tập các người Giu-đa lại cho ta, rồi ngươi hãy có mặt ở đây.&#8221; <sup>5</sup> Ông A-ma-xa đi triệu tập Giu-đa, nhưng ông đã chậm trễ quá hạn vua ấn định. <sup>6</sup> Vua Ða-vít nói với ông A-vi-sai: &#8220;Bây giờ, Se-va, con của Bích-ri, sẽ làm hại chúng ta hơn Áp-sa-lôm. Phần ngươi, hãy đem các bề tôi của chúa thượng ngươi mà đuổi theo nó, kẻo nó tìm được những thành kiên cố và thoát khỏi tầm mắt chúng ta.&#8221; <sup>7</sup> Theo ông ra trận, có người của ông Giô-áp, quân Cơ-rê-thi, quân Pơ-lê-thi và toàn thể các dũng sĩ. Họ từ Giê-ru-sa-lem đi ra để đuổi theo Se-va, con của Bích-ri. <sup>8</sup> Khi họ ở gần tảng đá lớn tại Ghíp-ôn, thì ông A-ma-xa đến trước mặt họ. Ông Giô-áp mặc quân phục, trên có một thắt lưng với một thanh gươm để trong bao đeo ngang lưng. Khi ông bước ra thì gươm rơi xuống. <sup>9</sup> Ông Giô-áp nói với ông A-ma-xa: &#8220;Thưa anh, anh có được bình an không?&#8221; Rồi ông Giô-áp đưa tay phải cầm lấy râu ông A-ma-xa mà hôn. <sup>10</sup> Ông A-ma-xa không để ý đến thanh gươm ở trong tay ông Giô-áp. Ông này dùng gươm đâm vào bụng ông A-ma-xa, khiến ruột gan lòi ra rơi xuống đất. Ông không cần đâm nhát thứ hai mà ông A-ma-xa cũng chết. Rồi ông Giô-áp và anh ông là A-vi-sai đuổi theo Se-va, con của Bích-ri.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Một người trong các đầy tớ ông Giô-áp đứng bên ông A-ma-xa và nói: &#8220;Ai thích ông Giô-áp, ai phò vua Ða-vít, hãy theo ông Giô-áp!&#8221; <sup>12</sup> Ông A-ma-xa nằm giữa đường cái, mình bê bết máu, và người kia thấy dân ai cũng đứng lại. Anh lôi ông A-ma-xa từ đường cái xuống cánh đồng và phủ một cái áo lên trên, vì anh thấy ai đến bên ông cũng đứng lại. <sup>13</sup> Khi anh đã đem ông ra khỏi đường cái, thì ai nấy đều đi qua luôn theo ông Giô-áp, để đuổi bắt Se-va, con của Bích-ri.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc nổi loạn chấm dứt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Y đi qua tất cả các chi tộc Ít-ra-en cho đến A-vên Bết Ma-a-kha. Mọi người Bê-rim tụ tập lại và cũng theo y vào thành. <sup>15</sup> Người ta đến vây hãm y trong thành A-vên Bết Ma-a-kha. Họ đắp luỹ đánh thành, luỹ đó dựa vào tường ngoài. Tất cả quân binh theo ông Giô-áp đang tìm cách phá sập tường thành, <sup>16</sup> thì một người đàn bà khôn lanh từ trong thành gọi ra: &#8220;Nghe đây, nghe đây! Xin nói với ông Giô-áp: Mời ông đến gần đây. Tôi muốn nói với ông.&#8221; <sup>17</sup> Ông Giô-áp đến gần chỗ bà. Người đàn bà hỏi: &#8220;Có phải ông là ông Giô-áp không?&#8221; Ông đáp: &#8220;Tôi đây.&#8221; Bà nói với ông: &#8220;Xin nghe những lời của nữ tỳ ông.&#8221; Ông nói: &#8220;Tôi nghe đây.&#8221; <sup>18</sup> Bà nói rằng: &#8220;Người xưa quen nói: &#8220;Cứ đến A-vên mà thỉnh ý, và như vậy là xong việc. <sup>19</sup> Chúng tôi thuộc số những người hiền hoà và trung tín nhất tại Ít-ra-en. Còn ông, ông lại tìm cách giết hại một thành, một thành mẹ tại Ít-ra-en. Sao ông muốn tiêu diệt cơ nghiệp của Ðức Chúa?&#8221; <sup>20</sup> Ông Giô-áp trả lời rằng: &#8220;Không đời nào! Không đời nào tôi muốn tiêu diệt hay phá huỷ! <sup>21</sup> Không phải vậy đâu! Nhưng một người từ miền núi Ép-ra-im, tên là Se-va, con của Bích-ri, đã giơ tay chống lại vua Ða-vít. Các người hãy nộp nó, một mình nó thôi, thì tôi sẽ rút đi không vây thành nữa.&#8221; Người đàn bà nói với ông Giô-áp: &#8220;Ðây, đầu nó sẽ được ném qua tường thành xuống cho ông.&#8221; <sup>22</sup> Với sự khôn ngoan của mình, người đàn bà đến gặp toàn dân. Người ta chặt đầu Se-va, con của Bích-ri, và ném xuống cho ông Giô-áp. Ông cho thổi tù và, rồi họ bỏ thành mà phân tán đi, ai nấy về lều mình, còn ông Giô-áp thì về Giê-ru-sa-lem với vua.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các quan trong triều vua Ða-vít</strong> (2 Sm 8:16 -18)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ông Giô-áp chỉ huy toàn thể quân đội Ít-ra-en. Ông Bơ-na-gia, con ông Giơ-hô-gia-đa, chỉ huy quân Cơ-rê-thi và quân Pơ-lê-thi. <sup>24</sup> Ông A-đô-ram phụ trách việc lao dịch. Ông Giơ-hô-sa-phát, con ông A-khi-lút, làm quốc vụ khanh. <sup>25</sup> Ông Sơ-va làm ký lục. Ông Xa-đốc và ông Ép-gia-tha làm tư tế. <sup>26</sup> Cả ông I-ra, người Gia-ia, cũng là tư tế của vua Ða-vít.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">V. Phụ Lục</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nạn đói. Dòng dõi vua Sa-un bị xử tử.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vào thời vua Ða-vít, xảy ra một nạn đói kéo dài ba năm. Vua tìm kiếm thánh nhan Ðức Chúa và Ðức Chúa phán: &#8220;Tại Sa-un và nhà của nó có nợ máu, vì nó đã xử tử người thành Ghíp-ôn.&#8221; <sup>2</sup> Vua triệu tập người Ghíp-ôn đến và nói với họ. &#8211; Người Ghíp-ôn không phải là con cái Ít-ra-en, nhưng thuộc số người E-mô-ri còn sót lại. Con cái Ít-ra-en đã có lời thề với họ, nhưng vua Sa-un, vì lòng nhiệt thành với con cái Ít-ra-en và Giu-đa, đã tìm cách đánh giết họ. &#8211; <sup>3</sup> Vua Ða-vít nói với người Ghíp-ôn: &#8220;Ta phải làm gì cho các ngươi, và phải lấy gì làm lễ xá tội, để các ngươi chúc phúc cho cơ nghiệp của Ðức Chúa?&#8221; <sup>4</sup> Người Ghíp-ôn nói với vua Ða-vít: &#8220;Giữa chúng tôi với vua Sa-un và nhà của vua ấy, không có chuyện bạc vàng. Cũng chẳng có chuyện chúng tôi muốn giết chết ai trong Ít-ra-en.&#8221; Vua nói: &#8220;Các ngươi nói gì, ta sẽ làm như vậy cho các ngươi.&#8221; <sup>5</sup> Họ thưa với vua: &#8220;Con người đã tận diệt chúng tôi và định huỷ diệt chúng tôi, để chúng tôi không còn tồn tại trên lãnh thổ Ít-ra-en, <sup>6</sup> thì xin người ta nộp cho chúng tôi bảy người trong số con cháu của người ấy, và chúng tôi sẽ treo chúng trước mặt Ðức Chúa tại Ghíp-a thành của vua Sa-un, là người Ðức Chúa tuyển chọn.&#8221; Vua nói: &#8220;Ta sẽ nộp.&#8221; <sup>7</sup> Vua tha chết cho ông Mơ-phi-bô-sét, con ông Giô-na-than là con vua Sa-un, vì giữa hai người, nghĩa là giữa vua Ða-vít và ông Giô-na-than, con vua Sa-un, có lời thề trước mặt Ðức Chúa. <sup>8</sup> Vua bắt Ác-mô-ni và Mơ-phi-bô-sét là hai người con trai mà bà Rít-pa, con gái ông Ai-gia, đã sinh cho vua Sa-un, và bắt năm người con trai của bà Mi-khan, con gái vua Sa-un, đã sinh cho ông Át-ri-ên, con ông Bác-di-lai người Mơ-khô-la. <sup>9</sup> Vua nộp chúng vào tay người Ghíp-ôn, và họ treo chúng trên núi, trước nhan Ðức Chúa. Chúng đã mất mạng, cả bảy người một trật. Chúng đã bị xử tử vào những ngày đầu mùa gặt, khi người ta khởi sự gặt lúa mạch.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Bà Rít-pa, con gái ông Ai-gia, lấy tấm vải thô và trải ra trên tảng đá, từ đầu mùa gặt cho đến khi mưa từ trời trút xuống trên chúng. Bà không để cho chim trời đậu xuống trên chúng ban ngày hay dã thú đụng tới chúng ban đêm. <sup>11</sup> Người ta báo cho vua Ða-vít biết hành động của bà Rít-pa, con gái ông Ai-gia, tỳ thiếp của vua Sa-un. <sup>12</sup> Vua Ða-vít đến lấy hài cốt vua Sa-un và hài cốt ông Giô-na-than, con vua ấy, từ tay các thân hào thành Gia-vết miền Ga-la-át. Các người này đã lấy trộm xác hai cha con vua, từ quảng trường Bết San, nơi người Phi-li-tinh đã treo hai cha con, vào ngày người Phi-li-tinh hạ vua Sa-un ở Ghin-bô-a. <sup>13</sup> Vua đưa hài cốt vua Sa-un và hài cốt ông Giô-na-than, con vua ấy, từ đó lên. Người ta cũng thu hài cốt của những người đã bị treo <sup>14</sup> và mai táng cùng với hài cốt của vua Sa-un và của ông Giô-na-than, con vua ấy, ở đất Ben-gia-min, tại Xê-la, trong phần mộ ông Kít, cha của vua ấy. Người ta đã làm mọi điều vua truyền. Sau đó, Thiên Chúa đã thương đến xứ sở.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các anh hùng trong cuộc chiến chống người Phi-li-tinh</strong> (1 Sb 20: 4-8)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Lại có giao tranh giữa người Phi-li-tinh và Ít-ra-en. Vua Ða-vít cùng với bề tôi xuống chiến đấu với người Phi-li-tinh. Vua Ða-vít đã mệt mỏi. <sup>16</sup> Có tên Gít-bi Bơ-nốp, một người con cháu Ra-pha; cây giáo đồng của nó cân nặng ba ký, nó trang bị toàn đồ mới và nói tới chuyện hạ vua Ða-vít. <sup>17</sup> Nhưng ông A-vi-sai, con bà Xơ-ru-gia, đã đến giúp vua. Ông đâm tên Phi-li-tinh và giết nó. Bấy giờ người của vua Ða-vít thề mà nói với vua: &#8220;Ngài sẽ không ra trận với chúng tôi nữa, kẻo ngài dập tắt ngọn đèn của Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Sau đó lại có giao tranh ở Gốp với người Phi-li-tinh. Bấy giờ ông Xíp-bơ-khai, người Khu-sa, hạ tên Xáp, con cháu Ra-pha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Lại có giao tranh ở Gốp với người Phi-li-tinh. Ông En-kha-nan, con ông Gia-rê O-ghim, người Bê-lem, hạ tên Go-li-át, người Gát; cán giáo của nó như trục khung cửi thợ dệt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Lại có giao tranh ở Gát. Có một người cao lớn, tay chân đều có sáu ngón, vị chi hai mươi bốn ngón; nó cũng là con cháu Ra-pha. <sup>21</sup> Nó thách Ít-ra-en, và ông Giơ-hô-na-than, con ông Sim-a là anh vua Ða-vít, đã hạ nó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Bốn tên ấy là con cháu Ra-pha, ở Gát, và chúng đã ngã gục do tay vua Ða-vít và do tay bề tôi của vua.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thánh vịnh của vua Ða-vít</strong> (Thi 18: 1-50)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Ða-vít dâng lên Ðức Chúa những lời của bài ca này, vào ngày Ðức Chúa đã giải thoát vua khỏi bàn tay mọi kẻ thù của vua và khỏi bàn tay vua Sa-un. <sup>2</sup> Vua nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Lạy Ðức Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Ðấng giải thoát con;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là khiên mộc, là Ðấng cứu độ quyền năng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là thành trì bảo vệ, là chốn con nương mình,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là Ðấng cứu độ con, Ngài cứu con khỏi quân tàn bạo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Tôi kêu cầu Ðức Chúa, là Ðấng xứng muôn lời ngợi khen,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và tôi được cứu thoát khỏi quân thù.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Sóng tử thần dồn dập chung quanh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thác diệt vong làm tôi kinh hãi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> màng lưới âm ty bủa vây tứ phía,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bẫy tử thần ập xuống trên tôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Lúc ngặt nghèo tôi kêu cầu Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kêu cầu Người là Thiên Chúa của tôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Từ thánh điện, Người nghe tiếng tôi cầu cứu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lời tôi khẩn nguyện vọng đến tai Người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Trái đất bỗng ầm ầm rung chuyển,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nền móng các tầng trời chấn động lung lay, vì Chúa nổi lôi đình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Từ thánh nhan Người, khói bốc lửa thiêu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và than hồng tung toé.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Chúa nghiêng trời ngự xuống, chân đạp lớp mây mù,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> ngự trên thần hộ giá, Người bay</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và xuất hiện trên cánh gió.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Chúa dùng bóng tối chung quanh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dùng khối nước tụ và mây đen nghịt, để làm trướng che Người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Từ chớp loé đi trước mặt Chúa, than hồng cháy bừng lên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa nổi sấm từ trời, Ðấng Tối Cao lớn tiếng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Người bắn tên, khiến địch thù tán loạn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">phóng chớp ra làm chúng phải tan tành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Lòng đại dương xuất hiện, thềm lục địa phơi trần,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khi thấy Ðức Chúa doạ nạt ngăm đe và bừng bừng nổi giận.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Từ chốn cao vời, Chúa đưa tay nắm lấy,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vớt tôi lên khỏi nước lũ mênh mông,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> cứu tôi thoát đối phương tàn bạo, và kẻ thù mạnh thế hơn tôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Chúng tấn công tôi ngày tôi lâm nạn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhưng Ðức Chúa thương bênh đỡ phù trì,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Người kéo tôi ra chỗ thảnh thơi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì yêu thương tôi nên Người giải thoát.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðức Chúa xử tốt với tôi bởi tôi sống ngay lành,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người ban thưởng cho tôi vì tay tôi trong sạch.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Chính bởi tôi đã theo đường lối Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">không lỗi đạo cùng Thiên Chúa tôi thờ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Mọi quyết định của Người luôn ở trước mặt tôi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thánh chỉ Người truyền, tôi không lìa bỏ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Trước mặt Chúa, tôi là kẻ thập toàn, và tránh xa tội lỗi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðức Chúa thưởng cho tôi bởi tôi sống ngay lành,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và vì tôi trong sạch như mắt người đã thấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Lạy Chúa, Ngài tín trung với kẻ tín trung,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xử tuyệt hảo với người tuyệt hảo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ngài ở liêm khiết cùng người liêm khiết,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhưng dùng mưu mẹo với kẻ gian ngoan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Vì Chúa cứu độ dân nghèo hèn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">quắc mắt nhìn xuống kẻ tự cao.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Vâng, Ngài là ngọn đèn của con, lạy Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðức Chúa soi chiếu vào đời con tăm tối mịt mù.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Cậy sức Ngài, con tấn công bọn giặc,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhờ ơn Ngài là Thiên Chúa của con,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">con vượt thành vượt luỹ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ðường lối Thiên Chúa quả là toàn thiện,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lời Ðức Chúa hứa được chứng nghiệm tỏ tường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chính Người là khiên che thuẫn đỡ</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho những ai ẩn náu bên Người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ngoài Ðức Chúa, hỏi ai là Thiên Chúa?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai là núi đá độ trì, ngoài Thiên Chúa của ta?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Chính Thiên Chúa là nơi trú ẩn vững chắc của tôi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mở ra cho tôi đường lối thiện toàn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Chúa cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người đặt tôi đứng vững trên đỉnh núi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> tập cho tôi thạo phép binh đao,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">luyện đôi tay rành nghề cung nỏ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Lạy Chúa, Ngài ban ơn cứu độ làm khiên mộc chở che con,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">săn sóc ân cần giúp con lớn mạnh.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Ðường con đi, Chúa mở rộng thênh thang,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chân con bước không bao giờ lảo đảo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Con đuổi theo, huỷ diệt quân thù,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chỉ trở về khi chúng bị dẹp tan;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> con dẹp tan chúng, đánh cho quỵ, không sao dậy nữa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chúng ngã gục, nằm dưới chân con.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Chúa làm cho con nên hùng dũng để xông ra chiến trường,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ngài cho con đè bẹp đối phương.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Ngài bắt cừu địch con quay lưng chạy trốn;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">con tiêu diệt những kẻ oán thù con.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Chúng kêu cứu mà không ai cứu chữa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kêu lên Ðức Chúa, nhưng Chúa chẳng đáp lời.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Con nghiền tan chúng như bụi đất,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">giẫm nát, chà đạp chúng như bùn ở ngoài đường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Dân của con phản loạn, Ngài cứu con thoát khỏi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vẫn giữ con làm đầu các nước;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dân xa lạ phải thần phục con,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> người nước ngoài cầu thân nịnh bợ,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vừa nghe con ra lệnh, chúng đã tuân hành;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> người nước ngoài tiêu tan nhuệ khí,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ trong đồn luỹ, run rẩy kéo nhau ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Ðức Chúa vạn vạn tuế!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Tôn vinh Thiên Chúa là núi đá độ trì tôi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> là Thượng đế giúp tôi rửa sạch hận thù,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đặt chư dân ở dưới quyền tôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Lạy Chúa, Ngài gỡ con ra khỏi tay thù địch,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho thắng cả đối phương, cứu khỏi người tàn bạo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>50</sup> Vì thế giữa muôn dân, con cảm tạ Ngài, lạy Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>51</sup> Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho Ðức Vua chính Người đã lập.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúa hằng ưu ái Ðấng Người đã xức dầu tấn phong,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là Ða-vít cùng dòng dõi đến muôn đời.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những lời cuối cùng của vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là những lời cuối cùng của vua Ða-vít:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Sấm ngôn của vua Ða-vít, con ông Gie-sê,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sấm ngôn của người được đặt lên cao,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">của người được Thiên Chúa nhà Gia-cóp xức dầu tấn phong,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">của người ca sĩ được Ít-ra-en ái mộ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Thần khí Ðức Chúa dùng tôi mà phán,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lời Người ở trên lưỡi tôi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Thiên Chúa của Ít-ra-en đã nói,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Núi Ðá của Ít-ra-en đã phán cùng tôi:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai cai trị con người với đức công minh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ai cai trị với lòng kính sợ Thiên Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> thì khác nào ánh ban mai lúc mặt trời mọc,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một buổi sáng không mây,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ánh sáng chói loà sau cơn mưa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">làm cỏ xanh mọc lên từ lòng đất.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nhà Ða-vít bên Thiên Chúa chẳng như thế sao,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì Người đã lập với tôi một giao ước vĩnh cửu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">được sắp đặt chi li và được duy trì?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Mọi chiến thắng của tôi và mọi ước vọng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người chẳng làm cho nẩy mầm đó sao?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Nhưng phường vô lại đều như gai bị vứt bỏ:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">người ta chẳng bắt chúng bằng tay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Người nào đụng đến chúng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">phải mang sắt và cán giáo nơi mình,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chúng sẽ bị quăng vào lửa mà thiêu rụi tại chỗ.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các dũng sĩ của vua Ða-vít</strong> (1 Sb 11: 10-41)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ðây là tên các dũng sĩ của vua Ða-vít: ông Ít-bô-sét, một người Tác-cơ-môn, đứng đầu Bộ Ba; chính ông đã vung giáo đâm chết tám trăm người cùng một lúc. <sup>9</sup> Kế đến là ông E-la-da, con ông Ðô-đô, con một người A-khô-ác. Ông ở trong số ba dũng sĩ đi theo vua Ða-vít khi họ thách người Phi-li-tinh, lúc chúng tập trung tại đó để giao chiến. Người Ít-ra-en đã rút đi, <sup>10</sup> nhưng ông đứng vững và chém giết người Phi-li-tinh, cho đến khi bàn tay ông mệt mỏi dính chặt vào gươm. Và ngày đó Ðức Chúa đã thắng lớn. Quân binh trở lại phía sau ông, nhưng chỉ là để lột các xác chết. <sup>11</sup> Sau ông là ông Sam-ma, con ông A-ghê, người Ha-ra. Người Phi-li-tinh đã tập trung thành một đạo quân. Ở đó có một thửa đất trồng toàn đậu nâu. Quân binh đã chạy trốn người Phi-li-tinh, <sup>12</sup> nhưng ông đứng giữa thửa đất, đuổi người Phi-li-tinh ra khỏi đó, và đánh bại chúng. Ðức Chúa đã thắng lớn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ba người trong Nhóm Ba Mươi làm thành một tốp đi xuống và đến gặp vua Ða-vít ở hang A-đu-lam, vào mùa gặt. Một đạo quân Phi-li-tinh đóng trại ở thung lũng người Ra-pha. <sup>14</sup> Vua Ða-vít bấy giờ đang ở nơi ẩn náu, còn người Phi-li-tinh bấy giờ đóng đồn ở Bê-lem. <sup>15</sup> Vua Ða-vít ước ao và nói: &#8220;Phải chi có ai cho ta uống nước lấy ở giếng tại cổng thành Bê-lem!&#8221; <sup>16</sup> Ba dũng sĩ đã đột nhập trại Phi-li-tinh, lấy nước ở giếng tại cổng thành Bê-lem, đưa về cho vua Ða-vít. Nhưng vua không muốn uống mà đổ nước ấy làm lễ rưới dâng Ðức Chúa. <sup>17</sup> Vua nói: &#8220;Xin Ðức Chúa đừng để ta làm điều ấy! Ðó là máu của những người đã liều mạng đi lấy!&#8221; Vậy vua không muốn uống nước. Ðó là việc ba dũng sĩ đã làm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông A-vi-sai, em ông Giô-áp, con bà Xơ-ru-gia, là người chỉ huy Nhóm Ba Mươi. Chính ông đã vung giáo đâm chết ba trăm người, và được nổi danh trong Nhóm Ba Mươi. <sup>19</sup> Ông được vinh dự nhất trong Nhóm Ba Mươi, nên ông được đứng đầu, nhưng không được vào Bộ Ba.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa, con một người dũng cảm, nhiều thành tích, xuất thân từ Cáp-xơ-ên. Chính ông đã hạ sát hai anh hùng Mô-áp. Chính ông đã xuống đập chết con sư tử ở trong giếng vào một ngày có tuyết. <sup>21</sup> Chính ông đã hạ một tên Ai-cập tướng mạo khác thường. Tên Ai-cập cầm giáo trong tay. Ông xuống đánh nó với một cây gậy, cướp giáo khỏi tay tên Ai-cập và lấy giáo của nó mà giết nó. <sup>22</sup> Ðó là những việc ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa đã làm, và ông được nổi danh trong Nhóm Ba Mươi dũng sĩ. <sup>23</sup> Ông được vinh dự nhất trong Nhóm Ba Mươi, nhưng không được vào Bộ Ba. Vua Ða-vít đặt ông vào số cận vệ của vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> A-xa-hên, em của Giô-áp, ở trong Nhóm Ba Mươi, En-kha-nan, con của Ðô-đô, người Bê-lem, <sup>25</sup> Sam-ma, người Kha-rốt, Ê-li-ca, người Kha-rốt, <sup>26</sup> Khe-lét, người Pan-ti, I-ra, con của Ích-kết, người Tơ-cô-a, <sup>27</sup> A-vi-e-de, người A-na-thốt, Mơ-vun-nai, người Khu-sa, <sup>28</sup> Xan-môn, người A-khô-khi, Ma-rai, người Nơ-tô-pha, <sup>29</sup> Khê-lép, con của Ba-a-na, người Nơ-tô-pha, Ít-tai, con của Ri-vai, quê ở Ghíp-a thuộc con cái Ben-gia-min, <sup>30</sup> Bơ-na-gia-hu, người Pia-a-thôn, Hít-đai, quê ở khe núi Ga-át, <sup>31</sup> A-vi An-vôn, người A-ra-va, Át-ma-vét, người Bác-khum, <sup>32</sup> En-giác-ba, người Sa-an-vôn, các con của Gia-sên: Giơ-hô-na-than, <sup>33</sup> Sam-ma, người Ha-ra, A-khi-am, con của Sa-ra, người A-ra-ri, <sup>34</sup> Ê-li-phe-lét, con của A-khát-bai, người Ma-a-kha, Ê-li-am, con của A-khi-thô-phen, người Ghi-lô, <sup>35</sup> Khét-rai, người Các-men, Pa-a-rai, người A-ráp, <sup>36</sup> Gích-an, con của Na-than, quê Xô-va, Ba-ni, người Gát, <sup>37</sup> Xe-léc, người Am-mon, Nác-rai, người Bơ-ê-rốt, người hầu cận của Giô-áp là con bà Xơ-ru-gia, <sup>38</sup> I-ra, người Gít-ri, Ga-rếp, người Gít-ri, <sup>39</sup> U-ri-gia, người Khết. Tất cả là ba mươi bảy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc điều tra dân số </strong> (1 Sb 21: 1-6)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa lại nổi giận với Ít-ra-en, và Người xúi giục vua Ða-vít gây hoạ cho họ. Người phán: &#8220;Hãy đi đếm dân Ít-ra-en và người Giu-đa.&#8221; <sup>2</sup> Vua bảo ông Giô-áp, tướng chỉ huy quân lực, đang ở với vua: &#8220;Hãy rảo khắp các chi tộc Ít-ra-en, từ Ðan tới Bơ-e Se-va, và điều tra nhân khẩu để ta biết dân số.&#8221; <sup>3</sup> Ông Giô-áp thưa với vua: &#8220;Ước chi Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, làm cho dân tăng lên gấp trăm lần con số hiện nay, và ước chi chính mắt của đức vua là chúa thượng tôi được thấy! Nhưng tại sao đức vua là chúa thượng tôi lại muốn điều ấy?&#8221; <sup>4</sup> Tuy nhiên, lời vua buộc ông Giô-áp và các tướng chỉ huy quân lực; ông Giô-áp và các tướng chỉ huy quân lực đang ở trước mặt vua đã ra đi điều tra dân số Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Họ đi qua sông Gio-đan và đóng trại ở A-rô-e, ở phía nam của thành nằm giữa thung lũng Gát, rồi đi về phía Gia-de. <sup>6</sup> Họ đến miền Ga-la-át và Vùng đất thấp ở Khót-si, rồi đến Ðan Gia-an và vòng về Xi-đôn. <sup>7</sup> Họ đến Tia, một thành luỹ kiên cố, và mọi thành của người Khi-vi và của người Ca-na-an, rồi họ ra vùng Ne-ghép của Giu-đa, tại Bơ-e Se-va. <sup>8</sup> Họ đã rảo qua khắp xứ, và sau chín tháng hai mươi ngày, họ về Giê-ru-sa-lem. <sup>9</sup> Ông Giô-áp nộp cho vua con số của cuộc điều tra dân số: Ít-ra-en có tám trăm ngàn chiến binh biết tuốt gươm, và Giu-đa có năm trăm ngàn.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bệnh dịch. Thiên Chúa tha thứ.</strong> (1 Sb 21: 7-17)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Vua Ða-vít áy náy trong lòng sau khi đã kiểm tra dân số như vậy. Vua Ða-vít thưa cùng Ðức Chúa: &#8220;Con đã phạm tội nặng khi làm như thế. Giờ đây, lạy Ðức Chúa, xin bỏ qua lỗi lầm của tôi tớ Ngài, vì con đã hành động rất ngu xuẩn.&#8221; <sup>11</sup> Sáng hôm sau, khi vua Ða-vít dậy, đã có lời Ðức Chúa phán với ngôn sứ Gát, thầy chiêm của vua Ða-vít, rằng: <sup>12</sup> &#8220;Hãy đi nói với Ða-vít: Ðức Chúa phán thế này: &#8220;Ta đưa ra cho ngươi ba điều. Ngươi hãy chọn lấy một trong ba, và Ta sẽ thực hiện cho ngươi.&#8221; <sup>13</sup> Vậy ông Gát đến gặp vua Ða-vít, báo cho vua và nói: &#8220;Ngài muốn điều gì xảy ra: hoặc bảy năm đói trong toàn nước ngài, hoặc ba tháng chạy trốn trước mặt kẻ thù đuổi theo ngài, hoặc ba ngày ôn dịch? Bây giờ xin ngài suy nghĩ xem tôi phải trả lời thế nào cho Ðấng đã sai tôi.&#8221; <sup>14</sup> Vua Ða-vít nói với ông Gát: &#8220;Tôi lâm vào cảnh rất ngặt nghèo. Thà chúng ta sa vào tay Ðức Chúa còn hơn, vì lòng thương của Người bao la, nhưng ước chi tôi đừng sa vào tay người phàm!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ðức Chúa giáng ôn dịch xuống Ít-ra-en từ sáng hôm đó cho đến lúc đã định, và từ Ðan tới Bơ-e Se-va, có bảy mươi ngàn người trong dân đã chết. <sup>16</sup> Thiên sứ đưa tay về phía Giê-ru-sa-lem để tàn phá thành, nhưng Ðức Chúa hối tiếc vì tai hoạ đó, và Người bảo thiên sứ có nhiệm vụ tiêu diệt dân: &#8220;Ðủ rồi! Bây giờ rút tay lại.&#8221; Thiên sứ của Ðức Chúa đang ở gần sân lúa của ông A-rau-na, người Giơ-vút. <sup>17</sup> Vua Ða-vít thưa với Ðức Chúa, khi thấy thiên sứ có nhiệm vụ đánh phạt dân, ông nói: &#8220;Ngài coi, chính con đã phạm tội, chính con có lỗi; nhưng đàn chiên đó đã làm gì? Xin tay Ngài cứ đè trên con và nhà cha con!&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Ða-vít dựng bàn thờ </strong> (1 Sb 21: 18 -27)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngày hôm đó, ông Gát đến gặp vua Ða-vít và nói với vua: &#8220;Xin ngài lên dựng một bàn thờ để kính Ðức Chúa tại sân lúa của ông A-rau-na, người Giơ-vút.&#8221; <sup>19</sup> Vua Ða-vít đi lên theo lời ông Gát, như Ðức Chúa đã truyền. <sup>20</sup> Ông A-rau-na nhìn xuống, thấy vua và bề tôi đang đi qua phía mình. Ông A-rau-na liền đi ra và sấp mặt xuống đất lạy vua. <sup>21</sup> Ông A-rau-na nói: &#8220;Chẳng hay đức vua là chúa thượng tôi đến gặp tôi tớ người có mục đích gì?&#8221; Vua Ða-vít nói: &#8220;Ðến mua sân lúa của ngươi và xây một bàn thờ để kính Ðức Chúa, hầu chấm dứt tai ương đang làm hại dân.&#8221; <sup>22</sup> Ông A-rau-na thưa với vua Ða-vít: &#8220;Xin đức vua là chúa thượng tôi cứ lấy sân lúa và dâng lên cái gì ngài coi là tốt. Ngài xem: đây có bò làm lễ toàn thiêu, có bàn đạp lúa và ách bò làm củi. <sup>23</sup> Thưa đức vua, tất cả những cái đó, A-rau-na xin dâng đức vua.&#8221; Ông A-rau-na thưa với vua: &#8220;Xin Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, khứng nhận cho ngài!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Nhưng vua nói với ông A-rau-na: &#8220;Không! Ta muốn mua của ngươi, giá cả sòng phẳng, và ta không muốn dâng lên Ðức Chúa, Thiên Chúa của ta, những lễ toàn thiêu mà ta không mất tiền mua.&#8221; Vua Ða-vít đã trả mười lăm lượng bạc để mua sân lúa và bò. <sup>25</sup> Vua Ða-vít xây một bàn thờ ở đó để kính Ðức Chúa và dâng những lễ toàn thiêu và những lễ kỳ an. Ðức Chúa đã thương đến xứ sở, và tai ương đã chấm dứt không làm hại Ít-ra-en nữa.</span></p>
<p align="justify">
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/459/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=459&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-ii-sa-mu-en-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Samuel I (Sa-mu-en 1)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-i-sa-mu-en-1/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-i-sa-mu-en-1/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 18:07:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.4. Sách Samuel I (Sa-mu-en 1)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=453</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Ông Sa-Mu-En 1. Thời Thơ Ấu Của Ông Sa-Mu-En Hành hương Si-lô 1 Có một người quê thành Ra-ma-tha-gim Xô-phim, thuộc miền núi Ép-ra-im, tên là En-ca-na, con ông Giơ-rô-kham; ông Giơ-rô-kham là con ông Ê-li-hu, ông Ê-li-hu là con ông Tô-khu, ông Tô-khu là con ông Xúp, người Ép-ra-tha. [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=453&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Ông Sa-Mu-En</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Thời Thơ Ấu Của Ông Sa-Mu-En</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hành hương Si-lô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Có một người quê thành Ra-ma-tha-gim Xô-phim, thuộc miền núi Ép-ra-im, tên là En-ca-na, con ông Giơ-rô-kham; ông Giơ-rô-kham là con ông Ê-li-hu, ông Ê-li-hu là con ông Tô-khu, ông Tô-khu là con ông Xúp, người Ép-ra-tha. <sup>2</sup> Người ấy có hai vợ, một bà tên là An-na, một bà tên là Pơ-nin-na. Bà Pơ-nin-na có con, còn bà An-na không có con. <sup>3</sup> Hằng năm, người ấy từ thành mình lên thờ lạy và dâng hy lễ cho Ðức Chúa các đạo binh tại Si-lô. Ở đó có hai con trai ông Ê-li là Khóp-ni và Pin-khát làm tư tế của Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span id="more-453"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðến ngày ông En-ca-na dâng hy lễ, ông thường chia các phần cho bà Pơ-nin-na, vợ ông, và cho các con trai con gái bà ấy. <sup>5</sup> Còn bà An-na, thì ông chia cho một phần ngon, vì ông yêu bà, mặc dù Ðức Chúa đã làm cho bà không sinh sản được. <sup>6</sup> Bà kia, đối thủ của bà, cứ chọc tức bà, để hạ nhục bà, vì Ðức Chúa đã làm cho bà không sinh sản được. <sup>7</sup> Ông vẫn làm như thế năm này qua năm nọ, mỗi lần bà lên Nhà của Ðức Chúa; còn bà kia cứ chọc tức bà như thế. Bà khóc và không chịu ăn. <sup>8</sup> Ông En-ca-na, chồng bà, bảo bà: &#8220;An-na, sao em khóc? Sao em không chịu ăn? Sao lòng em rầu rĩ vậy? Ðối với em, anh lại không hơn mười đứa con trai sao?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bà An-na cầu nguyện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Bà An-na đứng dậy sau khi họ đã ăn uống tại Si-lô. Tư tế Ê-li đang ngồi trên ghế ở cửa đền thờ Ðức Chúa. <sup>10</sup> Tâm hồn cay đắng, bà cầu nguyện với Ðức Chúa và khóc nức nở. <sup>11</sup> Bà khấn hứa rằng: &#8220;Lạy Ðức Chúa các đạo binh, nếu Ngài đoái nhìn đến nỗi khổ cực của nữ tỳ Ngài đây, nếu Ngài nhớ đến con và không quên nữ tỳ Ngài, nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho Ðức Chúa mọi ngày đời nó, và dao cạo sẽ không đụng tới đầu nó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Vì bà cứ cầu nguyện lâu trước nhan Ðức Chúa, nên ông Ê-li để ý đến miệng bà. <sup>13</sup> Bà An-na thầm thĩ trong lòng: chỉ có môi bà mấp máy, không nghe thấy tiếng bà. Ông Ê-li nghĩ rằng bà say rượu. <sup>14</sup> Ông Ê-li bảo bà: &#8220;Bà còn say đến bao giờ? Hãy lo dã rượu đi!&#8221; <sup>15</sup> Bà An-na trả lời rằng: &#8220;Không, thưa ngài, tôi chỉ là một người đàn bà tâm thần đau khổ. Tôi đã không uống rượu và đồ uống có men, tôi chỉ thổ lộ tâm can trước nhan Ðức Chúa. <sup>16</sup> Xin đừng coi nữ tỳ ngài đây là đứa vô lại: chỉ vì quá lo âu phiền muộn mà tôi đã nói cho đến bây giờ.&#8221; <sup>17</sup> Ông Ê-li trả lời rằng: &#8220;Bà hãy đi về bình an. Xin Thiên Chúa của Ít-ra-en ban cho bà điều bà đã xin Người!&#8221; <sup>18</sup> Bà thưa: &#8220;Ước chi nữ tỳ của ngài đây được đẹp lòng ngài!&#8221; Rồi người đàn bà ra đi; bà dùng bữa và nét mặt bà không còn như trước nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en sinh ra và được thánh hiến</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Sáng hôm sau, họ dậy sớm và sụp lạy trước nhan Ðức Chúa, rồi trở về nhà ở Ra-ma. Ông En-ca-na ăn ở với bà An-na, vợ mình, và Ðức Chúa đã nhớ đến bà. <sup>20</sup> Ngày qua tháng lại, bà An-na thụ thai, sinh con trai và đặt tên cho nó là Sa-mu-en, vì bà nói: &#8220;Tôi đã xin Ðức Chúa được nó.&#8221; <sup>21</sup> Người chồng là En-ca-na lên với cả gia đình để dâng hy lễ thường niên cho Ðức Chúa và để giữ trọn lời khấn hứa của mình. <sup>22</sup> Bà An-na không lên, vì bà nói với chồng: &#8220;Ðợi cho đến khi đứa trẻ cai sữa đã. Khi đó em sẽ đưa nó đi, nó sẽ ra mắt Ðức Chúa và sẽ ở lại đó mãi mãi.&#8221; <sup>23</sup> Ông En-ca-na, chồng bà, bảo bà: &#8220;Em nghĩ thế nào là phải thì cứ làm; cứ ở lại cho đến khi cai sữa cho nó. Chỉ xin Ðức Chúa thực hiện lời Người.&#8221; Người đàn bà ở lại và cho con bú cho đến khi cai sữa cho nó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Sau khi cai sữa cho con, bà đưa nó lên với mình, mang theo một con bò mộng ba tuổi, hai thùng bột và một bầu da đầy rượu. Bà đưa con vào Nhà Ðức Chúa tại Si-lô; đứa trẻ còn nhỏ lắm. <sup>25</sup> Họ sát tế con bò và đưa đứa trẻ đến với ông Ê-li. <sup>26</sup> Bà nói: &#8220;Thưa ngài, xin thứ lỗi, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề: tôi là người đàn bà đã đứng bên ngài, tại đây, để cầu nguyện với Ðức Chúa. <sup>27</sup> Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ này, và Ðức Chúa đã ban cho tôi điều tôi đã xin Người. <sup>28</sup> Ðến lượt tôi, tôi xin nhượng nó lại cho Ðức Chúa. Mọi ngày đời nó, nó sẽ được nhượng cho Ðức Chúa.&#8221; Và ở đó, họ thờ lạy Ðức Chúa.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bài ca của bà An-na</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bà An-na cầu nguyện và nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Tâm hồn con hoan hỷ vì Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhờ Ðức Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Con mở miệng nhạo báng quân thù:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vâng, con vui sướng vì được Ngài cứu độ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Chẳng có Ðấng thánh nào như Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chẳng một ai khác, ngoại trừ Ngài,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chẳng có Núi Ðá nào như Thiên Chúa chúng ta.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Các người chớ nhiều lời huênh hoang tự đắc,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">miệng đừng thốt ra điều ngạo mạn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì Ðức Chúa là Thiên Chúa quán thông,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mọi hành vi, chính Người xét xử.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Cung nỏ người hùng bị bẻ tan,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Người no phải làm mướn kiếm ăn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">còn kẻ đói được an nhàn thư thái.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ðức Chúa là Ðấng cầm quyền sinh tử,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ðức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đặt ngồi chung với hàng quyền quý,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vì nền móng địa cầu là của Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người đặt cả hoàn vũ lên trên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Chúa gìn giữ bước chân người trung hiếu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">còn ác nhân bị tiêu diệt trong chốn mịt mù,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì con người đâu phải mạnh mà thắng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Kẻ thù Ðức Chúa sẽ bị đập tan,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ trời cao, người cho sấm sét giáng trên đầu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðức Chúa xét xử khắp cùng cõi đất,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ban quyền năng cho đức vua Người chọn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nêu uy thế đấng Người đã xức dầu tấn phong.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông En-ca-na về nhà ở Ra-ma. Còn đứa trẻ thì phụng sự Ðức Chúa, có tư tế Ê-li trông nom.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các con trai ông Ê-li</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Các con trai ông Ê-li là những tên vô lại, chúng không biết gì đến Ðức Chúa <sup>13</sup> và đến quyền lợi các tư tế được hưởng trên dân. Mỗi khi có ai dâng hy lễ, thì đầy tớ của tư tế đến, tay cầm xiên ba răng, trong lúc người ta đang nấu thịt. <sup>14</sup> Nó thọc vào vạc, vào nồi, vào chảo hay vào niêu; hễ xiên đưa lên được miếng nào, thì tư tế lấy cho mình. Chúng vẫn làm như thế với tất cả những người Ít-ra-en đến đó, tại Si-lô. <sup>15</sup> Cả trước khi người ta đốt mỡ cho cháy nghi ngút, thì đầy tớ của tư tế đến và bảo người dâng hy lễ: &#8220;Ðưa thịt đây để quay cho tư tế! Người không lấy thịt ông đã nấu đâu, chỉ lấy thịt sống thôi!&#8221; <sup>16</sup> Người kia có nói: &#8220;Ðể người ta đốt mỡ cho cháy nghi ngút trước đã, rồi anh thích gì thì cứ lấy&#8221;, thì nó bảo: &#8220;Không, phải đưa ngay bây giờ! Nếu không, tôi dùng sức mạnh mà lấy.&#8221; <sup>17</sup> Tội của những người thanh niên này rất lớn trước nhan Ðức Chúa, vì những người ấy khinh thường lễ phẩm dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en tại Si-lô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Sa-mu-en phụng sự trước nhan Ðức Chúa, cậu bé mặc ê-phốt vải gai. <sup>19</sup> Mẹ cậu vẫn may cho cậu một áo khoác nhỏ và đưa lên cho cậu mỗi năm, khi bà cùng chồng lên dâng hy lễ thường niên. <sup>20</sup> Ông Ê-li chúc phúc cho ông En-ca-na và vợ ông này rằng: &#8220;Xin Ðức Chúa cho người đàn bà này sinh con cái cho ông, để thay thế đứa con đã nhượng cho Ðức Chúa.&#8221; Rồi hai ông bà trở về nhà. <sup>21</sup> Ðức Chúa viếng thăm bà An-na; bà thụ thai và sinh được ba trai hai gái, còn cậu bé Sa-mu-en thì lớn lên bên cạnh Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lại nói về các con ông Ê-li</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Ê-li đã già lắm. Ông nghe nói các con ông đối xử thế nào với toàn thể Ít-ra-en; ông còn nghe nói chúng nằm với những phụ nữ phục vụ ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>23</sup> Ông nói với chúng: &#8220;Sao các con lại làm những điều ấy, những điều xấu mà cha nghe toàn dân nói? <sup>24</sup> Không, các con ơi, tiếng kháo láo cha nghe dân Ðức Chúa đồn thổi thì không tốt đẹp gì. <sup>25</sup> Nếu một người có tội với một người, thì Thiên Chúa sẽ phân xử cho; nhưng nếu một người có tội với Ðức Chúa thì ai sẽ cầu nguyện cho nó?&#8221; Nhưng chúng không chịu nghe lời cha chúng, vì Ðức Chúa muốn làm cho chúng phải chết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Còn cậu bé Sa-mu-en thì càng lớn lên và đẹp lòng cả Ðức Chúa lẫn người ta.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Báo trước hình phạt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Một người của Thiên Chúa đến gặp ông Ê-li và nói với ông: &#8220;Ðức Chúa phán thế này: Ta đã chẳng tỏ mình ra một cách rõ ràng cho nhà của cha ngươi, khi chúng ở dưới quyền triều đình Pha-ra-ô bên Ai-cập đó sao? <sup>28</sup> Ta đã chọn chúng trong mọi chi tộc Ít-ra-en, để chúng làm tư tế cho Ta, bước lên bàn thờ của Ta, đốt hương cho cháy nghi ngút, mang ê-phốt trước nhan Ta, và Ta đã ban cho nhà cha ngươi mọi hoả tế của con cái Ít-ra-en. <sup>29</sup> Tại sao ngươi lại coi thường hy lễ và lễ phẩm dành cho Ta, là những thứ Ta đã truyền dâng trong nơi Ta ngự? Tại sao ngươi lại coi trọng các con ngươi hơn Ta, mà cả cha con béo mập ra, vì ăn những thứ ngon nhất trong mọi lễ phẩm của Ít-ra-en, dân Ta?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> &#8220;Vì vậy -sấm ngôn của Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en- quả Ta có nói là nhà của ngươi và nhà cha ngươi sẽ đi trước nhan Ta mãi mãi, nhưng giờ đây &#8211; sấm ngôn của Ðừc Chúa &#8211; không đời nào! Vì những kẻ coi trọng Ta thì Ta coi trọng, còn những kẻ khinh dể Ta thì bị khinh thường. <sup>31</sup> Này sắp đến những ngày Ta sẽ chặt cánh tay ngươi và cánh tay của nhà cha ngươi, khiến cho không còn người già trong nhà của ngươi. <sup>32</sup> Ngươi sẽ trông thấy một đối thủ nơi Ta ngự, trong khi tại Ít-ra-en mọi sự đều tốt đẹp, và trong nhà ngươi sẽ không bao giờ có người già nữa. <sup>33</sup> Tuy nhiên, Ta sẽ không loại mọi người của ngươi khỏi bàn thờ Ta, như vậy mắt ngươi sẽ mỏi mòn, tâm hồn ngươi sẽ kiệt sức, và tất cả con cháu trong nhà ngươi sẽ phải chết giữa tuổi thành nhân.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> &#8220;Ðiều xảy ra cho hai con trai ngươi, Khóp-ni và Pin-khát, sẽ là dấu cho ngươi: cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. <sup>35</sup> Ta sẽ cho xuất hiện một tư tế trung kiên để phục vụ Ta, nó sẽ hành động theo lòng Ta và ý muốn của Ta; Ta sẽ xây cho nó một nhà kiên cố, và ngày ngày nó sẽ đi trước người được Ta xức dầu tấn phong. <sup>36</sup> Bất cứ ai còn sót lại trong nhà ngươi sẽ đến sụp lạy nó để được một đồng bạc và một ổ bánh, và sẽ nói với nó: &#8220;Xin vui lòng nhận tôi vào làm một chức vụ tư tế nào đó, để tôi có miếng bánh ăn.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa gọi ông Sa-mu-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Cậu bé Sa-mu-en phụng sự Ðức Chúa, có ông Ê-li trông nom. Thời ấy, lời Ðức Chúa thì hiếm và thị kiến cũng không hay xảy ra. <sup>2</sup> Một ngày kia, ông Ê-li đang ngủ ở chỗ ông, mắt ông đã bắt đầu mờ, ông không còn thấy nữa. <sup>3</sup> Ðèn của Thiên Chúa chưa tắt và Sa-mu-en đang ngủ trong đền thờ Ðức Chúa, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. <sup>4</sup> Ðức Chúa gọi Sa-mu-en. Cậu thưa: &#8220;Dạ, con đây!&#8221; <sup>5</sup> Rồi chạy lại với ông Ê-li và thưa: &#8220;Dạ, con đây, thầy gọi con.&#8221; Ông bảo: &#8220;Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi.&#8221; Cậu bèn đi ngủ. <sup>6</sup> Ðức Chúa lại gọi Sa-mu-en lần nữa. Sa-mu-en dậy, đến với ông Ê-li và thưa: &#8220;Dạ, con đây, thầy gọi con.&#8221; Ông bảo: &#8220;Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về ngủ đi.&#8221; <sup>7</sup> Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết Ðức Chúa, và lời Ðức Chúa chưa được mặc khải cho cậu. <sup>8</sup> Ðức Chúa lại gọi Sa-mu-en lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Ê-li và thưa: &#8220;Dạ, con đây, thầy gọi con.&#8221; Bấy giờ ông Ê-li hiểu là Ðức Chúa gọi cậu bé. <sup>9</sup> Ông Ê-li nói với Sa-mu-en: &#8220;Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: &#8220;Lạy Ðức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.&#8221; Sa-mu-en về ngủ ở chỗ của mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ðức Chúa đến, đứng đó và gọi như những lần trước: &#8220;Sa-mu-en! Sa-mu-en!&#8221; Sa-mu-en thưa: &#8220;Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.&#8221; <sup>11</sup> Ðức Chúa phán với Sa-mu-en: &#8220;Này Ta sắp làm một điều tại Ít-ra-en mà bất cứ ai nghe nói cũng phải ù cả hai tai. <sup>12</sup> Ngày ấy, để phạt Ê-li, Ta sẽ thực hiện mọi điều Ta đã phán về nhà nó, từ đầu đến cuối. <sup>13</sup> Ta báo cho nó là Ta vĩnh viễn kết án nhà nó vì lỗi của nó: Nó biết các con nó nguyền rủa Thiên Chúa mà đã không sửa dạy chúng. <sup>14</sup> Vì vậy Ta thề với nhà Ê-li: nhà Ê-li sẽ không bao giờ được xá lỗi, dù là bằng hy lễ hay lễ phẩm.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Sa-mu-en cứ ngủ cho đến sáng, rồi mở các cửa của Nhà Ðức Chúa. Sa-mu-en sợ không dám kể lại thị kiến cho ông Ê-li. <sup>16</sup> Ông Ê-li gọi Sa-mu-en và nói: &#8220;Sa-mu-en, con ơi!&#8221; Cậu thưa: &#8220;Dạ, con đây!&#8221; <sup>17</sup> Ông nói: &#8220;Người đã phán với con điều gì? Thầy xin con đừng giấu thầy. Xin Thiên Chúa phạt con thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu con giấu thầy một điều nào trong tất cả những lời Người đã phán với con.&#8221; <sup>18</sup> Sa-mu-en kể lại cho ông mọi điều, không giấu ông điều nào. Ông nói: &#8220;Người là Ðức Chúa. Xin Người cứ làm điều Người cho là tốt.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Sa-mu-en lớn lên. Ðức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu. <sup>20</sup> Toàn thể Ít-ra-en, từ Ðan tới Bơ-e Se-va, biết rằng ông Sa-mu-en được Ðức Chúa tín nhiệm cho làm ngôn sứ của Người. <sup>21</sup> Ðức Chúa tiếp tục hiện ra ở Si-lô, vì Ðức Chúa dùng lời của Ðức Chúa mà tự mặc khải cho ông Sa-mu-en ở Si-lô.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> và lời của ông Sa-mu-en đến với toàn thể Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Hòm Bia Bị Người Phi-Li-Tinh Chiếm Ðoạt</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en bị đánh bại và Hòm Bia bị chiếm đoạt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Người Phi-li-tinh dàn quân đối diện với quân Ít-ra-en, cuộc chiến trở nên ác liệt và Ít-ra-en bị người Phi-li-tinh đánh bại: tại mặt trận, ở ngoài đồng, chúng đã giết chừng bốn ngàn người. <sup>3</sup> Khi dân trở về trại, các kỳ mục Ít-ra-en nói: &#8220;Sao hôm nay Ðức Chúa để chúng ta bị người Phi-li-tinh đánh bại? Chúng ta hãy đi Si-lô lấy Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa về: Hòm Bia sẽ đến giữa chúng ta và sẽ cứu chúng ta khỏi bàn tay quân thù.&#8221; <sup>4</sup> Dân sai người đi Si-lô; từ đó họ mang về Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa các đạo binh, Ðấng ngự trên các thần hộ giá; ở đó, bên cạnh Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa, có hai con ông Ê-li là Khóp-ni và Pin-khát. <sup>5</sup> Khi Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa xuống trại, toàn thể Ít-ra-en hò reo vang dội khiến đất rung chuyển. <sup>6</sup> Người Phi-li-tinh nghe thấy tiếng hò reo thì hỏi nhau: &#8220;Tiếng hò reo vang dội ấy trong trại bọn Híp-ri là gì vậy?&#8221; Chúng biết là Hòm Bia Ðức Chúa đã đến trại. <sup>7</sup> Người Phi-li-tinh sợ hãi, vì chúng nói: &#8220;Một vị thần đã đến trại!&#8221; Chúng bảo nhau: &#8220;Khốn thân ta, vì trước đây không có như vậy! <sup>8</sup> Khốn thân ta! Ai sẽ giải thoát ta khỏi tay những thần hùng mạnh ấy? Ðó là những thần đã dùng mọi thứ đòn mà đánh phạt người Ai-cập trong sa mạc. <sup>9</sup> Hỡi người Phi-li-tinh, can đảm lên, hãy tỏ ra là nam nhi, kẻo phải làm nô lệ cho bọn Híp-ri như chúng đã làm nô lệ cho anh em. Hãy tỏ ra là nam nhi và chiến đấu!&#8221; <sup>10</sup> Người Phi-li-tinh giao chiến. Ít-ra-en bị đánh bại và ai nấy chạy trốn về lều của mình. Ðó là một đòn rất đau: về phía Ít-ra-en có ba mươi ngàn bộ binh tử trận. <sup>11</sup> Hòm Bia Thiên Chúa bị chiếm đoạt, và hai con ông Ê-li là Khóp-ni và Pin-khát bị giết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ê-li qua đời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Một người thuộc chi tộc Ben-gia-min từ mặt trận chạy về, và ngay hôm đó tới Si-lô, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. <sup>13</sup> Khi người ấy đến thì ông Ê-li đang ngồi trên ghế ở bên đường mà ngóng trông. Vì lòng ông bồn chồn lo sợ cho Hòm Bia Thiên Chúa. Người kia vào loan tin trong thành, và cả thành kêu gào lên. <sup>14</sup> Nghe tiếng kêu la, ông Ê-li hỏi: &#8220;Sao có tiếng ồn ào như thế?&#8221; Người kia vội vàng đến báo tin cho ông Ê-li. <sup>15</sup> Ông Ê-li đã chín mươi tám tuổi, mắt ông cứng đờ, ông không thấy được nữa. <sup>16</sup> Người kia nói với ông Ê-li: &#8220;Tôi từ mặt trận về. Tôi đã từ mặt trận trốn về hôm nay.&#8221; Ông hỏi: &#8220;Cái gì đã xảy ra vậy con?&#8221; <sup>17</sup> Người đưa tin trả lời rằng: &#8220;Ít-ra-en đã chạy trốn quân Phi-li-tinh; dân đại bại, hai con ông là Khóp-ni và Pin-khát đã chết, và Hòm Bia Thiên Chúa đã bị chiếm đoạt.&#8221; <sup>18</sup> Người kia vừa nhắc tới Hòm Bia Thiên Chúa, thì ông từ ghế ngã ngửa xuống, bên cạnh cửa, giập gáy mà chết, vì ông đã già lại nặng cân. Ông đã làm thủ lãnh xét xử Ít-ra-en bốn mươi năm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vợ Pin-khát chết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Con dâu ông, tức là vợ của Pin-khát, đang có thai và sắp sinh. Nghe tin Hòm Bia bị chiếm đoạt, cha chồng và chồng chết, nàng khuỵu xuống và sinh con, vì lên cơn đau đột ngột. <sup>20</sup> Lúc nàng sắp chết, những người đàn bà đứng quanh bảo nàng: &#8220;Cô đừng sợ, vì cô đã sinh được một con trai!&#8221; Nhưng nàng không trả lời và không để tâm đến. <sup>21</sup> Nàng gọi đứa trẻ là I-kha-vốt, và nói: &#8220;Vinh quang đã bị cướp khỏi Ít-ra-en&#8221;, vì Hòm Bia Thiên Chúa đã bị chiếm đoạt, vì cha chồng và chồng nàng đã chết. <sup>22</sup> Nàng nói: &#8220;Vinh quang đã bị cướp khỏi Ít-ra-en&#8221;, vì Hòm Bia Thiên Chúa đã bị chiếm đoạt.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Phi-li-tinh gặp rủi ro vì Hòm Bia</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Phi-li-tinh chiếm đoạt Hòm Bia Thiên Chúa và đưa từ E-ven Ha E-de về thành Át-đốt. <sup>2</sup> Người Phi-li-tinh lấy Hòm Bia, đưa vào nhà của thần Ða-gôn và đặt bên cạnh thần Ða-gôn. <sup>3</sup> Hôm sau, người Át-đốt dậy sớm và kìa Ða-gôn ngã sấp mặt xuống đất, trước Hòm Bia Ðức Chúa. Chúng đem Ða-gôn đặt vào chỗ cũ. <sup>4</sup> Sáng hôm sau chúng dậy sớm và kìa Ða-gôn lại ngã sấp mặt xuống đất, trước Hòm Bia Ðức Chúa. Ðầu Ða-gôn và hai bàn tay đã bị chặt, thì ở trên ngưỡng cửa, chỉ còn lại thân Ða-gôn. <sup>5</sup> Vì thế, cho đến ngày hôm nay, ở Át-đốt, các tư tế Ða-gôn và tất cả những ai vào Nhà của Ða-gôn không giẫm lên ngưỡng cửa Ða-gôn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Bàn tay Ðức Chúa đè nặng trên người Át-đốt, Người làm cho chúng phải điêu linh, và mắc những khối u, tại Át-đốt và trong lãnh thổ. <sup>7</sup> Thấy vậy, người Át-đốt nói: &#8220;Ðừng để Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en ở lại với chúng ta, vì Người đã ra tay đối xử nghiệt ngã với chúng ta và với thần Ða-gôn của chúng ta; <sup>8</sup> chúng sai người đi mời tất cả các vương hầu người Phi-li-tinh đến với chúng. Chúng nói: &#8220;Chúng tôi phải làm gì với Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en?&#8221; Các vương hầu trả lời: &#8220;Phải di chuyển Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en đến Gát.&#8221; Họ đã di chuyển Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en đi. <sup>9</sup> Sau khi di chuyển Hòm Bia, tay Ðức Chúa giáng xuống trên thành. Chúng vô cùng hoảng sợ. Ðức Chúa đánh phạt người trong thành, từ bé đến lớn: khối u mọc trên khắp người chúng. <sup>10</sup> Chúng gửi Hòm Bia Thiên Chúa đến Éc-rôn. Nhưng khi Hòm Bia đến Éc-rôn thì người Éc-rôn kêu lên rằng: &#8220;Họ di chuyển Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en đến với (chúng) ta, để giết (chúng) ta và dân (chúng) ta.&#8221; <sup>11</sup> Chúng sai người đi mời tất cả các vương hầu người Phi-li-tinh đến. Chúng nói: &#8220;Các ông hãy trả lại Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en; Hòm Bia phải trở về chỗ cũ, để Hòm Bia đừng giết (chúng) tôi và dân (chúng) tôi!&#8221; Thật vậy, trong toàn thành, người ta hoảng sợ trước cái chết, vì bàn tay Thiên Chúa giáng rất mạnh xuống trên đó. <sup>12</sup> Những người không chết thì bị mắc những khối u, và tiếng kêu của thành đã thấu tới trời.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trả lại Hòm Bia</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Hòm Bia Ðức Chúa ở trong lãnh thổ người Phi-li-tinh bảy tháng. <sup>2</sup> Người Phi-li-tinh mời các tư tế và thầy bói đến và hỏi: &#8220;Chúng tôi phải làm gì với Hòm Bia Ðức Chúa? Xin cho chúng tôi biết phải trả Hòm Bia về chỗ cũ bằng cách nào.&#8221; <sup>3</sup> Họ đáp: &#8220;Nếu anh em trả lại Hòm Bia Thiên Chúa Ít-ra-en, thì đừng trả lại không, nhưng phải nộp cho Người một của lễ đền tội. Bấy giờ anh em sẽ khỏi bệnh và sẽ biết tại sao tay của Người đã không tha anh em.&#8221; <sup>4</sup> Người Phi-li-tinh hỏi: &#8220;Của lễ đền tội chúng tôi phải nộp cho Người là gì?&#8221; Họ đáp: &#8220;Năm cái khối u bằng vàng và năm con chuột bằng vàng, tính theo số các vương hầu người Phi-li-tinh, vì cũng một tai hoạ đã giáng xuống trên tất cả anh em và trên các vương hầu của anh em. <sup>5</sup> Anh em hãy làm những hình ảnh các khối u của anh em, và hình ảnh các con chuột đang phá phách xứ sở, và hãy tôn vinh Thiên Chúa Ít-ra-en. May ra Người sẽ nhẹ tay với anh em, với các thần của anh em và xứ sở anh em. <sup>6</sup> Tại sao anh em để lòng mình ra nặng nề cứng cỏi, như người Ai-cập và Pha-ra-ô đã để lòng chúng ra nặng nề cứng cỏi? Khi Người thị uy với chúng, chúng đã chẳng phải để cho Ít-ra-en đi sao? <sup>7</sup> Bây giờ hãy đóng một cỗ xe mới và bắt hai con bò sữa chưa hề mang ách. Hãy lấy hai con bò đó mà thắng xe, và hãy tách con chúng ra mà đưa về nhà. <sup>8</sup> Anh em hãy đem Hòm Bia Ðức Chúa đặt lên xe. Còn các đồ bằng vàng anh em nộp cho Người làm của lễ đền tội, thì hãy để vào một cái tráp ở bên cạnh, rồi hãy để cho Hòm Bia đi. <sup>9</sup> Anh em sẽ xem: nếu Hòm Bia theo hướng lãnh thổ mình mà lên Bết Se-mét, thì chính là Người đã gây ra cho chúng ta đại hoạ này. Nếu không, chúng ta sẽ biết là chẳng phải tay Người đã đánh chúng ta, mà chỉ là chuyện tình cờ xảy đến cho chúng ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Những người ấy làm như vậy. Chúng bắt hai con bò sữa mà thắng xe, còn bò con thì nhốt ở nhà. <sup>11</sup> Chúng đặt Hòm Bia Ðức Chúa lên xe, cùng với cái tráp đựng các con chuột bằng vàng và hình ảnh các khối u của chúng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Các con bò cái thẳng đường đi về hướng Bết Se-mét. Chúng cứ theo một đường mà đi, vừa đi vừa rống, không đi trệch bên phải bên trái. Các vương hầu người Phi-li-tinh đi theo sau chúng cho đến ranh giới Bết Se-mét.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hòm Bia tại Bết Se-mét</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người Bết Se-mét đang gặt lúa mì trong thung lũng. Ngước mắt lên, họ nhìn thấy Hòm Bia, và khi nhìn thấy, họ vui mừng. <sup>14</sup> Cỗ xe đến cánh đồng ông Giơ-hô-su-a người Bết Se-mét, và dừng lại ở đó. Ở đó có một tảng đá lớn. Họ bổ gỗ xe ra, còn những con bò cái thì họ dâng Ðức Chúa làm lễ toàn thiêu. <sup>15</sup> Các thầy Lê-vi đưa Hòm Bia Ðức Chúa xuống, cùng với cái tráp bên cạnh, trong đó có các đồ vật bằng vàng. Họ đặt tất cả lên tảng đá lớn. Người Bết Se-mét dâng những lễ toàn thiêu và tiến những hy lễ lên Ðức Chúa, ngày hôm đó. <sup>16</sup> Năm vương hầu người Phi-li-tinh thấy vậy, cũng trở về Éc-rôn ngày hôm đó. <sup>17</sup> Ðây là các u bướu bằng vàng người Phi-li-tinh đã nộp cho Ðức Chúa làm lễ đền tội: một cho Át-đốt, một cho Ga-da, một cho Át-cơ-lôn, một cho Gát, một cho Éc-rôn. <sup>18</sup> Ngoài ra còn có các con chuột bằng vàng, tính theo số tất cả các thành người Phi-li-tinh thuộc về năm vương hầu, từ thành kiên cố cho đến làng bỏ ngỏ. Tảng đá lớn trên đó người ta đã đặt Hòm Bia Ðức Chúa là bằng chứng cho đến ngày hôm nay, trong cánh đồng ông Giơ-hô-su-a người Bết Se-mét. <sup>19</sup> Người đã đánh phạt những người Bết Se-mét vì họ đã nhìn thấy Hòm Bia Ðức Chúa. Trong dân, Người đã đánh phạt bảy mươi người. Dân để tang vì Ðức Chúa đã đánh dân một đòn đau.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hòm Bia tại Kia-giát Giơ-a-rim</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Người Bết Se-mét nói: &#8220;Ai có thể đứng vững trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa thánh thiện này? Khi rời chúng tôi, Người sẽ lên với ai?&#8221; <sup>21</sup> Họ sai sứ giả đến với dân cư thành Kia-giát Giơ-a-rim và nói: &#8220;Người Phi-li-tinh đã trả lại Hòm Bia Ðức Chúa. Hãy xuống mà đưa lên với anh em.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Kia-giát Giơ-a-rim đến và đưa Hòm Bia Ðức Chúa lên. Họ đưa Hòm Bia vào nhà ông A-vi-na-đáp, ở trên đồi, và thánh hiến E-la-da, con ông, để giữ Hòm Bia Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en làm thủ lãnh và cứu dân</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Từ ngày Hòm Bia được đặt ở Kia-giát Giơ-a-rim, một thời gian dài trôi qua: đã hai mươi năm rồi. Toàn thể nhà Ít-ra-en thiết tha hướng về Ðức Chúa. <sup>3</sup> Bấy giờ ông Sa-mu-en nói với toàn thể nhà Ít-ra-en rằng: &#8220;Nếu anh em hết lòng trở về với Ðức Chúa, thì hãy loại bỏ các thần ngoại bang và các nữ thần Át-tô-rét ra khỏi anh em; hãy hướng lòng anh em về với Ðức Chúa và phụng sự một mình Người, thì Người sẽ giải thoát anh em khỏi tay người Phi-li-tinh.&#8221; <sup>4</sup> Con cái Ít-ra-en loại bỏ các thần Ba-an và các nữ thần Át-tô-rét và chỉ phụng sự một mình Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Hãy tập hợp toàn thể Ít-ra-en về Mít-pa: tôi sẽ cầu nguyện với Ðức Chúa cho anh em.&#8221; <sup>6</sup> Họ tập hợp về Mít-pa. Họ múc nước và đổ ra trước nhan Ðức Chúa. Ngày hôm ấy họ ăn chay và nói tại đó: &#8220;Chúng tôi đắc tội với Ðức Chúa.&#8221; Ông Sa-mu-en làm thủ lãnh xét xử con cái Ít-ra-en tại Mít-pa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Khi người Phi-li-tinh nghe tin con cái Ít-ra-en tập hợp về Mít-pa, thì các vương hầu người Phi-li-tinh lên đánh Ít-ra-en. Con cái Ít-ra-en nghe tin và sợ người Phi-li-tinh. <sup>8</sup> Con cái Ít-ra-en nói với ông Sa-mu-en: &#8220;Xin ông chớ ngừng kêu lên Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, để người cứu chúng tôi khỏi tay người Phi-li-tinh!&#8221; <sup>9</sup> Ông Sa-mu-en bắt một con chiên sữa và dâng toàn bộ làm lễ toàn thiêu lên Ðức Chúa. Rồi ông Sa-mu-en kêu lên Ðức Chúa cho Ít-ra-en và Ðức Chúa đã đáp lời ông. <sup>10</sup> Trong khi ông Sa-mu-en dâng lễ toàn thiêu thì người Phi-li-tinh tiến lại giao chiến với Ít-ra-en. Nhưng ngày hôm đó Ðức Chúa giáng sấm sét ầm ầm xuống người Phi-li-tinh; Người khiến chúng tán loạn và chúng bị Ít-ra-en đánh bại. <sup>11</sup> Người Ít-ra-en ra khỏi Mít-pa, đuổi theo quân Phi-li-tinh và đánh chúng đến tận bên dưới Bết Ca. <sup>12</sup> Ông Sa-mu-en lấy một tảng đá và đặt giữa Mít-pa và Cái Răng. Ông đặt tên tảng đá là E-ven Ha E-de và nói: &#8220;Cho đến chỗ này, Ðức Chúa đã cứu giúp chúng ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người Phi-li-tinh bị hạ nhục và không còn đến lãnh thổ Ít-ra-en nữa. Tay Ðức Chúa đè trên người Phi-li-tinh suốt đời ông Sa-mu-en. <sup>14</sup> Các thành mà người Phi-li-tinh đã chiếm của Ít-ra-en lại trở về với Ít-ra-en, từ Éc-rôn đến Gát, và Ít-ra-en đã giải phóng lãnh thổ họ khỏi tay người Phi-li-tinh. Có hoà bình giữa Ít-ra-en và người E-mô-ri.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông Sa-mu-en làm thủ lãnh xét xử Ít-ra-en mọi ngày trong đời ông. <sup>16</sup> Năm này qua năm nọ, ông đi một vòng Bết Ên, Ghin-gan, Mít-pa, và ông xét xử Ít-ra-en tại tất cả những nơi ấy. <sup>17</sup> Rồi ông trở về Ra-ma vì nhà ông ở đó và ông xét xử Ít-ra-en ở đó. Tại đây ông dựng một bàn thờ để kính Ðức Chúa.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">II. Ông Sa-Mu-En Và Ông Sa-Un</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Thiết Lập Chế Ðộ Quân Chủ</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân xin một vua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi ông Sa-mu-en đã già, ông đặt các con trai ông làm thủ lãnh Ít-ra-en. <sup>2</sup> Con đầu lòng của ông tên là Giô-en, con thứ hai tên là A-vi-gia. Họ làm thủ lãnh tại Bơ-e Se-va. <sup>3</sup> Các con trai ông không đi theo đường lối của ông, chúng ngả theo lợi lộc, nhận quà hối lộ và làm sai lệch công lý. <sup>4</sup> Toàn thể các kỳ mục tập hợp lại và đến với ông Sa-mu-en ở Ra-ma. <sup>5</sup> Họ nói với ông: &#8220;Ông coi, ông già rồi, và các con ông lại không đi theo đường lối của ông. Vậy bây giờ, xin ông lập cho chúng tôi một vua để vua xét xử chúng tôi, như trong tất cả các dân tộc.&#8221; <sup>6</sup> Ông Sa-mu-en bực mình vì lời họ nói: &#8220;Xin ông cho chúng tôi một vua để xét xử chúng tôi.&#8221; Và ông Sa-mu-en đã cầu nguyện với Ðức Chúa. <sup>7</sup> Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: &#8220;Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, vì không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng. <sup>8</sup> Chúng xử sự với ngươi như chúng vẫn xử sự từ ngày Ta đưa chúng lên từ Ai-cập cho đến ngày hôm nay: Chúng đã bỏ Ta mà phụng sự những thần khác. <sup>9</sup> Vậy bây giờ ngươi cứ nghe theo tiếng chúng. Chỉ có điều là ngươi phải long trọng cảnh cáo chúng và nói cho chúng biết quyền hành của nhà vua sẽ cai trị chúng.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những bất tiện của chế độ quân chủ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ông Sa-mu-en nói lại mọi lời của Ðức Chúa cho dân bấy giờ đang xin ông một vua. <sup>11</sup> Ông nói: &#8220;Ðây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà cắt đặt vào việc trông coi xe và ngựa của ông, và chúng sẽ chạy đàng trước xe của ông. <sup>12</sup> Ông sẽ đặt chúng làm người chỉ huy một ngàn và chỉ huy năm mươi, sẽ bắt chúng cày đất cho ông, gặt lúa cho ông, chế tạo vũ khí cho ông và dụng cụ cho xe của ông. <sup>13</sup> Các con gái anh em, ông sẽ bắt vào làm thợ chế nước hoa, nấu ăn và làm bánh. <sup>14</sup> Ðồng ruộng, vườn nho, vườn cây ô-liu tốt nhất của anh em, ông sẽ lấy mà cho bề tôi của ông. <sup>15</sup> Lúa thóc và vườn nho của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân mà cho các thái giám và bề tôi của ông. <sup>16</sup> Các tôi tớ nam nữ, các người trai tráng khá nhất của anh em, các con lừa của anh em, ông sẽ bắt mà dùng vào việc của ông. <sup>17</sup> Chiên dê của anh em, ông sẽ đánh thuế thập phân. Còn chính anh em sẽ làm nô lệ cho ông. <sup>18</sup> Ngày ấy, anh em sẽ kêu than vì vua của anh em mà anh em đã chọn cho mình, nhưng ngày ấy Ðức Chúa sẽ không đáp lời anh em.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Nhưng dân không chịu nghe theo tiếng ông Sa-mu-en. Họ nói: &#8220;Không! Phải có một vua cai trị chúng tôi! <sup>20</sup> Cả chúng tôi cũng sẽ giống như mọi dân tộc. Vua chúng tôi sẽ xét xử chúng tôi, sẽ dẫn đầu chúng tôi và sẽ lãnh đạo các cuộc chiến của chúng tôi.&#8221; <sup>21</sup> Ông Sa-mu-en nghe tất cả những lời của dân và nói lại những lời ấy cho Ðức Chúa nghe. <sup>22</sup> Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: &#8220;Hãy nghe theo tiếng chúng, và hãy đặt một vua cai trị chúng.&#8221; Ông Sa-mu-en nói với người Ít-ra-en: &#8220;Ai nấy hãy về thành của mình.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un đi tìm lừa của cha</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Có một người thuộc chi tộc Ben-gia-min tên là Kít, con ông A-vi-ên; ông A-vi-ên là con ông Xơ-ro; ông Xơ-ro là con ông Bơ-khô-rát; ông Bơ-khô-rát là con ông A-phi-ác; ông A-phi-ác là con một người Ben-gia-min. Ông Kít là một người có thế giá. <sup>2</sup> Ông có một người con trai tên là Sa-un, một người trẻ và đẹp trai; trong số con cái Ít-ra-en, không có người nào đẹp trai hơn ông. Ông cao hơn toàn dân từ vai trở lên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Các con lừa cái của ông Kít, cha ông Sa-un, bị lạc; ông Kít bảo ông Sa-un, con ông: &#8220;Con hãy đem một trong các người đầy tớ đi với con và lên đường đi tìm lừa.&#8221; <sup>4</sup> Ông Sa-un đi qua miền núi Ép-ra-im, rồi đi qua đất Sa-li-sa, mà không tìm thấy. Họ đi qua đất Sa-a-lim: cũng không thấy gì. Ông đi qua đất Ben-gia-min, mà không tìm thấy. <sup>5</sup> Khi họ đến đất Xúp, ông Sa-un nói với người đầy tớ đi với mình: &#8220;Nào, chúng ta hãy trở về, kẻo cha tôi không còn nghĩ đến lừa mà lại lo cho chúng ta.&#8221; <sup>6</sup> Người đầy tớ nói với ông: &#8220;Này, trong thành kia có một người của Thiên Chúa; ông là người có uy tín: tất cả những gì ông nói đều chắc chắn xảy ra. Bây giờ chúng ta hãy đi đến đó. May ra ông ấy sẽ chỉ cho chúng ta phải đi đường nào.&#8221; <sup>7</sup> Ông Sa-un nói với người đầy tớ: &#8220;Ðược, chúng ta đi! Nhưng chúng ta sẽ đem gì đến biếu ông ấy? Bị chúng ta hết bánh rồi, chúng ta không có quà đem biếu người của Thiên Chúa. Chúng ta có gì nào?&#8221; 8 Người đầy tớ lại trả lời ông Sa-un: &#8220;Ðây tôi có sẵn trong tay một chỉ bạc. Tôi sẽ tặng người của Thiên Chúa và ông ấy sẽ chỉ cho chúng ta con đường của chúng ta.&#8221; <sup>9</sup> &#8211; Ngày xưa, tại Ít-ra-en, khi người nào đi thỉnh ý Ðức Chúa thì nói thế này: &#8220;Nào chúng ta đến với thầy thị kiến&#8221;, vì &#8220;ngôn sứ&#8221; ngày nay thì ngày xưa gọi là &#8220;thầy thị kiến&#8221;. &#8211; <sup>10</sup> Ông Sa-un nói với đầy tớ: &#8220;Anh nói phải. Nào chúng ta đi! &#8221; Rồi họ đi đến thành trong đó có người của Thiên Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un gặp ông Sa-mu-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Họ đang lên dốc dẫn đến thành thì gặp những cô gái đi ra múc nước; họ hỏi các cô: &#8220;Thầy thị kiến có ở đây không?&#8221; <sup>12</sup> Các cô trả lời họ rằng: &#8220;Có, ngay trước mặt ông kia kìa, ông đi mau lên, vì hôm nay ông ấy đến thành, và hôm nay có hy lễ cho dân ở nơi cao. <sup>13</sup> Vào thành là các ông sẽ gặp ông ấy trước khi ông ấy lên nơi cao để dùng bữa: dân sẽ không dùng bữa trước khi ông ấy đến, vì ông ấy là người chúc phúc cho hy lễ; sau đó các khách mời sẽ dùng bữa. Vậy bây giờ các ông lên đi, các ông sẽ gặp ông ấy ngay lập tức.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Họ lên thành. Khi họ vào trong thành, thì thấy ông Sa-mu-en đang đi ra đón họ để lên nơi cao. <sup>15</sup> Một ngày trước khi ông Sa-un đến, Ðức Chúa đã mặc khải cho ông Sa-mu-en rằng: <sup>16</sup> &#8220;Ngày mai, vào giờ này, Ta sẽ sai một người xứ Ben-gia-min đến với ngươi, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en, và nó sẽ cứu dân Ta khỏi tay người Phi-li-tinh, vì Ta đã nhìn thấy dân Ta, và tiếng rên siết của nó đã thấu tới Ta.&#8221; <sup>17</sup> Khi ông Sa-mu-en thấy ông Sa-un thì Ðức Chúa mách bảo ông: &#8220;Ðây là người mà Ta đã nói với ngươi: chính nó sẽ cai trị dân Ta.&#8221; <sup>18</sup> Ông Sa-un lại gần ông Sa-mu-en ở giữa cửa thành và nói: &#8220;Xin ông làm ơn cho tôi biết nhà thầy thị kiến ở đâu.&#8221; <sup>19</sup> Ông Sa-mu-en trả lời ông Sa-un rằng: &#8220;Tôi là thầy thị kiến đây. Ông hãy lên nơi cao, trước mặt tôi. Các ông sẽ dùng bữa với tôi hôm nay. Sáng mai tôi sẽ để cho ông đi và sẽ nói cho ông biết tất cả những gì đang làm ông bận tâm. <sup>20</sup> Còn những con lừa cái của ông đã lạc ba ngày nay, ông đừng để tâm, vì đã tìm thấy rồi. Vả lại, mọi cái quý nhất trong Ít-ra-en thuộc về ai? Chẳng phải là thuộc về ông và nhà cha ông hay sao?&#8221; <sup>21</sup> Ông Sa-un trả lời rằng: &#8220;Tôi chẳng phải là một người Ben-gia-min, chi tộc nhỏ nhất trong Ít-ra-en sao? Thị tộc tôi chẳng phải là hèn mọn nhất trong các thị tộc của chi tộc Ben-gia-min sao? Sao ông lại nói với tôi như thế?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Sa-mu-en dẫn ông Sa-un và người đầy tớ ông này, đưa vào phòng và cho họ một chỗ ở hàng đầu những khách mời, khoảng ba mươi người. <sup>23</sup> Ông Sa-mu-en bảo người đầu bếp: &#8220;Hãy dọn phần tôi đã trao cho anh, khi bảo anh để riêng ra.&#8221; <sup>24</sup> Người đầu bếp mang cái đùi và cái đuôi ra đặt trước mặt ông Sa-un. Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Ðây là phần để lại, dọn ra cho ông. Mời ông ăn, vì nó được giữ lại cho ông nhân dịp này là dịp tôi mời dân.&#8221; Ngày hôm đó, ông Sa-un dùng bữa với ông Sa-mu-en. <sup>25</sup> Sau đó, từ nơi cao, họ xuống thành, và ông Sa-mu-en nói chuyện với ông Sa-un trên sân thượng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un được xức dầu phong vương</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Hôm sau, họ dậy sớm. Khi hừng đông ló rạng, ông Sa-mu-en gọi ông Sa-un đang ở trên sân thượng và nói: &#8220;Mời ông dậy, tôi sẽ tiễn ông đi.&#8221; Ông Sa-un dậy, rồi cả hai người, ông và ông Sa-mu-en, ra ngoài. <sup>27</sup> Khi họ đang xuống đến cuối thành thì ông Sa-mu-en nói với ông Sa-un: &#8220;Xin ông bảo người đầy tớ đi qua trước chúng ta.&#8221; &#8211; Người ấy đi qua &#8211; &#8220;Còn ông, bây giờ xin ông đứng lại để tôi nói cho ông nghe lời của Thiên Chúa.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sa-mu-en lấy lọ dầu và đổ trên đầu ông Sa-un, rồi hôn ông và nói: &#8220;Chẳng phải Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong ông làm người lãnh đạo cơ nghiệp của Người sao? <sup>2</sup> Hôm nay, khi từ biệt tôi mà đi, ông sẽ gặp hai người đàn ông gần mộ bà Ra-khen, ở ranh giới Ben-gia-min, tại Xen-xác. Họ sẽ nói với ông: &#8220;Các con lừa cái ông đang đi tìm, đã tìm được rồi, và bây giờ cha ông đã quên chuyện các con lừa, nhưng đang lo cho các ông và tự hỏi: Tôi phải làm gì cho con trai tôi? <sup>3</sup> Từ đó đi xa hơn nữa, ông sẽ đến Cây Sồi Ta-bo, ở đó ba người đàn ông sẽ gặp ông, họ đang lên với Thiên Chúa ở Bết Ên, một người mang ba con dê con, một người mang ba cái bánh, một người mang một bầu da đầy rượu. <sup>4</sup> Họ sẽ vấn an ông, sẽ biếu ông hai cái bánh và ông sẽ nhận từ tay họ. <sup>5</sup> Sau đó, ông sẽ đến Ghíp-a của Thiên Chúa, là nơi có viên trấn thủ Phi-li-tinh. Tại đó, khi ông vào thành, ông sẽ gặp một nhóm ngôn sứ đang từ nơi cao xuống, trước mặt họ có đàn hạc, trống, sáo, đàn cầm, và họ đang lên cơn xuất thần ngôn sứ. <sup>6</sup> Bấy giờ thần khí Ðức Chúa sẽ nhập vào ông, ông sẽ lên cơn xuất thần ngôn sứ cùng với họ, và ông sẽ biến thành một người khác. <sup>7</sup> Vậy khi các dấu ấy xảy đến cho ông, thì ông hãy tuỳ cơ ứng biến, vì Thiên Chúa ở với ông. <sup>8</sup> Ông hãy xuống Ghin-gan trước tôi; phần tôi, tôi sẽ xuống gặp ông, để dâng những lễ toàn thiêu và tiến những hy lễ kỳ an. Xin ông đợi bảy ngày, cho đến khi tôi tới. Tôi sẽ cho ông biết ông phải làm gì.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un trở về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Sa-un vừa quay lưng bỏ ông Sa-mu-en mà đi, thì Thiên Chúa biến đổi lòng ông, và tất cả các dấu đó đã xảy ra ngày hôm ấy. <sup>10</sup> Khi họ đến Ghíp-a thì thấy một nhóm ngôn sứ đi về phía họ. Thần khí Thiên Chúa nhập vào ông, và ông lên cơn xuất thần ngôn sứ ở giữa họ. <sup>11</sup> Tất cả những người quen biết ông trước kia đều thấy ông: ông làm ngôn sứ với những ngôn sứ! Trong dân người ta bảo nhau: &#8220;Cái gì đã xảy ra cho con ông Kít? Ông Sa-un mà cũng ở trong số các ngôn sứ sao?&#8221; <sup>12</sup> Một người ở đó lên tiếng hỏi: &#8220;Ai là cha của họ vậy?&#8221; Vì thế có câu ngạn ngữ rằng: &#8220;Ông Sa-un mà cũng ở trong số các ngôn sứ sao?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Khi hết cơn xuất thần ngôn sứ, thì ông Sa-un đi lên nơi cao. <sup>14</sup> Chú ông Sa-un hỏi ông và người đầy tớ: &#8220;Các anh đã đi đâu vậy?&#8221; Ông Sa-un trả lời: &#8220;Chúng cháu đi tìm các con lừa cái, nhưng không thấy gì, nên đã đến gặp ông Sa-mu-en.&#8221; <sup>15</sup> Chú ông Sa-un nói: &#8220;Cháu hãy kể lại cho chú nghe ông Sa-mu-en đã nói gì với hai người.&#8221; <sup>16</sup> Ông Sa-un trả lời chú: &#8220;Ông ấy chỉ báo cho chúng cháu là đã tìm thấy con lừa cái rồi.&#8221; Nhưng về chuyện làm vua, thì ông không kể lại cho chú điều ông Sa-mu-en đã nói.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un trúng thăm làm vua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Sa-mu-en triệu tập dân đến với Ðức Chúa ở Mít-pa. <sup>18</sup> Ông nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán như sau: Chính Ta đã đưa các ngươi lên từ Ai-cập và đã giải thoát các ngươi khỏi tay người Ai-cập và khỏi tay mọi vương quốc đang áp bức các ngươi. <sup>19</sup> Còn các ngươi, hôm nay các ngươi đã gạt bỏ Thiên Chúa của các ngươi, Ðấng cứu các ngươi khỏi mọi tai hoạ và mọi cơn ngặt nghèo của các ngươi, và các ngươi đã thưa với Người: &#8220;Xin Ngài lập một vua cai trị chúng tôi. Vậy bây giờ hãy đến đứng trước mặt Ðức Chúa theo chi tộc và thị tộc.&#8221; <sup>20</sup> Ông Sa-mu-en cho mọi chi tộc Ít-ra-en tiến đến và chi tộc Ben-gia-min trúng thăm. <sup>21</sup> Ông cho chi tộc Ben-gia-min tiến đến theo thị tộc, và thị tộc Mát-ri trúng thăm. Rồi ông Sa-un con ông Kít trúng thăm. Họ tìm ông mà không thấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Họ lại thỉnh ý Ðức Chúa: &#8220;Thưa còn người nào đến đây nữa không?&#8221; Ðức Chúa trả lời: &#8220;Nó đây này, nó đang lẩn trốn trong đống hành lý.&#8221; <sup>23</sup> Họ chạy đến, lôi ông từ đó ra, và ông đến đứng giữa dân. Ông cao hơn toàn dân từ vai trở lên. <sup>24</sup> Ông Sa-mu-en nói với toàn dân: &#8220;Anh em đã xem thấy người Ðức Chúa chọn chưa? Trong toàn dân không có ai được như ông.&#8221; Toàn dân reo hò và nói: &#8220;Vạn tuế đức vua!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ông Sa-mu-en nói cho dân biết quyền hành vua chúa, ghi chép vào một quyển sách và đặt trước nhan Ðức Chúa. Rồi ông Sa-mu-en cho toàn dân ai nấy về nhà mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ông Sa-un cũng đi về nhà ở Ghíp-a. Cùng đi với ông có những người can đảm đã được Ðức Chúa cảm hoá tâm hồn. <sup>27</sup> Nhưng có những tên vô lại đã nói: &#8220;Làm sao hắn cứu chúng ta được?&#8221; Chúng coi thường ông và không đem quà biếu ông. Nhưng ông làm như không nghe thấy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thắng người Am-mon</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Na-khát, người Am-mon, lên bao vây thành Gia-vết, miền Ga-la-át. Mọi người Gia-vết nói với Na-khát: &#8220;Xin ông lập giao ước với chúng tôi, và chúng tôi sẽ làm tôi ông.&#8221; <sup>2</sup> Na-khát, người Am-mon, nói với họ: &#8220;Ta sẽ lập giao ước với các ngươi với điều kiện này là ta sẽ chọc thủng mắt phải của tất cả các ngươi. Ta sẽ bắt toàn thể Ít-ra-en phải chịu điều sỉ nhục đó.&#8221; <sup>3</sup> Các kỳ mục Gia-vết nói với ông: &#8220;Xin để cho chúng tôi bảy ngày. Chúng tôi sẽ sai sứ giả đi khắp lãnh thổ Ít-ra-en, và nếu không có ai cứu chúng tôi, thì chúng tôi sẽ ra hàng ông.&#8221; <sup>4</sup> Các sứ giả đến Ghíp-a, thành của ông Sa-un, và nói những lời ấy cho dân nghe. Toàn dân oà lên khóc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Và này ông Sa-un từ ngoài đồng về theo sau đàn bò. Ông hỏi: &#8220;Có gì mà dân khóc vậy? &#8221; Họ kể lại cho ông những lời người Gia-vết nói. <sup>6</sup> Khi ông Sa-un nghe những lời ấy, thần khí của Ðức Chúa nhập vào ông, và ông bừng bừng nổi giận. <sup>7</sup> Ông bắt một cặp bò, xả thịt và gửi các sứ giả mang đi khắp lãnh thổ Ít-ra-en với lời này: &#8220;Ai không theo Sa-un và Sa-mu-en ra trận, thì bò của nó sẽ bị như thế này.&#8221; Ðức Chúa gieo kinh hoàng xuống trên dân, và họ đã ra trận, muôn người như một. <sup>8</sup> Ông Sa-un duyệt binh tại Be-déc: Con cái Ít-ra-en là ba trăm ngàn và người Giu-đa là ba mươi ngàn. <sup>9</sup> Ông nói với các sứ giả đã đến: &#8220;Các ông hãy nói với người Gia-vết thế này: Ngày mai, vào lúc mặt trời nóng nhất, anh em sẽ được cứu viện.&#8221; Các sứ giả về báo tin cho người Gia-vết, khiến họ vui mừng. <sup>10</sup> Người Gia-vết nói với Na-khát: &#8220;Ngày mai, chúng tôi sẽ ra hàng các ông, và các ông cứ xử với chúng tôi theo mọi điều các ông coi là tốt.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Hôm sau, ông Sa-un chia dân ra thành ba cánh quân. Họ vào giữa trại khi gần sáng và đánh người Am-mon cho đến lúc nóng nực nhất trong ngày. Những tên sống sót thì tán loạn không còn có lấy hai tên ở với nhau.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-un được tôn làm vua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Dân nói với ông Sa-mu-en: &#8220;Ai là người nói: &#8220;Sa-un mà lại làm vua cai trị chúng tôi sao&#8221;? Các ông hãy nộp chúng cho chúng tôi xử tử.&#8221; <sup>13</sup> Ông Sa-un nói: &#8220;Không ai sẽ bị xử tử hôm nay, vì hôm nay Ðức Chúa đã chiến thắng tại Ít-ra-en.&#8221; <sup>14</sup> Ông Sa-mu-en nói với dân: &#8220;Nào, chúng ta đi Ghin-gan và khai mạc vương quyền mới ở đó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Toàn dân đi Ghin-gan. Ở đó, trước nhan Ðức Chúa, tại Ghin-gan, họ đã tôn ông Sa-un làm vua, và ở đó họ dâng những hy lễ kỳ an trước nhan Ðức Chúa. Ở đó, ông Sa-un và mọi người Ít-ra-en đã liên hoan tưng bừng.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en nhường chỗ cho ông Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sa-mu-en nói với toàn thể Ít-ra-en: &#8220;Ðây tôi đã nghe theo tiếng của anh em trong mọi điều anh em nói với tôi, và tôi đã đặt một vua cai trị anh em. <sup>2</sup> Bây giờ, đây là vua dẫn đầu anh em. Phần tôi, tôi đã già nua tóc bạc, và các con trai tôi, chúng đang ở giữa anh em đó. Tôi đã dẫn đầu anh em, từ lúc tôi còn trẻ cho đến hôm nay. <sup>3</sup> Này tôi đây. Hãy cáo tội tôi trước mặt Ðức Chúa và trước mặt vị Người đã xức dầu tấn phong: tôi đã lấy bò của ai, lấy lừa của ai? Tôi đã bóc lột ai, áp bức ai? Tôi đã nhận quà đút lót từ tay ai để nhắm mắt làm ngơ cho nó? Tôi sẽ trả lại cho anh em.&#8221; <sup>4</sup> Họ trả lời: &#8220;Ông đã không bóc lột chúng tôi, không áp bức chúng tôi, không lấy cái gì từ tay ai.&#8221; <sup>5</sup> Ông nói với họ: &#8220;Có Ðức Chúa làm chứng trước mặt anh em, và có vị Người đã xức dầu tấn phong cũng làm chứng hôm nay, rằng anh em đã không tìm thấy gì nơi tay tôi.&#8221; Họ trả lời: &#8220;Vâng, có Người làm chứng.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Sa-mu-en nói với dân: &#8220;Phải, chính Thiên Chúa, Ðấng đã cho ông Mô-sê và ông A-ha-ron xuất hiện và đã đưa cha ông anh em lên từ đất Ai-cập. <sup>7</sup> Bây giờ, anh em hãy đứng đây, để tôi tranh tụng với anh em trước mặt Ðức Chúa về mọi hồng ân Ðức Chúa đã ban cho anh em và cha ông anh em. <sup>8</sup> Sau khi ông Gia-cóp vào Ai-cập, thì cha ông anh em đã kêu gào lên Ðức Chúa, và Ðức Chúa đã sai ông Mô-sê và ông A-ha-ron đến; các ông đã đưa cha ông anh em ra khỏi Ai-cập và định cư họ ở nơi này. <sup>9</sup> Nhưng họ đã quên Ðức Chúa, Thiên Chúa của họ, nên Người đã trao họ vào tay Xi-xơ-ra, tổng chỉ huy quân đội thành Kha-xo, vào tay người Phi-li-tinh và vào tay vua Mô-áp, và chúng đã giao tranh với họ. <sup>10</sup> Họ đã kêu lên Ðức Chúa và nói: &#8220;Chúng tôi đã phạm tội, vì chúng tôi đã bỏ Ðức Chúa, đã phụng thờ các thần Ba-an và các nữ thần Át-tô-rét. Giờ đây, xin giải thoát chúng tôi khỏi tay quân thù và chúng tôi sẽ phụng thờ Ngài. <sup>11</sup> Ðức Chúa đã sai các ông Giơ-rúp-ba-an, Bơ-đan, Gíp-tác và Sa-mu-en đến; Người đã giải thoát anh em khỏi tay thù địch chung quanh và anh em đã được sống yên hàn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> &#8220;Nhưng khi anh em thấy Na-khát, vua của con cái Am-mon, đến đánh anh em, thì anh em đã nói với tôi: &#8220;Không! Phải có một vua cai trị chúng tôi! Trong khi chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là vua anh em. <sup>13</sup> Bây giờ, đây là vua anh em đã chọn, đã xin; Ðức Chúa đã ban một vua cai trị anh em đó. <sup>14</sup> Nếu anh em kính sợ Ðức Chúa và phụng thờ Người, nếu anh em nghe theo tiếng Người và không cưỡng lệnh Ðức Chúa, thì cả anh em, cả vua của anh em sẽ theo Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. <sup>15</sup> Nhưng nếu anh em không nghe theo tiếng Ðức Chúa, nếu anh em cưỡng lệnh Ðức Chúa, thì bàn tay Ðức Chúa sẽ đè trên anh em cũng như trên cha ông anh em.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Bây giờ, một lần nữa, hãy đứng đây và xem điều vĩ đại Ðức Chúa sắp thực hiện trước mắt anh em. <sup>17</sup> Hiện nay đang là mùa gặt lúa mì phải không? Tôi sẽ kêu cầu Ðức Chúa và Người sẽ cho sấm nổ mưa rơi. Anh em hãy hiểu và thấy rằng anh em đã làm một điều rất xấu xa trái mắt Ðức Chúa, khi đòi có vua.&#8221; <sup>18</sup> Ông Sa-mu-en kêu cầu Ðức Chúa và Người cho sấm nổ mưa rơi ngày hôm đó. Toàn dân rất kính sợ Ðức Chúa và ông Sa-mu-en. <sup>19</sup> Toàn dân nói với ông Sa-mu-en: &#8220;Xin ông cầu nguyện với Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, cho các tôi tớ ông đây, để chúng tôi khỏi chết, vì ngoài mọi tội lỗi của chúng tôi, chúng tôi còn làm thêm điều xấu xa là đòi có vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ông Sa-mu-en nói với dân: &#8220;Ðừng sợ! Chính anh em đã làm tất cả điều xấu xa ấy. Tuy nhiên, anh em đừng có bỏ không theo Ðức Chúa, mà hãy phụng thờ Ðức Chúa hết lòng. <sup>21</sup> Ðừng có bỏ mà theo những cái hư không, chúng chẳng ích gì và chẳng giải thoát được ai, vì chúng chỉ là hư không. <sup>22</sup> Thật vậy, Ðức Chúa sẽ không bỏ rơi dân Người, vì danh vĩ đại của Người, vì Ðức Chúa đã muốn làm cho anh em thành dân của Người. <sup>23</sup> Phần tôi, không đời nào tôi phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa là thôi cầu nguyện cho anh em. Tôi sẽ cho anh em biết đường ngay nẻo chính. <sup>24</sup> Chỉ có một điều là anh em hãy kính sợ Ðức Chúa và trung tín phụng thờ Người hết lòng: anh em hãy xem việc vĩ đại Người đã làm giữa anh em. <sup>25</sup> Nhưng nếu anh em cứ làm điều xấu xa, thì cả anh em lẫn vua của anh em sẽ bị huỷ diệt.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Những Năm Ðầu Của Triều Ðại Sa-Un</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nổi dậy chống người Phi-li-tinh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sa-un được&#8230; tuổi khi lên làm vua, và ông đã làm vua cai trị Ít-ra-en được hai năm. <sup>2</sup> Vua Sa-un chọn lấy ba ngàn người Ít-ra-en: hai ngàn ở với vua Sa-un tại Mích-mát và trong núi Bết Ên, một ngàn ở với ông Giô-na-than tại Ghíp-a thuộc Ben-gia-min, số còn lại trong dân thì vua cho ai nấy về lều mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ông Giô-na-than hạ viên trấn thủ Phi-li-tinh ở Ghe-va và người Phi-li-tinh nghe biết. Vua Sa-un cho thổi tù và trong toàn xứ. Ông nói: &#8220;Các người Híp-ri hãy nghe đây!&#8221; <sup>4</sup> Toàn thể Ít-ra-en nghe tin rằng: vua Sa-un đã hạ viên trấn thủ Phi-li-tinh, và Ít-ra-en cũng đã trở nên đáng ghét đối với người Phi-li-tinh. Dân liền tập hợp lại sau lưng vua Sa-un ở Ghin-gan. <sup>5</sup> Người Phi-li-tinh họp nhau lại để giao tranh với Ít-ra-en. Chúng có ba ngàn chiến xa, sáu ngàn kỵ binh và quân đông như cát ngoài bãi biển. Chúng lên đóng trại ở Mích-mát, về phía đông Bết A-ven. <sup>6</sup> Người Ít-ra-en thấy mình lâm cảnh ngặt nghèo vì dân bị siết chặt. Dân trốn vào trong các hang, động, khe đá, hầm hố và hồ chứa nước. <sup>7</sup> Người Híp-ri đi qua sông Gio-đan sang đất Gát và Ga-la-át.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en đoạn giao với vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua Sa-un vẫn còn ở Ghin-gan và sau lưng vua toàn dân run sợ. <sup>8</sup> Vua đợi bảy ngày, theo thời hạn ông Sa-mu-en đã ấn định, nhưng ông Sa-mu-en không đến Ghin-gan, và dân bỏ vua Sa-un đi tản mác. <sup>9</sup> Vua Sa-un bảo: &#8220;Hãy đem lễ vật toàn thiêu và những lễ vật kỳ an đến cho ta.&#8221; Và vua đã dâng lễ toàn thiêu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Vua vừa dâng lễ toàn thiêu xong, thì này ông Sa-mu-en đến. Vua Sa-un ra đón chào ông. <sup>11</sup> Ông Sa-mu-en hỏi: &#8220;Ngài đã làm gì thế?&#8221; Vua Sa-un trả lời: &#8220;Khi tôi thấy dân bỏ tôi đi tản mác, còn ông lại không đến đúng thời hạn và người Phi-li-tinh họp nhau ở Mích-mát, <sup>12</sup> thì tôi đã tự bảo: &#8220;Bây giờ người Phi-li-tinh sắp kéo xuống Ghin-gan đánh tôi mà tôi không làm cho nét mặt Ðức Chúa dịu lại, nên buộc lòng tôi phải dâng lễ toàn thiêu.&#8221; <sup>13</sup> Ông Sa-mu-en nói với vua Sa-un: &#8220;Ngài đã hành động ngu xuẩn! Ngài đã không giữ mệnh lệnh Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, đã truyền. Nếu ngài đã giữ thì bây giờ Ðức Chúa đã làm cho vương quyền của ngài được vững bền mãi mãi. <sup>14</sup> Nhưng bây giờ vương quyền của ngài sẽ không đứng vững. Ðức Chúa đã tìm cho mình một kẻ như lòng Người mong muốn, và Ðức Chúa đã đặt kẻ ấy làm người lãnh đạo dân Người, bởi vì ngài đã không giữ điều Ðức Chúa truyền cho ngài.&#8221; <sup>15</sup> Ông Sa-mu-en đứng dậy và từ Ghin-gan lên Ghíp-a thuộc Ben-gia-min. Vua Sa-un duyệt đám quân binh đang ở với vua: khoảng sáu trăm người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuẩn bị giao chiến</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Vua Sa-un, ông Giô-na-than, con vua, và đám quân binh đang ở với hai ông thì giữ Ghe-va thuộc Ben-gia-min, còn người Phi-li-tinh thì đóng trại ở Mích-mát. <sup>17</sup> Ðạo quân tiễu trừ, chia thành ba toán, xuất phát từ trại Phi-li-tinh: một toán đi về hướng Óp-ra, ở xứ Su-an, <sup>18</sup> một toán đi về hướng Bết Khô-rôn, một toán đi về hướng ranh giới ở bên trên thung lũng Linh Cẩu, về phía sa mạc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Bấy giờ trong toàn đất Ít-ra-en không tìm được một thợ rèn, vì người Phi-li-tinh đã tự bảo: &#8220;Không thể để bọn Híp-ri chế tạo gươm hay giáo.&#8221; <sup>20</sup> Toàn thể người Ít-ra-en xuống chỗ người Phi-li-tinh để rèn, người thì lưỡi cày, kẻ thì cái cuốc, cái rìu hay cái đục. <sup>21</sup> Giá tiền công là hai chỉ bạc cho lưỡi cày và cái cuốc, một chỉ bạc để mài rìu và sửa gậy thúc bò. <sup>22</sup> Vì vậy trong ngày giao tranh, không tìm được một cây gươm cây giáo ở tay người nào thuộc đám quân binh đang ở với vua Sa-un và ông Giô-na-than. Chỉ vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua, mới có.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Người Phi-li-tinh ra đóng đồn trên ải Mích-mát.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-na-than tấn công đồn Phi-li-tinh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Một hôm, ông Giô-na-than, con vua Sa-un, bảo người hầu cận: &#8220;Nào đi, ta sang đồn người Phi-li-tinh ở bên kia.&#8221; Nhưng ông không báo cho cha ông biết. <sup>2</sup> Vua Sa-un bấy giờ đang ngồi ở ranh giới Ghíp-a, dưới cây lựu ở Mích-rôn, và đám quân binh đang ở với vua khoảng sáu trăm người. <sup>3</sup> Ông A-khi-gia, con ông A-khi-túp, lúc ấy mang ê-phốt; ông A-khi-túp là anh ông I-kha-vót; ông I-kha-vót là con ông Pin-khát; ông Pin-khát là con ông Ê-li, tư tế của Ðức Chúa ở Si-lô. Quân binh không biết là ông Giô-na-than đã đi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Trên những ải mà ông Giô-na-than tìm cách vượt qua để tới đồn Phi-li-tinh, có hai đỉnh đá nhọn, một đỉnh bên này, một đỉnh bên kia; một đỉnh tên là Bô-xét, một đỉnh tên là Xen-ne; <sup>5</sup> một đỉnh đứng phía bắc, đối diện với Mích-mát, một đỉnh đứng phía nam, đối diện với Ghe-va. <sup>6</sup> Ông Giô-na-than bảo người hầu cận: &#8220;Nào ta sang phía đồn bọn không cắt bì kia. Biết đâu Ðức Chúa sẽ hành động giúp ta, vì không gì ngăn cản Ðức Chúa cứu, dù số người nhiều hay ít.&#8221; <sup>7</sup> Người hầu cận nói: &#8220;Ông nghĩ gì trong lòng thì hãy làm như vậy. Ông cứ đi, tôi đây xin một lòng theo ông.&#8221; <sup>8</sup> Ông Giô-na-than nói: &#8220;Này ta sang phía bọn người ấy, và sẽ để chúng thấy ta. <sup>9</sup> Nếu chúng bảo: &#8220;Ðứng lại! Ðợi chúng tao đến chỗ chúng mày đã&#8221;, thì ta sẽ đứng tại chỗ và sẽ không lên phía chúng. <sup>10</sup> Nhưng nếu chúng bảo: &#8220;Lên đây với chúng tao! , thì ta sẽ lên, vì Ðức Chúa đã trao chúng vào tay ta. Ðó là dấu hiệu cho ta.&#8221; <sup>11</sup> Vậy cả hai người để đồn Phi-li-tinh thấy mình. Người Phi-li-tinh nói: &#8220;Kìa bọn Híp-ri đang chui ra khỏi hang hốc chúng trốn.&#8221; <sup>12</sup> Những người trong đồn nói với ông Giô-na-than và người hầu cận: &#8220;Lên đây với chúng tao, chúng tao sẽ cho chúng mày biết tay!&#8221; Ông Giô-na-than nói với người hầu cận: &#8220;Hãy lên theo tôi, vì Ðức Chúa đã trao chúng vào tay Ít-ra-en.&#8221; <sup>13</sup> Ông Giô-na-than dùng cả tay cả chân mà leo lên, còn người hầu cận thì theo sau. Chúng ngã gục trước mặt ông Giô-na-than, và người hầu cận đằng sau ông kết liễu đời chúng. <sup>14</sup> Ðòn đầu tiên mà ông Giô-na-than và người hầu cận giáng xuống, đã giết chừng hai mươi người, trên diện tích bằng nửa luống cày của một sào đất.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc chiến lan rộng</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Sự kinh hãi lan rộng khắp nơi: trong trại, ngoài đồng và trong toàn dân. Ðồn binh và đạo quân tiễu trừ cũng kinh hãi. Ðất rung chuyển và đó là một sự kinh hãi Thiên Chúa gieo xuống. <sup>16</sup> Lính canh của vua Sa-un tại Ghíp-a thuộc Ben-gia-min quan sát và thấy đám đông chạy tán loạn. <sup>17</sup> Vua Sa-un nói với dân đang ở với mình: &#8220;Hãy điểm quân và xem ai đã bỏ đây mà đi.&#8221; Họ điểm quân và thấy thiếu ông Giô-na-than và người hầu cận của ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Vua Sa-un nói với ông A-khi-gia: &#8220;Hãy đem Hòm Bia Thiên Chúa lại gần&#8221;, vì hồi ấy Hòm Bia Thiên Chúa ở với con cái Ít-ra-en. <sup>19</sup> Ðang khi vua Sa-un nói với tư tế thì trại Phi-li-tinh mỗi lúc một thêm náo động. Vua Sa-un nói với tư tế: &#8220;Rút tay lại!&#8221; <sup>20</sup> Vua Sa-un và tất cả quân binh đang ở với vua tập hợp lại và ra chiến trường: kìa chúng rút gươm chém nhau và vô cùng hoảng sợ. <sup>21</sup> Những người Híp-ri trước đó đã theo người Phi-li-tinh và lên trại với chúng, cũng trở mặt mà theo người Ít-ra-en đang ở với vua Sa-un và ông Giô-na-than. <sup>22</sup> Tất cả những người Ít-ra-en đã trốn lên núi Ép-ra-im, nghe tin người Phi-li-tinh chạy trốn, cũng đuổi theo sát gót mà đánh. <sup>23</sup> Ngày ấy Ðức Chúa đã cứu Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-na-than vi phạm một lệnh cấm của vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Cuộc giao tranh vượt quá Bết A-ven. <sup>24</sup> Ngày đó người Ít-ra-en mệt lử, vì vua Sa-un đã ràng buộc dân bằng lời thề nguyền sau đây: &#8220;Khốn cho kẻ nào ăn gì từ bây giờ cho đến chiều, trước khi ta trả thù xong các kẻ thù của ta!&#8221; Toàn dân không ai nếm một chút gì.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Toàn dân trong xứ vào rừng. Trên mặt đất có mật ong. <sup>26</sup> Dân vào rừng, và kìa có mật ong đang chảy; nhưng không ai dám nhúng tay vào đưa lên miệng, vì dân sợ lời thề. <sup>27</sup> Ông Giô-na-than đã không nghe thấy cha ông bắt dân thề. Ông nhúng đầu cây gậy đang cầm trong tay vào tầng mật ong rồi đưa tay lên miệng; mắt ông liền sáng ra. <sup>28</sup> Bấy giờ một người trong dân lên tiếng nói: &#8220;Cha ông đã long trọng bắt dân thề và nói: &#8220;Khốn cho kẻ nào ăn gì hôm nay. Và dân đã kiệt sức.&#8221; <sup>29</sup> Ông Giô-na-than nói: &#8220;Cha tôi đã gây tai hoạ cho xứ sở. Anh em coi: mắt tôi sáng ra vì tôi đã nếm chút mật này. <sup>30</sup> Giả như hôm nay dân đã được ăn phần chiến lợi phẩm tìm thấy nơi quân thù, thì có phải là đòn giáng xuống người Phi-li-tinh đã mạnh hơn không?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân phạm lỗi về nghi thức</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Hôm ấy họ đánh người Phi-li-tinh từ Mích-mát đến Ai-gia-lôn. Dân đã kiệt sức, <sup>32</sup> nên xông vào lấy chiến lợi phẩm: họ bắt chiên dê, bò bê, giết ngay trên đất và ăn thịt có máu. <sup>33</sup> Người ta báo tin cho vua Sa-un rằng: &#8220;Kìa dân đang phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa là ăn thịt có máu.&#8221; Vua nói: &#8220;Các người đã phản bội. Hãy lập tức vần đến cho ta một tảng đá lớn!&#8221; <sup>34</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Hãy chia nhau đi đến với dân và bảo họ mỗi người phải đem lại cho ta con bò hay con chiên, con dê của mình. Các người phải giết nó ở đây và ăn thịt, và đừng phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa là ăn thịt có máu.&#8221; Ðêm ấy, toàn dân mỗi người đem đến con bò họ có trong tay và họ giết tại đó. <sup>35</sup> Vua Sa-un dựng một bàn thờ để kính Ðức Chúa: đó là bàn thờ đầu tiên ông dựng để kính Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-na-than có lỗi nhưng được dân cứu</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Chúng ta hãy xuống đuổi theo người Phi-li-tinh ban đêm, và hãy cướp phá chúng cho đến khi trời sáng, đừng để cho một tên nào sống sót.&#8221; Họ nói: &#8220;Ðiều ngài cho là tốt, xin ngài cứ làm.&#8221; Vị tư tế nói: &#8220;Chúng ta hãy lại gần Thiên Chúa, ngay tại chỗ này.&#8221; <sup>37</sup> Vua Sa-un thỉnh ý Thiên Chúa: &#8220;Con có nên xuống đuổi theo người Phi-li-tinh không? Ngài có trao chúng vào tay người Ít-ra-en không?&#8221; Nhưng ngày hôm ấy Người không trả lời vua. <sup>38</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Tất cả các cột trụ của dân, hãy lại gần đây, hãy xem xét cho kỹ tội của ngày hôm nay là ở chỗ nào. <sup>39</sup> Có Ðức Chúa hằng sống, Ðấng cứu Ít-ra-en! Dù là chính Giô-na-than, con ta, thì chắc chắn nó cũng sẽ phải chết.&#8221; Toàn dân không có ai trả lời vua. <sup>40</sup> Vua nói với toàn thể Ít-ra-en: &#8220;Các người hãy ở một bên, còn ta và Giô-na-than, con ta, sẽ ở một bên.&#8221; Toàn dân nói với vua Sa-un: &#8220;Ðiều ngài coi là tốt, xin ngài cứ làm.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Vua Sa-un thưa với Ðức Chúa: &#8220;Lạy Thiên Chúa của Ít-ra-en, xin cho biết đầy đủ.&#8221; Ông Giô-na-than và vua Sa-un bị trúng thăm, còn dân thì thoát. <sup>42</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Hãy rút thăm giữa ta và Giô-na-than, con ta.&#8221; Ông Giô-na-than bị trúng thăm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Vua Sa-un bảo ông Giô-na-than: &#8220;Hãy kể cho cha biết con đã làm gì.&#8221; Ông Giô-na-than kể cho cha biết, ông nói: &#8220;Quả con đã có nếm chút mật ở đầu chiếc gậy con cầm ở tay. Con đây, con sẵn sàng chết.&#8221; <sup>44</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Xin Thiên Chúa phạt tôi thế này, và còn thêm thế kia nữa! &#8230; Ðúng chắc chắn con sẽ phải chết, Giô-na-than ơi!&#8221; <sup>45</sup> Dân nói với vua Sa-un: &#8220;Sao? Ông Giô-na-than, người đã thực hiện cuộc chiến thắng vĩ đại này trong Ít-ra-en, mà phải chết ư? Không đời nào! Có Ðức Chúa hằng sống. Không một sợi tóc nào trên đầu Giô-na-than sẽ rụng xuống đất, vì hôm nay ông đã hành động cùng với Thiên Chúa.&#8221; Thế là dân đã giải thoát ông Giô-na-than và ông không phải chết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Vua Sa-un đi lên, không đuổi theo người Phi-li-tinh nữa; còn người Phi-li-tinh thì về xứ mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tóm tắt về triều đại vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Khi vua Sa-un nắm được vương quyền cai trị Ít-ra-en, vua giao chiến với mọi kẻ thù tứ phía: với Mô-áp, với con cái Am-mon, với Ê-đôm, với các vua Xô-va, với người Phi-li-tinh; quay về phía nào, vua cũng thắng. <sup>48</sup> Vua biểu dương sức mạnh, đánh người A-ma-lếch và giải thoát Ít-ra-en khỏi tay kẻ cướp phá họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Các con trai vua Sa-un là ông Giô-na-than, ông Gít-vi và ông Man-ki Su-a; còn các con gái vua, thì cô chị tên là Mê-ráp, cô em tên là Mi-khan. <sup>50</sup> Vợ vua Sa-un tên là A-khi-nô-am, con gái ông A-khi-ma-át. Tướng chỉ huy quân đội của vua tên là Áp-ne, con ông Ne, ông này là chú vua Sa-un. <sup>51</sup> Ông Kít, cha vua Sa-un, và ông Ne, cha ông Áp-ne, đều là con ông A-vi-ên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> Suốt đời vua Sa-un, luôn có chiến tranh kịch liệt với người Phi-li-tinh. Hễ thấy ai là dũng sĩ hay người can đảm, thì vua Sa-un đều thu dụng.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thánh chiến chống người A-ma-lếch</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sa-mu-en nói với vua Sa-un: &#8220;Tôi đã được Ðức Chúa sai đến xức dầu tấn phong ngài làm vua cai trị dân Người là Ít-ra-en. Giờ đây ngài hãy nghe những lời Ðức Chúa phán. <sup>2</sup> Ðức Chúa các đạo binh phán thế này: Ta sắp hạch tội A-ma-lếch về cách nó đã đối xử với Ít-ra-en khi chặn đường Ít-ra-en đang từ Ai-cập lên. <sup>3</sup> Giờ đây, ngươi hãy đi đánh A-ma-lếch. Các ngươi phải tru hiến tất cả những gì thuộc về nó. Ngươi không được tha chết cho nó. Ngươi phải giết từ đàn ông đến đàn bà, từ nhi đồng đến trẻ con đang bú, từ bò đến chiên dê, từ lạc đà đến lừa.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vua Sa-un triệu tập dân và duyệt binh tại Tơ-la-im: hai trăm ngàn bộ binh và mười ngàn người Giu-đa. <sup>5</sup> Vua Sa-un đến thành của A-ma-lếch và mai phục trong thung lũng. <sup>6</sup> Vua Sa-un nói với người Kê-ni: &#8220;Các người hãy đi, hãy ly khai, hãy bỏ hàng ngũ người A-ma-lếch, kẻo ta cũng coi các người như bọn chúng, vì các người đã lấy tình mà đối xử với toàn thể con cái Ít-ra-en khi họ ra khỏi Ai-cập.&#8221; Người Kê-ni liền ly khai hàng ngũ A-ma-lếch.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Vua Sa-un đã đánh A-ma-lếch từ Kha-vi-la cho đến Sua, <sup>8</sup> bắt sống A-gác, vua A-ma-lếch, và dùng lưỡi gươm mà tru hiến toàn dân. <sup>9</sup> Nhưng vua Sa-un và toàn dân đã tha chết cho A-gác, cho những con tốt nhất trong đoàn chiên dê và bò, các con mập, các chiên con và tất cả những gì tốt; họ không muốn tru hiến chúng. Còn tất cả các con vật xấu xí và vô giá trị, thì họ đã tru hiến.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-un bị Ðức Chúa từ bỏ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Có lời Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en rằng: <sup>11</sup> &#8220;Ta hối hận đã đặt Sa-un làm vua, vì nó đã bỏ không theo Ta và không thi hành các lệnh của Ta.&#8221; Ông Sa-mu-en buồn bực, và suốt đêm ông kêu lên Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Sáng hôm sau, ông Sa-mu-en dậy sớm để đi gặp vua Sa-un. Người ta báo tin cho ông Sa-mu-en rằng: &#8220;Vua Sa-un đã đi Các-men, đã dựng một đài kỷ niệm, rồi bỏ nơi đó, đi xa hơn, và xuống Ghin-gan.&#8221; <sup>13</sup> Ông Sa-mu-en đến với vua Sa-un. Vua Sa-un nói: &#8220;Xin Ðức Chúa chúc phúc cho ông. Tôi đã thi hành lệnh của Ðức Chúa.&#8221; <sup>14</sup> Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Thế thì tiếng chiên dê bên tai tôi và tiếng bò rống tôi nghe là gì vậy?&#8221; <sup>15</sup> Vua Sa-un trả lời: &#8220;Người ta đã đưa chúng từ nơi người A-ma-lếch về, vì dân đã tha chết cho những con tốt nhất trong đàn chiên dê và bò, để làm hy lễ dâng Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông; những con còn lại, chúng tôi đã tru hiến.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Sa-mu-en nói với vua Sa-un: &#8220;Thôi! Tôi sẽ báo cho ngài biết điều Ðức Chúa đã phán với tôi đêm qua.&#8221; Vua Sa-un bảo: &#8220;Xin ông cứ nói.&#8221; <sup>17</sup> Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Dù ngài tự coi mình là nhỏ bé, ngài chẳng phải là đầu của các chi tộc Ít-ra-en sao? Ðức Chúa đã xức dầu phong ngài làm vua cai trị Ít-ra-en. <sup>18</sup> Ðức Chúa đã sai ngài lên đường và phán: &#8220;Hãy đi, ngươi phải tru hiến quân tội lỗi là bọn A-ma-lếch ấy, và phải giao chiến với chúng cho đến khi tận diệt chúng. <sup>19</sup> Tại sao ngài đã không nghe theo tiếng Ðức Chúa? Tại sao ngài đã xông vào lấy chiến lợi phẩm và làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa?&#8221; <sup>20</sup> Vua Sa-un nói với ông Sa-mu-en: &#8220;Tôi đã nghe theo tiếng Ðức Chúa. Tôi đã đi theo con đường Ðức Chúa sai tôi đi. Tôi đã đưa A-gác, vua A-ma-lếch, về và đã tru hiến A-ma-lếch. <sup>21</sup> Trong số chiến lợi phẩm là chiên dê và bò, trong số những vật bị tru hiến, dân đã lấy những con tốt nhất để làm hy lễ dâng Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, tại Ghin-gan.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Sa-mu-en nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ðức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">như ưa thích người ta vâng lời Ðức Chúa không?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Phản nghịch cũng có tội như bói toán,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngoan cố là tội ác giống như thờ ngẫu tượng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Bởi vì ngài đã gạt bỏ lời của Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nên Người đã gạt bỏ ngài, không cho làm vua nữa.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua Sa-un xin tha thứ nhưng không được</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vua Sa-un nói với ông Sa-mu-en: &#8220;Tôi đã phạm tội, vì đã vi phạm lệnh Ðức Chúa và các lời của ông. Lý do là vì tôi đã sợ dân và nghe theo tiếng họ. <sup>25</sup> Giờ đây, xin ông vui lòng tha tội cho tôi và trở lại cùng với tôi, để tôi phục xuống lạy Ðức Chúa.&#8221; <sup>26</sup> Ông Sa-mu-en trả lời vua Sa-un: &#8220;Tôi sẽ không trở lại cùng với ngài, vì ngài đã gạt bỏ lời Ðức Chúa; Ðức Chúa đã gạt bỏ ngài, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa.&#8221; <sup>27</sup> Khi ông Sa-mu-en quay mặt để đi thì vua Sa-un níu vạt áo khoác của ông và áo bị giật rách. <sup>28</sup> Ông Sa-mu-en nói với vua: &#8220;Hôm nay Ðức Chúa đã giật vương quyền Ít-ra-en ra khỏi ngài và đã ban cho một người khác tốt hơn ngài. <sup>29</sup> Ðấng là Vinh Dự của Ít-ra-en không lừa dối cũng không hối hận, vì Người đâu phải là con người để mà hối hận.&#8221; <sup>30</sup> Vua nói: &#8220;Tôi đã phạm tội, nhưng giờ đây xin ông kính trọng tôi trước mặt các kỳ mục trong dân của tôi và trước mặt Ít-ra-en. Xin ông trở lại cùng với tôi để tôi phục xuống lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông.&#8221; <sup>31</sup> Ông Sa-mu-en trở lại, theo sau vua Sa-un, và vua Sa-un đã phục xuống lạy Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua A-gác bị giết. Ông Sa-mu-en ra đi.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Hãy đem A-gác, vua A-ma-lếch lại cho tôi.&#8221; A-gác vui vẻ đến với ông và nói: &#8220;Hẳn là ta thoát được cái chết cay đắng.&#8221; <sup>33</sup> Ông Sa-mu-en nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Cũng như gươm của ngươi đã cướp con của những người đàn bà,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì giữa các người đàn bà,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mẹ ngươi cũng sẽ bị cướp con như vậy!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Rồi ông Sa-mu-en xé xác A-gác trước nhan Ðức Chúa, tại Ghin-gan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ông Sa-mu-en đi Ra-ma, còn vua Sa-un lên nhà mình tại Ghíp-a, thành của vua Sa-un. <sup>35</sup> Cho đến chết, ông Sa-mu-en không gặp lại vua Sa-un nữa: ông Sa-mu-en khóc thương vua Sa-un, vì Ðức Chúa hối hận đã đặt Sa-un làm vua cai trị Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Vua Sa-Un Và Ông Ða-Vít</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Ông Ða-Vít Trong Triều Ðình</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít được xức dầu phong vương</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: &#8220;Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.&#8221; <sup>2</sup> Ông Sa-mu-en thưa: &#8220;Con đi thế nào được? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con! &#8221; Ðức Chúa phán: &#8220;Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói: &#8220;Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên Ðức Chúa. <sup>3</sup> Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ông Sa-mu-en làm điều Ðức Chúa đã phán; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói: &#8220;Ông đến có phải là để đem bình an không?&#8221; <sup>5</sup> Ông trả lời: &#8220;Bình an! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên Ðức Chúa. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi.&#8221; Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: &#8220;Ðúng rồi! Người Ðức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Ðức Chúa đây!&#8221; <sup>7</sup> Nhưng Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: &#8220;Ðừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Ðức Chúa thì thấy tận đáy lòng.&#8221; <sup>8</sup> Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: &#8220;Cả người này, Ðức Chúa cũng không chọn.&#8221; <sup>9</sup> Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: &#8220;Cả người này, Ðức Chúa cũng không chọn.&#8221; <sup>10</sup> Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: &#8220;Ðức Chúa không chọn những người này.&#8221; <sup>11</sup> Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: &#8220;Các con ông có mặt đầy đủ chưa?&#8221; Ông Gie-sê trả lời: &#8220;Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.&#8221; Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: &#8220;Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.&#8221; <sup>12</sup> Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: &#8220;Ðứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!&#8221; <sup>13</sup> Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Ðức Chúa nhập vào Ða-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít vào phục vụ vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Thần khí Ðức Chúa rời khỏi vua Sa-un và một thần khí xấu từ Ðức Chúa đến ám vua. <sup>15</sup> Triều thần nói với vua Sa-un: &#8220;Ngài thấy đó, một thần khí xấu của Thiên Chúa ám ngài. <sup>16</sup> Xin ngài truyền. Bề tôi của ngài đang ở trước mặt ngài: họ sẽ tìm một người biết gảy đàn, và khi thần khí xấu của Thiên Chúa xuống trên ngài, thì người ấy sẽ gảy đàn và ngài sẽ cảm thấy dễ chịu.&#8221; <sup>17</sup> Vua Sa-un nói với triều thần: &#8220;Các người hãy đi tìm cho ta một tay gảy đàn giỏi và đưa đến cho ta.&#8221; <sup>18</sup> Một người trong đám gia nhân thưa rằng: &#8220;Tôi biết ông Gie-sê người Bê-lem, có một người con trai biết gảy đàn. Anh ta là một dũng sĩ can đảm, một chiến binh, một người có tài ăn nói, đẹp trai, và Ðức Chúa ở với anh.&#8221; <sup>19</sup> Vua Sa-un sai sứ giả đến với ông Gie-sê và nói với ông: &#8220;Ngươi hãy gửi cho ta Ða-vít, con ngươi, đứa chăn chiên.&#8221; <sup>20</sup> Ông Gie-sê bắt một con lừa, cho chở bánh, một bầu da rượu, và một con dê con, rồi sai Ða-vít, con ông, mang đến cho vua Sa-un. <sup>21</sup> Ða-vít đến với vua Sa-un và chầu chực trước mặt vua. Vua thương cậu lắm và cậu trở thành người hầu cận của vua. <sup>22</sup> Vua Sa-un sai người đến nói với ông Gie-sê: &#8220;Hãy để Ða-vít chầu chực trước mặt ta, vì nó được đẹp lòng ta.&#8221; <sup>23</sup> Như vậy, khi thần khí Thiên Chúa xuống trên vua Sa-un, thì Ða-vít cầm đàn và gảy. Bấy giờ vua Sa-un nguôi bệnh, cảm thấy dễ chịu, và thần khí xấu rời khỏi vua.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Go-li-át thách thức quân đội Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Phi-li-tinh tập trung quân đội để giao chiến. Chúng tập trung ở Xô-khô thuộc Giu-đa và đóng trại giữa Xô-khô và A-dê-ca, tại E-phét Ðam-mim. <sup>2</sup> Vua Sa-un và người Ít-ra-en cũng tập trung, đóng trại trong thung lũng Cây Vân Hương, và dàn trận đối diện với người Phi-li-tinh. <sup>3</sup> Người Phi-li-tinh đứng trên núi bên này, còn người Ít-ra-en đứng trên núi bên kia, giữa họ là thung lũng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Một đấu thủ từ doanh trại Phi-li-tinh tiến ra. Tên nó là Go-li-át, người thành Gát. Nó cao khoảng ba thước, <sup>5</sup> đầu đội mũ chiến bằng đồng, mình mặc áo giáp vảy cá; áo giáp ấy bằng đồng, nặng năm mươi ký. <sup>6</sup> Chân nó mang tấm che bằng đồng, vai đeo cây lao bằng đồng. <sup>7</sup> Cán giáo của nó như trục khung cửi thợ dệt; và mũi giáo của nó bằng sắt, nặng sáu ký. Ði trước mặt nó là người mang thuẫn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nó đứng lại và gọi hàng ngũ Ít-ra-en. Nó bảo họ: &#8220;Sao chúng bay ra dàn trận? Ta đây chẳng phải là người Phi-li-tinh, còn chúng bay chẳng phải là bề tôi Sa-un sao? Hãy chọn lấy một người và nó hãy xuống đây với ta. <sup>9</sup> Nếu nó đủ mạnh để chiến đấu với ta và hạ được ta, thì chúng tao sẽ làm nô lệ chúng bay. Còn nếu ta mạnh hơn nó và hạ được nó, thì chúng bay sẽ làm nô lệ chúng tao và sẽ hầu hạ chúng tao.&#8221; <sup>10</sup> Tên Phi-li-tinh lại nói: &#8220;Ta đây, hôm nay ta thách hàng ngũ Ít-ra-en: Hãy đưa ra cho ta một người, để chiến đấu tay đôi!&#8221; <sup>11</sup> Khi vua Sa-un và toàn thể Ít-ra-en nghe tên Phi-li-tinh nói những lời ấy thì họ kinh khiếp sợ hãi lắm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít đến trại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ða-vít là con một người Ép-ra-tha ở Bê-lem thuộc Giu-đa; ông này tên là Gie-sê và có tám người con trai. Thời vua Sa-un, ông đã già và giữa người ta, ông là người có tuổi. <sup>13</sup> Ba con trai lớn của ông Gie-sê đã ra đi; họ đi theo vua Sa-un để đánh giặc. Ba con trai của ông đã đi đánh giặc tên là: Ê-li-áp, trưởng nam, A-vi-na-đáp, thứ hai, và Sam-ma, thứ ba. <sup>14</sup> Ða-vít là người nhỏ nhất, ba anh lớn đã đi theo vua Sa-un. <sup>15</sup> Ða-vít đi đi về về từ chỗ vua Sa-un đến Bê-lem, để chăn chiên cho cha. <sup>16</sup> Sáng nào chiều nào tên Phi-li-tinh cũng tiến ra và đứng như thế suốt bốn mươi ngày. <sup>17</sup> Ông Gie-sê bảo Ða-vít, con ông: &#8220;Con mang cho các anh con hai thùng gié lúa rang với mười cái bánh này, và chạy đến trại các anh con. <sup>18</sup> Còn mười miếng bánh sữa này thì con đưa cho viên chỉ huy ngàn quân. Con hãy hỏi thăm sức khoẻ các anh và lấy một vật của các anh làm bằng. <sup>19</sup> Vua Sa-un và các anh con, cũng như toàn thể các người Ít-ra-en, ở thung lũng Cây Vân Hương, đang giao chiến với người Phi-li-tinh.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Sáng hôm sau, Ða-vít dậy sớm, để chiên dê lại cho một người giữ, rồi khăn gói lên đường như ông Gie-sê đã dạy. Cậu đến trại binh lúc quân đội đang ra trận và reo hò giao chiến. <sup>21</sup> Người Ít-ra-en và người Phi-li-tinh dàn quân, trận tuyến đối nhau. <sup>22</sup> Ða-vít để hành lý lại, giao cho người giữ đồ, rồi chạy ra trận tuyến, đến vấn an các anh.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Cậu còn đang nói với họ, thì kìa từ trận tuyến Phi-li-tinh, tên đấu thủ tiến lên, nó là Go-li-át, người Phi-li-tinh, quê ở Gát. Nó nói những lời như trước và Ða-vít nghe thấy. <sup>24</sup> Vừa thấy tên đó, mọi người Ít-ra-en trốn xa nó và sợ hãi lắm. <sup>25</sup> Một người Ít-ra-en nói: &#8220;Anh em có thấy người đang tiến lên đó không? Nó tiến lên là để thách thức Ít-ra-en đấy. Ai mà hạ được nó thì nhà vua sẽ cho của cải dư dật, sẽ gả con gái cho và sẽ cho gia đình người ấy được miễn sưu thuế tại Ít-ra-en.&#8221; <sup>26</sup> Ða-vít hỏi những người đang đứng với cậu rằng: &#8220;Người ta sẽ làm gì cho kẻ hạ được tên Phi-li-tinh ấy và cất nỗi ô nhục khỏi Ít-ra-en? Thật vậy, tên Phi-li-tinh không cắt bì kia là ai mà dám thách thức hàng ngũ của Thiên Chúa Hằng Sống?&#8221; <sup>27</sup> Dân trả lời cậu như trên, họ nói: &#8220;Người ta sẽ làm như thế cho kẻ hạ được nó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ê-li-áp, anh cả của cậu, nghe thấy cậu nói chuyện với những người ấy. Ê-li-áp nổi giận với Ða-vít và nói: &#8220;Mày xuống đây làm gì? Mày bỏ mấy con chiên kia trong sa mạc cho ai? Tao, tao biết mày hỗn láo và xấu bụng: mày xuống chỉ để xem đánh nhau!&#8221; <sup>29</sup> Ða-vít trả lời: &#8220;Em có làm gì đâu? Nói chuyện cũng không được sao?&#8221; <sup>30</sup> Cậu bỏ anh đến với người khác, và cũng hỏi như thế. Người ta cũng trả lời như trước. <sup>31</sup> Người ta đã nghe các lời Ða-vít nói và thuật lại cho vua Sa-un. Vua cho gọi Ða-vít đến.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít tình nguyện nhận lời thách thức</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ða-vít nói với vua Sa-un: &#8220;Ðừng ai ngã lòng vì nó. Tôi tớ ngài đây sẽ đi chiến đấu với tên Phi-li-tinh ấy.&#8221; <sup>33</sup> Vua Sa-un nói với Ða-vít: &#8220;Con không thể đến với tên Phi-li-tinh ấy để chiến đấu với nó, vì con chỉ là một đứa trẻ, còn nó là một chiến binh từ khi còn trẻ.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ða-vít thưa với vua Sa-un: &#8220;Tôi tớ ngài là người chăn chiên dê cho cha. Khi sư tử hay gấu đến tha đi một con chiên trong bầy gia súc, <sup>35</sup> thì con ra đuổi theo nó, đánh nó và giật con chiên khỏi mõm nó. Nó mà chồm lên con, thì con nắm lấy râu nó, đánh cho nó chết. <sup>36</sup> Tôi tớ ngài đã đánh cả sư tử lẫn gấu, thì tên Phi-li-tinh không cắt bì này cũng sẽ như một trong các con vật đó, vì nó đã thách thức các hàng ngũ của Thiên Chúa hằng sống.&#8221; <sup>37</sup> Ða-vít nói: &#8220;Ðức Chúa là Ðấng đã giật con khỏi vuốt sư tử và vuốt gấu, chính Người sẽ giật con khỏi tay tên Phi-li-tinh này.&#8221; Vua Sa-un nói với Ða-vít: &#8220;Con hãy đi, xin Ðức Chúa ở với con!&#8221; <sup>38</sup> Vua Sa-un lấy y phục của mình mặc cho Ða-vít, đội mũ chiến bằng đồng lên đầu và mặc áo giáp cho cậu. <sup>39</sup> Ða-vít đeo gươm của vua ngoài y phục rồi thử bước đi, vì cậu không quen. Ða-vít nói với vua Sa-un: &#8220;Con không thể bước đi với những thứ này được, vì con không quen.&#8221; Rồi Ða-vít bỏ những thứ đó ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc chiến tay đôi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Cậu cầm gậy trong tay, chọn lấy năm hòn đá cuội dưới suối, bỏ vào túi chăn chiên, vào bị của cậu, rồi tay cầm dây phóng đá, cậu tiến về phía tên Phi-li-tinh. <sup>41</sup> Tên Phi-li-tinh từ từ tiến lại gần Ða-vít, đi trước mặt nó là người mang thuẫn. <sup>42</sup> Tên Phi-li-tinh nhìn, và khi thấy Ða-vít, nó khinh dể cậu, vì cậu còn trẻ, có mái tóc hung và đẹp trai. <sup>43</sup> Tên Phi-li-tinh nói với Ða-vít: &#8220;Tao là chó hay sao mà mầy cầm gậy đến với tao?&#8221; Và tên Phi-li-tinh lấy tên các thần của mình mà nguyền rủa Ða-vít. <sup>44</sup> Tên Phi-li-tinh nói với Ða-vít: &#8220;Ðến đây với tao, tao sẽ đem thịt mày làm mồi cho chim trời và dã thú.&#8221; <sup>45</sup> Ða-vít bảo tên Phi-li-tinh: &#8220;Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao. Còn tao, tao đến với mày nhân danh Ðức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Ít-ra-en mà mày thách thức. <sup>46</sup> Ngay hôm nay Ðức Chúa sẽ nộp mày vào tay tao, tao sẽ hạ mày và làm cho đầu mày lìa khỏi thân. Ngay hôm nay tao sẽ đem xác chết của quân đội Phi-li-tinh làm mồi cho chim trời và dã thú. Toàn cõi đất sẽ biết rằng có một Thiên Chúa che chở Ít-ra-en, <sup>47</sup> và toàn thể đại hội này sẽ biết rằng không phải nhờ gươm, nhờ giáo mà Ðức Chúa ban chiến thắng, vì chiến đấu là việc của Ðức Chúa và Người sẽ trao chúng mày vào tay chúng tao!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Khi tên Phi-li-tinh bắt đầu xông lên và đến gần để đương đầu với Ða-vít, thì Ða-vít vội vàng chạy từ trận tuyến ra để đương đầu với tên Phi-li-tinh. <sup>49</sup> Ða-vít thọc tay vào bị, rút từ đó ra một hòn đá, rồi dùng dây phóng mà ném trúng vào trán tên Phi-li-tinh. Hòn đá cắm sâu vào trán, khiến nó ngã sấp mặt xuống đất. <sup>50</sup> Thế là Ða-vít thắng tên Phi-li-tinh nhờ dây phóng và hòn đá. Cậu hạ tên Phi-li-tinh và giết nó. Nhưng trong tay Ða-vít không có gươm. <sup>51</sup> Ða-vít chạy lại, đứng trên xác tên Phi-li-tinh, lấy gươm của nó, rút khỏi bao, kết liễu đời nó và dùng gươm chặt đầu nó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người Phi-li-tinh thấy người hùng của mình đã chết thì chạy trốn. <sup>52</sup> Người Ít-ra-en và Giu-đa xông lên, reo hò và đuổi theo người Phi-li-tinh cho đến lối vào thung lũng và cho đến cửa thành Éc-rôn. Thây người Phi-li-tinh ngã gục trên đường Sa-a-ra-gim, cho đến Gát và Éc-rôn. <sup>53</sup> Sau khi ráo riết đuổi theo người Phi-li-tinh, con cái Ít-ra-en quay trở lại cướp phá trại chúng. <sup>54</sup> Ða-vít lấy đầu tên Phi-li-tinh và đem về Giê-ru-sa-lem; còn các vũ khí của nó thì đặt trong lều mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sau khi chiến thắng, Ða-vít ra trình diện vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>55</sup> Khi vua Sa-un thấy Ða-vít ra đương đầu với tên Phi-li-tinh, thì hỏi ông Áp-ne, tướng chỉ huy quân đội: &#8220;Ðứa trẻ ấy là con ai, Áp-ne?&#8221; Ông Áp-ne trả lời: &#8220;Thưa đức vua, tôi xin lấy mạng sống ngài mà thề, tôi không biết!&#8221; <sup>56</sup> Vua nói: &#8220;Hỏi xem thiếu niên ấy là con ai.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>57</sup> Lúc Ða-vít trở về sau khi hạ tên Phi-li-tinh, ông Áp-ne đón cậu, dẫn cậu đến trước mặt vua Sa-un, tay cậu xách cái đầu tên Phi-li-tinh. <sup>58</sup> Vua Sa-un hỏi cậu: &#8220;Hỡi người thanh niên, con là con ai?&#8221; Ða-vít trả lời: &#8220;Con là con của tôi tớ ngài là Gie-sê, người Bê-lem.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít vừa nói với vua Sa-un xong thì tâm hồn ông Giô-na-than gắn bó với tâm hồn ông Ða-vít, và ông Giô-na-than yêu mến ông như chính mình. <sup>2</sup> Hôm ấy vua Sa-un giữ ông Ða-vít lại và không cho về nhà cha ông. <sup>3</sup> Ông Giô-na-than lập giao ước với ông Ða-vít, vì ông yêu mến ông ấy như chính mình. <sup>4</sup> Ông Giô-na-than cởi chiếc áo khoác đang mặc mà cho ông Ða-vít, cho áo, cho cả gươm, cả cung, cả thắt lưng của ông. <sup>5</sup> Khi ông Ða-vít ra trận, mọi nơi vua Sa-un sai ông đi, ông đều thành công, và vua Sa-un đặt ông chỉ huy các chiến binh. Ông vừa lòng toàn dân và cả triều thần vua Sa-un nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-un bắt đầu ghen tị</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Lúc quân dân đến, khi ông Ða-vít hạ được tên Phi-li-tinh trở về, thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. <sup>7</sup> Phụ nữ vui đùa ca hát rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Vua Sa-un hạ được hàng ngàn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ông Ða-vít hàng vạn.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Vua Sa-un giận lắm, và bực mình vì lời ấy. Vua nói: &#8220;Người ta cho Ða-vít hàng vạn, còn ta thì họ cho hàng ngàn. Nó chỉ còn thiếu ngôi vua nữa thôi!&#8221; <sup>9</sup> Từ ngày đó về sau, vua Sa-un nhìn Ða-vít với con mắt ghen tị.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ngày hôm sau, một thần khí xấu của Thiên Chúa nhập vào vua Sa-un, và vua lên cơn xuất thần ngôn sứ ở giữa nhà. Ông Ða-vít đang gảy đàn như mọi ngày và vua Sa-un cầm cây giáo trong tay. <sup>11</sup> Vua Sa-un phóng cây giáo và nói: &#8220;Ta phải đâm Ða-vít, ghim nó vào tường mới được.&#8221; Nhưng hai lần Ða-vít tránh được.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Vua Sa-un sợ ông Ða-vít, bởi vì Ðức Chúa ở với ông và đã rời khỏi vua Sa-un. <sup>13</sup> Vua Sa-un đẩy ông đi xa và đặt ông làm người chỉ huy ngàn quân. Ông dẫn đầu dân. <sup>14</sup> Ông Ða-vít thành công trong mọi công việc và Ðức Chúa ở với ông. <sup>15</sup> Thấy ông thành công lớn, vua Sa-un sợ ông. <sup>16</sup> Nhưng toàn thể Ít-ra-en và Giu-đa mến ông Ða-vít, vì ông dẫn đầu họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít cưới vợ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Vua Sa-un nói với ông Ða-vít: &#8220;Ðây con gái lớn của ta là Mê-ráp, ta sẽ gả nó cho con. Nhưng con hãy tỏ ra là một người can đảm phục vụ ta và hãy chiến đấu những cuộc chiến của Ðức Chúa.&#8221; Vua Sa-un tự bảo: &#8220;Mình đừng tự tay hại nó, nhưng để tay người Phi-li-tinh hại nó.&#8221; <sup>18</sup> Ông Ða-vít-thưa với vua Sa-un: &#8220;Con là gì, và dòng họ con, thị tộc của cha con là gì trong Ít-ra-en, mà con được làm rể đức vua?&#8221; <sup>19</sup> Nhưng đến lúc phải gả cô Mê-ráp, con gái vua Sa-un, cho ông Ða-vít, thì cô lại được gả cho ông Át-ri-ên, người Mơ-khô-la.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Cô Mi-khan, con gái vua Sa-un, yêu ông Ða-vít. Người ta cho vua hay và vua thấy điều đó là phải. <sup>21</sup> Vua Sa-un tự bảo: &#8220;Mình sẽ gả con gái cho nó, để con này thành cạm bẫy cho nó, và tay người Phi-li-tinh hại nó.&#8221; Vậy vua Sa-un nói với ông Ða-vít lần thứ hai: &#8220;Hôm nay con sẽ là rể của ta.&#8221; <sup>22</sup> Vua Sa-un ra lệnh cho triều thần: &#8220;Hãy nói nhỏ với Ða-vít rằng: &#8220;Nhà vua có cảm tình với ông và triều thần ai cũng mến ông. Bây giờ ông hãy làm rể nhà vua.&#8221; <sup>23</sup> Triều thần vua Sa-un nói lại những lời ấy cho ông Ða-vít nghe. Ông Ða-vít nói: &#8220;Các ông coi chuyện làm rể nhà vua là chuyện không đáng kể ư? Tôi, tôi chỉ là một người nghèo không đáng kể.&#8221; <sup>24</sup> Triều thần vua Sa-un thưa lại với vua rằng: &#8220;Ông Ða-vít đã nói những lời như thế.&#8221; <sup>25</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Các ngươi hãy nói với Ða-vít-thế này: Nhà vua không đòi sính lễ nào khác ngoài một trăm bao quy đầu người Phi-li-tinh, để trả thù quân địch của nhà vua.&#8221; Vua Sa-un tính dùng tay người Phi-li-tinh mà hạ ông Ða-vít.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Triều thần vua Sa-un thuật lại cho ông Ða-vít những lời ấy. Ông Ða-vít thấy chuyện làm rể vua là phải. Chưa hết hạn, <sup>27</sup> ông Ða-vít đã lên đường, đi với người của ông. Ông hạ hai trăm người Phi-li-tinh, rồi đem bao quy đầu của chúng về, đếm đủ cho vua, để làm rể vua. Bấy giờ vua Sa-un gả cô Mi-khan, con gái vua, cho ông Ða-vít.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Thấy thế, vua Sa-un hiểu rằng Ðức Chúa ở với ông Ða-vít và cô Mi-khan, con vua, yêu ông. <sup>29</sup> Vua Sa-un càng thêm sợ ông Ða-vít, và vua Sa-un trở thành kẻ thù của ông Ða-vít suốt đời. <sup>30</sup> Các thủ lãnh người Phi-li-tinh ra trận, nhưng mỗi khi chúng ra trận, thì ông Ða-vít thành công hơn mọi bề tôi vua Sa-un, khiến danh tiếng ông lừng lẫy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-na-than can thiệp cho ông Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua Sa-un nói với ông Giô-na-than, con vua, và với toàn thể triều thần về ý định giết ông Ða-vít. Nhưng ông Giô-na-than, con vua Sa-un, lại rất có cảm tình với ông Ða-vít. <sup>2</sup> Ông Giô-na-than báo cho ông Ða-vít rằng: &#8220;Vua Sa-un, cha tôi, đang tìm cách giết anh. Vậy sáng mai anh hãy coi chừng, hãy ở nơi kín đáo và ẩn mình đi. <sup>3</sup> Phần tôi, tôi sẽ đi ra, sẽ đứng cạnh cha tôi trong cánh đồng, nơi anh đang trốn, tôi sẽ nói với cha tôi về anh. Thấy thế nào, tôi sẽ báo cho anh.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ông Giô-na-than nói tốt cho ông Ða-vít với vua Sa-un, cha mình; ông nói với vua: &#8220;Xin đức vua đừng phạm tội hại tôi tớ ngài là Ða-vít, vì anh ấy đã không phạm tội hại ngài, và các hành động của anh là điều rất lợi cho ngài. <sup>5</sup> Anh đã liều mạng và hạ được tên Phi-li-tinh, và Ðức Chúa đã thắng lớn để bảo vệ toàn thể Ít-ra-en. Ngài đã thấy và đã vui mừng. Vậy sao ngài lại phạm tội đổ máu vô tội, mà vô cớ giết Ða-vít?&#8221; <sup>6</sup> Vua Sa-un nghe theo lời ông Giô-na-than, và vua Sa-un thề rằng: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống, ta thề: nó sẽ không bị giết.&#8221; <sup>7</sup> Ông Giô-na-than gọi ông Ða-vít đến và ông Giô-na-than thuật lại tất cả những điều ấy; rồi ông Giô-na-than dẫn ông Ða-vít đến với vua Sa-un, và ông Ða-vít lại phục vụ vua như trước.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Ông Ða-Vít Trốn Ði</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-un toan sát hại ông Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Chiến tranh lại tái diễn, ông Ða-vít ra trận và chiến đấu với người Phi-li-tinh. Ông đánh chúng một đòn đau và chúng chạy trốn trước mặt ông. <sup>9</sup> Một thần khí xấu của Ðức Chúa xuống trên vua Sa-un. Vua đang ở trong nhà, tay cầm cây giáo, còn ông Ða-vít đang gảy đàn. <sup>10</sup> Vua Sa-un tìm cách dùng cây giáo ghim ông Ða-vít vào tường, nhưng ông này tránh được, và vua cắm cây giáo vào tường. Ông Ða-vít chạy đi và trốn thoát đêm ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bà Mi-khan cứu ông Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Vua Sa-un sai lính biệt phái đến nhà ông Ða-vít để canh chừng ông và sáng hôm sau giết ông. Bà Mi-khan, vợ ông, báo cho ông rằng: &#8220;Nếu anh không thoát thân đêm nay, thì ngày mai anh sẽ bị giết.&#8221; <sup>12</sup> Bà Mi-khan thả ông Ða-vít xuống qua cửa sổ. Ông đi trốn và thoát được.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Bà Mi-khan lấy tượng thần, đặt lên giường, để ở phía đầu một tấm lông dê, rồi lấy áo phủ lên. <sup>14</sup> Vua Sa-un sai lính biệt phái đến bắt ông Ða-vít, nhưng bà Mi-khan bảo họ: &#8220;Ông ấy đang bệnh.&#8221; <sup>15</sup> Vua Sa-un sai lính biệt phái đến để xem ông Ða-vít ra sao; vua bảo họ: &#8220;Cứ để nó trên giường mà khiêng lên cho ta, để ta giết nó.&#8221; <sup>16</sup> Lính biệt phái vào thì thấy tượng thần trên giường, với tấm lông dê ở phía đầu! <sup>17</sup> Vua Sa-un nói với bà Mi-khan: &#8220;Sao con đánh lừa cha như thế? Con đã để cho kẻ thù cha đi và nó đã thoát được!&#8221; Bà Mi-khan thưa với vua Sa-un: &#8220;Anh ấy bảo con: &#8220;Ðể cho anh đi, nếu không anh sẽ giết em!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-un đến tìm ông Ða-vít tại nhà ông Sa-mu-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Sau khi đã trốn đi và thoát được, ông Ða-vít đến với ông Sa-mu-en tại Ra-ma, và nói hết cho ông này biết vua Sa-un đã đối xử với mình như thế nào. Rồi ông và ông Sa-mu-en đến Nai-giốt. <sup>19</sup> Người ta báo cho vua Sa-un rằng: &#8220;Kìa ông Ða-vít đang ở Nai-giốt thuộc Ra-ma.&#8221; <sup>20</sup> Vua Sa-un sai lính biệt phái đến bắt ông Ða-vít. Họ thấy đoàn ngôn sứ đang lên cơn xuất thần ngôn sứ, có ông Sa-mu-en đứng đầu. Thần khí Thiên Chúa xuống trên các lính biệt phái của vua Sa-un, và cả những người này cũng lên cơn xuất thần ngôn sứ. <sup>21</sup> Người ta báo cho vua Sa-un, vua lại sai các lính biệt phái khác đến, và cả những người này cũng lên cơn xuất thần ngôn sứ. Vua lại sai nhóm lính biệt phái thứ ba, và cả những người này cũng lên cơn xuất thần ngôn sứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Vua liền đích thân đi Ra-ma và đến bể nước lớn tại Xe-khu. Vua hỏi rằng: &#8220;Ông Sa-mu-en và Ða-vít ở đâu?&#8221; Người ta trả lời: &#8220;Ở Nai-giốt thuộc Ra-ma.&#8221; <sup>23</sup> Vua đi tới đó, tới Nai-giốt thuộc Ra-ma. Thần khí Thiên Chúa cũng xuống trên vua, và vua vừa đi vừa lên cơn xuất thần ngôn sứ cho tới khi vua đến Nai-giốt thuộc Ra-ma. <sup>24</sup> Cả vua cũng cởi áo ra, cả vua cũng lên cơn xuất thần ngôn sứ trước mặt ông Sa-mu-en. Rồi cứ ở trần như vậy, vua ngã vật xuống, nằm suốt ngày suốt đêm hôm ấy. Vì thế mới có câu: &#8220;Ông Sa-un mà cũng ở trong số các ngôn sứ sao? &#8220;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-na-than giúp ông Ða-vít trốn thoát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít trốn khỏi Nai-giốt thuộc Ra-ma, và đến nói trước mặt ông Giô-na-than: &#8220;Tôi đã làm gì, tôi có lỗi gì, có tội gì với cha anh, mà người lại tìm hại mạng sống tôi?&#8221; <sup>2</sup> Ông Giô-na-than trả lời: &#8220;Không đời nào! Anh sẽ không chết đâu! Anh xem: cha tôi không làm điều gì, lớn hay nhỏ, mà không tiết lộ cho tôi. Vậy sao cha tôi lại giấu tôi điều này? Không có chuyện đó đâu!&#8221; <sup>3</sup> Ông Ða-vít nói lại và thề: &#8220;Cha anh thừa biết tôi được đẹp lòng anh, nên đã tự bảo: &#8220;Giô-na-than không được biết điều này, kẻo nó buồn phiền. Có Ðức Chúa hằng sống, có anh đang sống đó, tôi xin thề: giữa tôi và cái chết chỉ còn một bước.&#8221; <sup>4</sup> Ông Giô-na-than nói với ông Ða-vít: &#8220;Lòng anh muốn sao, tôi sẽ làm cho anh như vậy.&#8221; <sup>5</sup> Ông Ða-vít trả lời ông Giô-na-than: &#8220;Mai là ngày đầu tháng, và tôi phải ngồi ăn với đức vua. Anh sẽ để cho tôi đi và tôi sẽ ẩn ngoài đồng cho đến chiều ngày kia. <sup>6</sup> Nếu cha anh thấy vắng tôi, anh cứ nói: &#8220;Anh Ða-vít đã nài nẵng xin phép con chạy về Bê-lem, thành của anh, vì ở đó có hy lễ hằng năm cho toàn thị tộc. <sup>7</sup> Nếu người nói: &#8220;Tốt lắm&#8221;, thì tôi tớ anh đây được bình an. Nhưng nếu người nổi giận, thì anh nên biết rằng người đã quyết tâm làm điều ác. <sup>8</sup> Xin anh lấy tình mà xử với tôi tớ anh đây, vì anh đã nhân danh Ðức Chúa mà lập giao ước với tôi tớ anh. Nếu tôi có lỗi, thì chính anh hãy giết tôi đi, chứ sao lại đưa tôi đến với cha anh?&#8221; <sup>9</sup> Ông Giô-na-than nói: &#8220;Không đời nào anh được nghĩ thế! Vì nếu tôi biết rằng cha tôi đã quyết tâm làm điều ác để hại anh, chẳng lẽ tôi lại không báo cho anh biết sao?&#8221; <sup>10</sup> Ông Ða-vít nói với ông Giô-na-than: &#8220;Ai sẽ báo cho tôi biết, nếu cha anh trả lời anh cách cứng cỏi?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Giô-na-than bảo ông Ða-vít: &#8220;Nào chúng ta ra ngoài đồng&#8221;, và cả hai ra ngoài đồng. <sup>12</sup> Ông Giô-na-than nói với ông Ða-vít: &#8220;Có Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en chứng giám! Ngày mai ngày kia, vào giờ này, tôi sẽ dò ý cha tôi. Nếu mọi sự tốt đẹp cho Ða-vít, mà bấy giờ tôi lại không sai người đến tiết lộ cho anh, <sup>13</sup> thì xin Ðức Chúa phạt Giô-na-than thế này, và còn thêm thế kia nữa! Còn nếu cha tôi muốn làm điều ác hại anh, thì tôi sẽ tiết lộ cho anh, sẽ để cho anh đi, và anh sẽ đi bình an. Xin Ðức Chúa ở với anh như đã ở với cha tôi! <sup>14</sup> Nếu tôi còn sống, thì xin anh lấy tình mà xử với tôi như Ðức Chúa đòi hỏi. Còn nếu tôi chết, <sup>15</sup> thì xin anh đừng dứt bỏ tình nghĩa với gia đình tôi mãi mãi, ngay cả khi Ðức Chúa loại bỏ các kẻ thù của Ða-vít khỏi mặt đất, không sót một tên.&#8221; <sup>16</sup> Ông Giô-na-than lập giao ước với nhà ông Ða-vít và nói: &#8220;Xin Ðức Chúa hỏi tội các kẻ thù của Ða-vít!&#8221; <sup>17</sup> Ông Giô-na-than còn bắt ông Ða-vít thề, vì tình yêu của ông đối với ông Ða-vít: thật vậy, ông yêu Ða-vít như yêu chính mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông Giô-na-than bảo ông Ða-vít: &#8220;Mai là ngày đầu tháng, người ta sẽ thấy vắng anh vì chỗ anh trống. <sup>19</sup> Ngày kia, anh sẽ xuống mau, sẽ đến chỗ anh đã ẩn ngày xảy ra vụ đó và sẽ ngồi bên cạnh tảng đá E-den. <sup>20</sup> Còn tôi, tôi sẽ bắn ba mũi tên về một phía, làm như nhắm vào một cái bia. <sup>21</sup> Tôi sẽ sai người đầy tớ: &#8220;Ði tìm các mũi tên đi! Nếu tôi bảo người đầy tớ: &#8220;Ðây này, các mũi tên ở đằng sau ngươi, nhặt đi! thì anh hãy đến: anh được bình an, và không có gì cả. Có Ðức Chúa hằng sống, tôi xin thề. <sup>22</sup> Nhưng nếu tôi nói với người thiếu niên thế này: &#8220;Kia kìa, các mũi tên ở đằng trước ngươi! thì anh hãy đi, vì Ðức Chúa bảo anh đi. <sup>23</sup> Còn lời mà tôi và anh, chúng ta đã nói với nhau, thì có Ðức Chúa chứng giám giữa tôi và anh mãi mãi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vậy ông Ða-vít ẩn ngoài đồng. Ðến ngày đầu tháng, nhà vua ngồi bàn dùng bữa. <sup>25</sup> Nhà vua ngồi chỗ mình, như mọi khi, ở chỗ gần vách. Ông Giô-na-than ngồi đối diện. Ông Áp-ne ngồi bên cạnh vua Sa-un, còn chỗ ông Ða-vít thì trống. <sup>26</sup> Hôm đó, vua Sa-un không nói gì, vì vua tự bảo: &#8220;Ðó là chuyện tình cờ. Nó không thanh sạch, hẳn nó không thanh sạch.&#8221; <sup>27</sup> Hôm sau ngày đầu tháng, ngày thứ hai, chỗ ông Ða-vít vẫn trống. Vua Sa-un hỏi ông Giô-na-than, con vua: &#8220;Tại sao cả hôm qua lẫn hôm nay, con trai ông Gie-sê không đến dùng bữa?&#8221; <sup>28</sup> Ông Giô-na-than trả lời vua Sa-un: &#8220;Anh Ða-vít đã nài nẵng xin phép con về Bê-lem. <sup>29</sup> Anh ấy đã nói: &#8220;Xin để cho tôi đi, vì chúng tôi có hy lễ của thị tộc trong thành, và anh tôi đã ra lệnh cho tôi về. Bây giờ nếu tôi được đẹp lòng anh, xin anh cho tôi đi khỏi đây để về thăm các anh tôi. Vì thế anh ấy không đến bàn ăn của đức vua.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Vua Sa-un nổi cơn thịnh nộ với ông Giô-na-than, và vua nói với ông: &#8220;Thằng con của mụ đàn bà hư thân mất nết kia! Tao lại không biết mày cặp kè với thằng con trai lão Gie-sê, để mày phải nhục và con mẹ đã đẻ ra mày cũng phải nhục sao? <sup>31</sup> Thật vậy, bao lâu thằng con trai lão Gie-sê còn sống trên mặt đất, thì mày và vương quyền của mày sẽ không vững đâu. Bây giờ hãy sai người đi bắt nó về đây cho tao, vì nó đáng chết.&#8221; <sup>32</sup> Ông Giô-na-than thưa với vua Sa-un, cha của ông, và nói: &#8220;Sao lại giết anh ấy? Anh ấy đã làm gì?&#8221; <sup>33</sup> Vua Sa-un phóng cây giáo vào ông Giô-na-than, để đâm ông, và ông biết rằng cha ông đã quyết định giết ông Ða-vít. <sup>34</sup> Nổi giận bừng bừng, ông Giô-na-than đứng lên khỏi bàn ăn, và ngày thứ hai sau ngày đầu tháng đó, ông không dùng bữa, vì ông buồn cho ông Ða-vít, bởi lẽ cha ông đã xử bất công với ông ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-na-than ra ngoài đồng, đến chỗ đã hẹn với ông Ða-vít, có một đầy tớ nhỏ đi với ông. <sup>36</sup> Ông bảo đầy tớ: &#8220;Ngươi chạy đi tìm những mũi tên ta bắn!&#8221; Người đầy tớ chạy đi, và ông bắn mũi tên sao cho vượt qua nó. <sup>37</sup> Người đầy tớ đến chỗ mũi tên ông Giô-na-than vừa bắn. Ông Giô-na-than kêu ở phía sau người đầy tớ, ông nói: &#8220;Mũi tên không phải ở đằng trước ngươi sao&#8221;? <sup>38</sup> Ông Giô-na-than kêu ở phía sau: &#8220;Mau lên, lẹ lên, đừng đứng lại!&#8221; Người đầy tớ của ông Giô-na-than lượm mũi tên và đến với chủ. <sup>39</sup> Người đầy tớ không biết gì hết, chỉ có ông Giô-na-than và ông Ða-vít biết sự việc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Ông Giô-na-than giao vũ khí cho người đầy tớ và bảo: &#8220;Ði mang về thành.&#8221; <sup>41</sup> Người đầy tớ về rồi, ông Ða-vít đứng dậy từ phía nam, sấp mặt xuống đất ba lần, rồi hai ông hôn nhau và cùng khóc, cho đến khi ông Ða-vít nén được cơn xúc động. <sup>42</sup> Ông Giô-na-than nói với ông Ða-vít: &#8220;Anh hãy đi bình an, vì cả hai chúng ta đã nhân danh Ðức Chúa mà thề rằng: Ðức Chúa sẽ ở giữa tôi và anh, giữa dòng dõi tôi và dòng dõi anh, mãi mãi!&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít đứng dậy và ra đi, còn ông Giô-na-than thì trở về thành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít dừng lại ở Nốp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Ông đến Nốp gặp tư tế A-khi-me-léc. Ông A-khi-me-léc run sợ ra đón ông Ða-vít và hỏi ông: &#8220;Sao ông chỉ có một mình, không ai đi theo?&#8221; <sup>3</sup> Ông Ða-vít nói với tư tế A-khi-me-léc: &#8220;Ðức vua đã giao cho tôi một nhiệm vụ và bảo tôi: &#8220;Không ai được biết gì về sứ mệnh và nhiệm vụ ta giao cho ngươi. Các đầy tớ thì tôi đã hẹn đến chỗ kia rồi. <sup>4</sup> Bây giờ ông có sẵn gì không? Xin ông cho tôi năm cái bánh hay có gì cũng được.&#8221; <sup>5</sup> Tư tế trả lời ông Ða-vít rằng: &#8220;Tôi không có sẵn bánh thường, chỉ có bánh thánh hiến, miễn là các đầy tớ đã giữ mình, không gần gũi đàn bà.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Ða-vít trả lời tư tế rằng: &#8220;Phải, chúng tôi bị cấm không được gần gũi đàn bà, như xưa nay, mỗi khi tôi ra trận: các đầy tớ đã giữ thân thể cho được thánh. Ðây là một chuyến đi thường, nhưng quả thật hôm nay họ đã giữ thân thể cho được thánh.&#8221; <sup>7</sup> Bấy giờ tư tế cho ông của thánh, vì ở đó không có bánh nào khác ngoài bánh tiến, thứ bánh đặt trước nhan Ðức Chúa, mà người ta lấy đi để đặt bánh nóng vào, trong ngày thay bánh.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Chính hôm ấy, ở đó có một người trong các bề tôi vua Sa-un, bị giữ lại trước nhan Ðức Chúa. Nó tên là Ðô-ếch, người Ê-đôm, và đứng đầu các người chăn chiên của vua Sa-un.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Ða-vít nói với ông A-khi-me-léc: &#8220;Ông không có sẵn ở đây một cây giáo hay một thanh gươm ư? Tôi đã không mang theo cả gươm lẫn vũ khí của tôi, vì việc của đức vua quá khẩn cấp!&#8221; <sup>10</sup> Tư tế nói: &#8220;Có thanh gươm của tên Go-li-át người Phi-li-tinh, ông đã hạ tại thung lũng Cây Vân Hương; thanh gươm đó ở kia, bọc trong một áo choàng, đàng sau ê-phốt. Nếu ông muốn lấy, thì cứ lấy, vì ngoài nó ra, ở đây không có gươm nào khác.&#8221; Ông Ða-vít nói: &#8220;Ðó là thanh gươm có một không hai. Ông hãy đưa cho tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít đến với người Phi-li-tinh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Ða-vít lên đường và ngày hôm đó trốn vua Sa-un. Ông đến gặp A-khít, vua thành Gát. <sup>12</sup> Triều thần vua A-khít thưa với vua: &#8220;Tên này chẳng phải là Ða-vít, vua xứ đó sao? Người ta đã chẳng múa nhảy hát mừng nó rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Vua Sa-un hạ được hàng ngàn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ông Ða-vít hàng vạn&#8221;?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Ða-vít suy nghĩ về những lời ấy, và sợ A-khít, vua thành Gát lắm. <sup>14</sup> Bấy giờ ông giả dại trước mắt chúng, và trong tay chúng, ông làm bộ khùng: ông viết nguệch ngoạc trên các cánh cửa và để dãi chảy xuống râu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Vua A-khít bảo triều thần: &#8220;Ðấy các ngươi thấy nó là một thằng điên. Tại sao các ngươi lại đưa nó đến với ta? <sup>16</sup> Ta đâu thiếu người điên mà các ngươi còn đưa tên này đến để nó làm thằng điên bên ta? Tên này mà lại vào nhà ta ư?</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Ông Ða-Vít Cầm Ðầu Một Bọn Thủ Hạ</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít bắt đầu cuộc sống nay đây mai đó</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít đi khỏi đó và trốn thoát vào hang A-đu-lam. Các anh ông và tất cả nhà cha ông nghe tin và xuống đó với ông. <sup>2</sup> Bấy giờ tất cả những người cùng khốn, mắc nợ, bất mãn đều quy tụ quanh ông, và ông trở thành thủ lãnh của họ. Có khoảng chừng bốn trăm người ở với ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Từ nơi ấy ông Ða-vít đi Mít-pê thuộc Mô-áp. Ông nói với vua Mô-áp: &#8220;Xin cho cha mẹ tôi sang với các ông cho đến khi tôi biết Thiên Chúa sẽ làm gì cho tôi.&#8221; <sup>4</sup> Ông dẫn họ đến trước mặt vua Mô-áp, và họ ở lại với vua suốt thời gian ông Ða-vít ở trong nơi ẩn náu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ngôn sứ Gát nói với Ða-vít: &#8220;Ông đừng ở lại trong nơi ẩn náu, hãy ra đi và trở về miền Giu-đa.&#8221; Ông Ða-vít ra đi và đến rừng Khe-rét.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các tư tế thành Nốp bị tàn sát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vua Sa-un nghe tin là người ta đã tìm ra ông Ða-vít và những người ở với ông. Vua Sa-un đang ngồi ở Ghíp-a, dưới cây liễu bách, tại nơi cao, tay cầm cây giáo, có toàn thể triều thần đứng bên. <sup>7</sup> Vua Sa-un nói với triều thần đang đứng bên: &#8220;Nghe đây, hỡi các người Ben-gia-min, có phải thằng con của Gie-sê cũng sẽ cho tất cả các ngươi những cánh đồng và vườn nho, sẽ đặt các ngươi làm chỉ huy một ngàn và chỉ huy một trăm quân không? <sup>8</sup> Sao tất cả các ngươi đã âm mưu chống lại ta? Không có ai tiết lộ cho ta, khi con ta lập giao ước với thằng con của Gie-sê; không ai trong các ngươi buồn cho ta, khi con ta xui người đầy tớ của ta nổi lên gài bẫy hại ta, như hôm nay!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðô-ếch, người Ê-đôm, đang đứng bên triều thần vua Sa-un, lên tiếng nói: &#8220;Tôi đã thấy thằng con của Gie-sê đến Nốp gặp ông A-khi-me-léc, con ông A-khi-túp. <sup>10</sup> Ông A-khi-me-léc đã thỉnh ý Ðức Chúa cho nó, đã tiếp tế lương thực cho nó, và còn cho nó thanh gươm của Go-li-át, người Phi-li-tinh.&#8221; <sup>11</sup> Nhà vua sai người đi đòi tư tế A-khi-me-léc, con ông A-khi-túp đến, cùng với toàn thể nhà cha ông, là các tư tế ở Nốp. Tất cả những người đó đến với vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Nghe đây, hỡi con của A-khi-túp.&#8221; Ông đáp: &#8220;Thưa chúa thượng, tôi đây.&#8221; <sup>13</sup> Vua Sa-un nói với ông: &#8220;Tại sao ngươi và thằng con của Gie-sê, các ngươi đã âm mưu chống lại ta? Ngươi đã cho nó bánh và gươm, lại thỉnh ý Thiên Chúa cho nó, để nó nổi lên gài bẫy hại ta, như hôm nay?&#8221; <sup>14</sup> Ông A-khi-me-léc thưa với vua rằng: &#8220;Trong triều thần của ngài, có ai trung tín như ông Ða-vít, con rể của nhà vua, chỉ huy cận vệ của ngài, người được kính nể trong triều đình? <sup>15</sup> Có phải hôm nay tôi mới bắt đầu thỉnh ý Thiên Chúa cho ông ấy? Không đời nào! Xin đức vua đừng buộc tội tôi tớ ngài và toàn thể nhà cha tôi, vì tôi tớ ngài không biết một điều gì, lớn hay nhỏ, về tất cả chuyện này.&#8221; <sup>16</sup> Vua nói: &#8220;A-khi-me-léc, ngươi sẽ phải chết, ngươi và toàn thể nhà cha ngươi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Vua bảo các thị vệ đang đứng bên: &#8220;Hãy đi xử tử các tư tế của Ðức Chúa, vì cả chúng cũng tiếp tay cho Ða-vít: chúng biết nó trốn đi mà không báo cho ta.&#8221; Nhưng triều thần không muốn tra tay giết các tư tế của Ðức Chúa. <sup>18</sup> Vua mới bảo Ðô-ếch: &#8220;Hãy đi giết các tư tế.&#8221; Ðô-ếch, người Ê-đôm, đi và chính nó giết các tư tế. Ngày hôm ấy, nó đã xử tử tám mươi lăm người mặc ê-phốt vải gai. <sup>19</sup> Còn Nốp, thành của các tư tế, vua đã dùng gươm mà giết từ đàn ông đến đàn bà, từ nhi đồng đến trẻ con đang bú, và bò, lừa, chiên dê.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Chỉ có một người là con ông A-khi-me-léc và là cháu ông A-khi-túp, thoát được. Người ấy tên là Ép-gia-tha. Ông trốn đi theo ông Ða-vít. <sup>21</sup> Ông Ép-gia-tha báo tin cho ông Ða-vít là vua Sa-un đã giết các tư tế của Ðức Chúa. <sup>22</sup> Ông Ða-vít nói với ông Ép-gia-tha: &#8220;Hôm ấy, tôi biết là Ðô-ếch, người Ê-đôm, có ở đó và chắc chắn nó sẽ báo cho vua Sa-un. Chính tôi đã là nguyên do khiến cả nhà cha ông phải thiệt mạng. <sup>23</sup> Ông cứ ở lại với tôi, đừng sợ: ai tìm hại mạng sống ông là tìm hại mạng sống tôi. Ở bên tôi, ông sẽ được bảo vệ.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít đến Cơ-i-la</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người ta báo tin cho ông Ða-vít biết rằng: &#8220;Kìa người Phi-li-tinh đang tấn công Cơ-i-la và cướp phá các sân lúa.&#8221; <sup>2</sup> Ông thỉnh ý Ðức Chúa rằng: &#8220;Con có nên đi không và có đánh bại được những tên Phi-li-tinh này không?&#8221; Ðức Chúa phán với ông Ða-vít: &#8220;Cứ đi, ngươi sẽ đánh bại người Phi-li-tinh và cứu được Cơ-i-la.&#8221; <sup>3</sup> Người của ông Ða-vít nói với ông: &#8220;Ở đây, tại Giu-đa, mà chúng ta còn sợ hãi, huống chi là đi Cơ-i-la, xông vào trận tuyến người Phi-li-tinh!&#8221; <sup>4</sup> Ông Ða-vít lại thỉnh ý Ðức Chúa một lần nữa. Ðức Chúa trả lời ông rằng: &#8220;Ðứng lên! Hãy xuống Cơ-i-la, vì Ta sắp trao người Phi-li-tinh vào tay ngươi.&#8221; <sup>5</sup> Ông Ða-vít cùng với người của ông đi Cơ-i-la; ông tấn công người Phi-li-tinh, dẫn những bầy gia súc của chúng đi và đánh chúng một đòn đau. Thế là ông Ða-vít cứu được dân thành Cơ-i-la.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Khi ông Ép-gia-tha, con ông A-khi-me-léc, trốn đến với ông Ða-vít, ông đã xuống Cơ-i-la, tay cầm ê-phốt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Người ta báo tin cho vua Sa-un là ông Ða-vít đã vào Cơ-i-la, vua Sa-un nói: &#8220;Thiên Chúa đã nộp nó vào tay ta, vì nó đã tự nhốt mình khi vào một thành có cửa đóng then cài.&#8221; <sup>8</sup> Vua Sa-un triệu tập toàn dân đi giao chiến để xuống Cơ-i-la vây ông Ða-vít và người của ông. <sup>9</sup> Ông Ða-vít biết rằng chính để hại ông mà vua Sa-un đang ngầm mưu điều ác, ông bảo tư tế Ép-gia-tha: &#8220;Ðem ê-phốt lại đây!&#8221; <sup>10</sup> Ông Ða-vít thưa: &#8220;Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, tôi tớ Ngài đây đã nghe nói rằng vì con, vua Sa-un đang tìm cách đến Cơ-i-la để phá huỷ thành này. <sup>11</sup> Các thân hào Cơ-i-la có nộp con vào tay vua không? Vua Sa-un có xuống, như tôi tớ Ngài đã nghe nói không? Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, xin cho tôi tớ Ngài biết.&#8221; Ðức Chúa phán: &#8220;Nó sẽ xuống.&#8221; <sup>12</sup> Ông Ða-vít lại hỏi: &#8220;Các thân hào Cơ-i-la có nộp con và người của con vào tay vua Sa-un không?&#8221; Ðức Chúa phán: &#8220;Chúng sẽ nộp.&#8221; <sup>13</sup> Ông Ða-vít đứng lên cùng với người của ông, khoảng chừng sáu trăm người; họ ra khỏi Cơ-i-la và đi lang thang. Người ta báo cho vua Sa-un là ông Ða-vít đã trốn thoát khỏi Cơ-i-la, và vua thôi không ra trận nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Ða-vít ở trong sa mạc, trên các đỉnh núi; ông ở trong núi, trong sa mạc Díp. Trong suốt thời gian ấy, vua Sa-un tìm ông, nhưng Thiên Chúa không trao ông vào tay vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít ở Khoóc-sa. Ông Giô-na-than tới gặp.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông Ða-vít thấy rằng vua Sa-un đã ra trận để tìm hại mạng sống ông. Ông Ða-vít ở trong sa mạc Díp, tại Khoóc-sa. <sup>16</sup> Ông Giô-na-than, con vua Sa-un, lên đường, đến gặp ông Ða-vít tại Khoóc-sa và khuyến khích ông nhân danh Thiên Chúa. <sup>17</sup> Ông nói với ông Ða-vít: &#8220;Anh đừng sợ, vì bàn tay vua Sa-un, cha tôi, sẽ không đụng tới anh được. Chính anh sẽ làm vua cai trị Ít-ra-en, còn tôi sẽ làm phó cho anh; cả vua Sa-un, cha tôi, cũng biết như thế.&#8221; <sup>18</sup> Hai người lập giao ước trước nhan Ðức Chúa. Ông Ða-vít ở lại Khoóc-sa, còn ông Giô-na-than thì đi về nhà.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít thoát tay vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Có những người vùng Díp lên gặp vua Sa-un tại Ghíp-a và thưa: &#8220;Ða-vít chẳng trốn giữa chúng tôi, ở những đỉnh núi, tại Khoóc-sa, trên đồi Kha-khi-la ở phía nam hoang địa đó sao? <sup>20</sup> Bây giờ, thưa đức vua, khi nào ngài muốn xuống thì xin cứ xuống. Phận sự của chúng tôi là nộp nó vào tay đức vua.&#8221; <sup>21</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Xin Ðức Chúa chúc phúc cho các ngươi, vì các ngươi đã động lòng thương xót tôi. <sup>22</sup> Các ngươi hãy đi, điều tra nữa cho chắc chắn; hãy tìm cho biết và xem nó đặt chân ở đâu, có ai đã thấy nó ở đấy không, vì người ta nói với tôi rằng nó xảo quyệt lắm. <sup>23</sup> Các ngươi hãy xem và tìm cho biết hết những nơi nó ẩn, những chỗ nó núp. Khi đã chắc rồi, thì hãy trở lại gặp ta, và ta sẽ đi với các ngươi. Nếu như nó có ở trong xứ, thì ta sẽ truy nã nó trong mọi thị tộc Giu-đa.&#8221; <sup>24</sup> Họ lên đường và đi Díp trước vua Sa-un. Ông Ða-vít và người của ông thì ở trong sa mạc Ma-ôn, trong thung lũng phía nam hoang địa. <sup>25</sup> Vua Sa-un và người của vua đi tìm ông. Người ta báo tin cho ông Ða-vít, ông xuống Tảng Ðá và ở trong sa mạc Ma-ôn. Vua Sa-un nghe biết thì đuổi theo ông Ða-vít trong sa mạc Ma-ôn. <sup>26</sup> Vua Sa-un đi phía sườn núi bên này, còn ông Ða-vít và người của ông đi phía sườn núi bên kia. Ông Ða-vít vội vàng ra đi để thoát vua Sa-un. Vua Sa-un và người của vua đang bao vây ông Ða-vít và người của ông để bắt họ, <sup>27</sup> thì một người đưa tin đến nói với vua Sa-un: &#8220;Xin đức vua đến mau, vì người Phi-li-tinh đã tràn vào xứ.&#8221; <sup>28</sup> Vua Sa-un thôi không đuổi theo ông Ða-vít nữa, để ra nghênh chiến với người Phi-li-tinh. Vì thế người ta gọi chỗ ấy là Tảng Ðá Phân Ly.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít tha chết cho vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít lên khỏi chỗ đó và ở trên những đỉnh núi Ên Ghe-đi. <sup>2</sup> Sau khi vua Sa-un đuổi người Phi-li-tinh và trở về, người ta báo tin cho vua rằng: &#8220;Này Ða-vít đang ở trong sa mạc Ên Ghe-đi.&#8221; <sup>3</sup> Vua Sa-un lấy trong toàn thể Ít-ra-en ba ngàn quân tinh nhuệ, và lên đường để tìm bắt ông Ða-vít và người của ông, ở phía đông các Mỏm Ðá Sơn Dương. <sup>4</sup> Vua đến các bãi quây chiên dê bên đường. Ở đó có một cái hang và vua Sa-un vào đó để đi việc cần. Ông Ða-vít và người của ông đang ngồi ở cuối hang. <sup>5</sup> Người của ông Ða-vít nói với ông: &#8220;Ðây là ngày Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Này ta trao kẻ thù của ngươi vào tay ngươi, ngươi sẽ đối xử với nó thế nào tuỳ ý.&#8221; Ông Ða-vít đứng dậy và cắt vạt áo khoác của vua Sa-un. <sup>6</sup> Sau đó, ông Ða-vít áy náy trong lòng vì đã cắt vạt áo của vua Sa-un. <sup>7</sup> Ông bảo người của ông: &#8220;Xin Ðức Chúa đừng để tôi làm điều này cho chúa thượng của tôi, đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong, là tra tay hại vua, vì người là đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong.&#8221; <sup>8</sup> Nhờ những lời ấy, ông Ða-vít đã ngăn chặn người của ông, không để cho họ xông vào vua Sa-un.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua Sa-un đứng lên, ra khỏi hang và lên đường. <sup>9</sup> Sau đó, ông Ða-vít đứng lên, ra khỏi hang và kêu đằng sau vua Sa-un rằng: &#8220;Thưa đức vua là chúa thượng con!&#8221; Vua Sa-un ngoái lại đằng sau. Ông Ða-vít sấp mặt sát đất mà lạy. <sup>10</sup> Ông Ða-vít nói với vua Sa-un: &#8220;Tại sao cha lại nghe lời người ta nói rằng Ða-vít đang tìm cách hại cha? <sup>11</sup> Hôm nay đây, chính mắt cha thấy Ðức Chúa đã trao cha vào tay con, hôm nay, trong hang; người ta nói đến chuyện giết cha, nhưng con đã thương hại cha và nói: &#8220;Tôi sẽ không tra tay hại chúa thượng tôi, vì người là đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong. <sup>12</sup> Thưa cha, xin nhìn xem, vâng, xin nhìn xem vạt áo choàng của cha trong tay con. Vì con đã cắt áo choàng của cha và không giết cha, thì xin cha biết và thấy cho rằng tay con không làm điều ác, điều lỗi, và con đã không phạm tội hại cha, trong khi cha mưu toan lấy mạng sống con. <sup>13</sup> Xin Ðức Chúa phân xử giữa con và cha và xin Ðức Chúa phạt cha để trả thù cho con, nhưng tay con sẽ không đụng đến cha. <sup>14</sup> Như tục ngữ người xưa có nói: &#8220;Ðiều ác từ kẻ ác mà ra&#8221;, nên tay con sẽ không đụng đến cha. <sup>15</sup> Ðức vua Ít-ra-en đã ra trận để đánh ai? Cha đuổi theo ai? Một con chó chết! Một con bọ chét! <sup>16</sup> Ðức Chúa sẽ là trọng tài, Người sẽ phân xử giữa con và cha. Xin Người nhìn xem và biện hộ cho con, xin Người phân xử để con thoát khỏi tay cha!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Khi ông Ða-vít nói với vua Sa-un những lời đó xong, thì vua Sa-un hỏi: &#8220;Ða-vít con cha, có phải tiếng của con đấy không?&#8221; Rồi vua Sa-un oà lên khóc. <sup>18</sup> Vua nói với ông Ða-vít: &#8220;Con công chính hơn cha, vì con xử tốt với cha, còn cha thì xử ác với con. <sup>19</sup> Hôm nay con đã tỏ ra là con làm điều tốt cho cha, vì Ðức Chúa đã nộp cha vào tay con mà con đã không giết cha. <sup>20</sup> Có ai gặp kẻ thù của mình mà cứ để nó đi yên lành không? Xin Ðức Chúa thưởng con vì điều tốt con làm cho cha hôm nay. <sup>21</sup> Giờ đây cha biết rằng chắc chắn con sẽ làm vua và vương quyền Ít-ra-en sẽ vững mãi trong tay con. <sup>22</sup> Vậy giờ đây con hãy lấy Ðức Chúa mà thề với cha là sẽ không loại trừ dòng dõi cha sau này, và sẽ không xoá bỏ tên tuổi cha khỏi nhà của tổ phụ cha.&#8221; <sup>23</sup> Ông Ða-vít thề với vua Sa-un. Rồi vua Sa-un đi về nhà, còn ông Ða-vít và người của ông thì đi lên nơi ẩn náu.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 25 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sa-mu-en qua đời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sa-mu-en qua đời. Toàn thể Ít-ra-en tập hợp lại cử hành tang lễ cho ông. Họ chôn cất ông tại quê nhà ông, ở Ra-ma.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuyện ông Na-van và bà A-vi-ga-gin</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông Ða-vít lên đường và xuống sa mạc Pa-ran.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Ở Ma-ôn có một người có cơ sở làm ăn tại Các-men. Người ấy rất giàu: ông có ba ngàn con cừu và một ngàn con dê. Ông đang ở Các-men để xén lông cừu của ông. <sup>3</sup> Ông ấy tên là Na-van, còn vợ ông tên là A-vi-ga-gin. Người vợ thì khôn khéo và có duyên, người chồng thì cứng cỏi và ưa làm điều ác; ông ta là người Ca-lếp.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Trong sa mạc, ông Ða-vít nghe tin là ông Na-van đang xén lông cừu của ông ấy. <sup>5</sup> Ông Ða-vít sai mười đầy tớ đi. Ông bảo các đầy tớ: &#8220;Các anh hãy lên Các-men, đến gặp ông Na-van và nhân danh tôi vấn an ông ấy. <sup>6</sup> Các anh hãy nói với người anh em tôi thế này: &#8220;Chúc ông được bình an, chúc gia đình ông được bình an, chúc ông vạn sự bình an! <sup>7</sup> Bây giờ tôi nghe tin là có thợ đang xén lông cừu cho ông. Khi người chăn súc vật của ông ở với chúng tôi, chúng tôi đã không quấy nhiễu họ, họ đã không bị mất mát gì trong suốt thời gian ở Các-men. <sup>8</sup> Ông cứ hỏi đầy tớ ông, họ sẽ nói cho ông biết. Mong rằng đầy tớ tôi được đẹp lòng ông, vì chúng tôi đã tới vào một ngày lễ. Xin vui lòng cho các đầy tớ ông và cho Ða-vít, con ông, cái gì ông sẵn có trong tay&#8221;.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Các đầy tớ ông Ða-vít đến và nói lại với ông Na-van tất cả những lời ấy nhân danh ông Ða-vít, rồi họ đợi. <sup>10</sup> Ông Na-van trả lời cho tôi tớ ông Ða-vít rằng: &#8220;Ða-vít là ai? Con ông Gie-sê là ai? Ngày nay có nhiều tôi tớ trốn chủ mà đi. <sup>11</sup> Chẳng lẽ tôi lại phải lấy bánh của tôi, nước của tôi, các con vật tôi đã làm thịt cho thợ xén lông của tôi, mà cho những người tôi không biết từ đâu đến sao?&#8221; <sup>12</sup> Các đầy tớ ông Ða-vít quay lại đường cũ và trở về. Khi đến nơi, họ thuật lại cho ông Ða-vít tất cả những lời đó. <sup>13</sup> Ông Ða-vít bảo người của ông: &#8220;Mỗi người hãy đeo gươm của mình vào!&#8221; Mỗi người đã đeo gươm của mình, ông Ða-vít cũng đeo gươm của ông. Có khoảng chừng bốn trăm người lên theo ông Ða-vít, còn hai trăm thì ở lại giữ đồ đạc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Một trong số các đầy tớ báo tin cho bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van rằng: &#8220;Này, ông Ða-vít đã sai người từ sa mạc đến chào ông chủ, và ông chủ đã xông vào họ. <sup>15</sup> Những người ấy rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã không bị quấy nhiễu, đã không mất mát gì, suốt thời gian chúng tôi di chuyển bên họ, khi chúng tôi ở ngoài đồng. <sup>16</sup> Họ đã là thành luỹ bảo vệ chúng tôi, cả đêm lẫn ngày, suốt thời gian chúng tôi ở với họ mà chăn chiên dê. <sup>17</sup> Bây giờ xin bà biết cho và xem phải làm gì, vì người ta đã quyết định hại ông chủ và cả nhà ông. Còn ông ấy thì là một tên vô lại, không nói chuyện với ông ấy được.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Bà A-vi-ga-gin vội vàng lấy hai trăm cái bánh, hai bầu da đầy rượu, năm con cừu đã làm thịt, năm thúng gié lúa rang, một trăm bánh nho khô và hai trăm bánh vả, và chất lên lưng lừa. <sup>19</sup> Bà bảo đầy tớ: &#8220;Các anh hãy đi đằng trước tôi, còn tôi, tôi theo sau các anh.&#8221; Nhưng bà không nói cho chồng bà là ông Na-van biết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Bà đang cỡi lừa đi xuống, khuất sau ngọn núi thì kìa ông Ða-vít và người của ông đang xuống về phía bà, và bà đã gặp họ. <sup>21</sup> Ông Ða-vít tự bảo: &#8220;Thật uổng công tôi đã giữ tất cả những gì thuộc về tên này trong sa mạc, và không để mất một cái gì của nó. Nó đã lấy oán đền ơn. <sup>22</sup> Xin Thiên Chúa phạt các kẻ thù của Ða-vít thế này và còn thêm thế kia nữa, nếu cho đến sáng mai, trong tất cả những người thuộc về nó, tôi còn để lại một tên đàn ông con trai nào!&#8221; <sup>23</sup> Thấy ông Ða-vít, bà A-vi-ga-gin vội vàng xuống lừa, sấp mình xuống trước mặt ông Ða-vít và sụp lạy sát đất. <sup>24</sup> Bà phục xuống dưới chân ông và nói: &#8220;Thưa đức ông, tôi xin chịu tội! Nữ tỳ ngài xin được nói thấu tai ngài! Xin ngài nghe nữ tỳ ngài nói. <sup>25</sup> Xin đức ông đừng để tâm đến Na-van, kẻ vô lại ấy, vì tên nó thế nào, thì nó như vậy: tên nó là Ngu và cái ngu gắn liền với nó. Nhưng tôi, nữ tỳ ngài, đã không trông thấy các đầy tớ mà đức ông sai đến. <sup>26</sup> Giờ đây, thưa đức ông, có Ðức Chúa hằng sống, và có ngài đang sống đó, Ðức Chúa đã ngăn cản không cho ngài đi đến chỗ đổ máu và tự tay trả thù. Bây giờ, ước chi kẻ thù ngài, các kẻ tìm cách hại đức ông, phải bị như Na-van! <sup>27</sup> Giờ đây, món quà này mà tớ nữ của ngài đã đem đến cho đức ông, xin được giao cho các đầy tớ đi theo chân đức ông. <sup>28</sup> Xin vui lòng xá lỗi cho nữ tỳ ngài. Thật vậy, Ðức Chúa chắc chắn sẽ làm cho đức ông một nhà kiên cố, vì đức ông chiến đấu những cuộc chiến của Ðức Chúa, và suốt đời ngài, người ta không tìm được nơi ngài một điều ác nào. <sup>29</sup> Có người đứng lên để đuổi theo ngài và tìm hại mạng sống ngài, nhưng mạng sống của đức ông sẽ được bọc trong bọc những kẻ sống bên Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài; còn mạng sống các kẻ thù ngài, thì Ðức Chúa dùng dây phóng đá mà phóng đi. <sup>30</sup> Vậy khi Ðức Chúa làm cho đức ông tất cả điều tốt lành Người đã nói về ngài, và đặt ngài làm người lãnh đạo Ít-ra-en, <sup>31</sup> thì đức ông sẽ không phải ân hận và áy náy lương tâm vì đã đổ máu vô cớ và trả thù cho chính mình. Khi Ðức Chúa xử tốt với đức ông, thì xin ngài nhớ đến nữ tỳ ngài.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Ða-vít nói với bà A-vi-ga-gin: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, hôm nay đã sai bà đến gặp tôi! <sup>33</sup> Bà được chúc phúc vì bà khôn ngoan, bà được chúc phúc vì hôm nay đã giữ không cho tôi đi tới chỗ đổ máu và tự tay trả thù. <sup>34</sup> Nhưng có Ðức Chúa hằng sống là Thiên Chúa Ít-ra-en, Ðấng đã ngăn cản không cho tôi làm hại bà! Giả như bà đã không vội vàng đến gặp tôi, thì cho đến khi trời sáng, sẽ không còn lại một tên đàn ông con trai nào của Na-van.&#8221; <sup>35</sup> Ông Ða-vít nhận từ tay bà những gì bà mang đến cho ông, và ông nói với bà: &#8220;Bà hãy lên nhà bà bình an. Bà xem đây: tôi đã nghe theo tiếng bà và đã nể bà.&#8221; <sup>36</sup> Bà A-vi-ga-gin về với ông Na-van. Kìa ông đang mở tiệc ở nhà ông, một bữa tiệc vương giả! Lòng ông Na-van vui vẻ. Ông say khướt nên bà không kể lại cho ông điều gì, dù nhỏ hay lớn, cho đến khi trời sáng. <sup>37</sup> Sáng hôm sau, khi ông Na-van tỉnh rượu, vợ ông mới kể lại cho ông các sự việc ấy. Tim ông chết lặng trong lồng ngực, ông cứng đờ ra như đá. <sup>38</sup> Khoảng mười ngày sau, Ðức Chúa đánh phạt ông Na-van và ông chết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Ông Ða-vít nghe tin ông Na-van đã chết, thì nói: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa, Ðấng đã biện hộ cho tôi, khi tôi bị Na-van sỉ nhục, và đã ngăn không cho tôi tớ Người làm điều ác. Còn điều ác Na-van đã làm, thì Ðức Chúa đã đổ lại trên đầu nó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông Ða-vít sai người đi hỏi bà A-vi-ga-gin làm vợ. <sup>40</sup> Tôi tớ Ða-vít đến với bà A-vi-ga-gin tại Các-men và nói với bà rằng: &#8220;Ông Ða-vít sai chúng tôi đến xin cưới bà làm vợ.&#8221; <sup>41</sup> Bà đứng dậy, sấp mặt xuống đất và nói: &#8220;Này nữ tỳ ngài xin làm tớ nữ để rửa chân cho tôi tớ của đức ông.&#8221; <sup>42</sup> Bà A-vi-ga-gin vội vã đứng dậy, lên lừa và có năm tớ gái theo chân bà. Bà đi theo những người ông Ða-vít sai đến. Bà đã trở thành vợ ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Ông Ða-vít cũng đã cưới bà A-khi-nô-am, người Gít-rơ-en. Cả hai bà đều là vợ ông. <sup>44</sup> Vua Sa-un đã gả bà Mi-khan là con gái vua và là vợ ông Ða-vít, cho ông Pan-ti, con ông La-gít, người Ga-lim.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 26 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít tha chết cho vua Sa-un</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người vùng Díp đến gặp vua Sa-un tại Ghíp-a và thưa: &#8220;Ða-vít chẳng trốn trên đồi Kha-khi-la, đối diện với hoang địa đó sao?&#8221; <sup>2</sup> Vua Sa-un lên đường và xuống sa mạc Díp, cùng với ba ngàn quân tinh nhuệ của Ít-ra-en, để tìm bắt ông Ða-vít trong sa mạc Díp. <sup>3</sup> Vua Sa-un đóng trại trên đồi Kha-khi-la, đối diện với hoang địa, ở bên đường, còn ông Ða-vít thì ở trong sa mạc. Thấy vua Sa-un đến đuổi theo ông trong sa mạc, <sup>4</sup> ông Ða-vít sai người đi do thám và ông biết là vua Sa-un chắc chắn đã đến. <sup>5</sup> Ông Ða-vít lên đường và đến nơi vua Sa-un đóng trại. Ông Ða-vít trông thấy chỗ vua Sa-un và ông Áp-ne, con ông Ne, tướng chỉ huy quân đội của vua, đang nằm. Vua Sa-un nằm trong trại binh; còn quân binh thì đóng trại chung quanh ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Ða-vít lên tiếng hỏi ông A-khi-me-léc, người Khết, và ông A-vi-sai là con bà Xơ-ru-gia và là anh ông Giô-áp: &#8220;Ai muốn cùng tôi xuống chỗ vua Sa-un đóng trại?&#8221; Ông A-vi-sai thưa: &#8220;Cháu xin xuống với cậu.&#8221; <sup>7</sup> Ðang đêm, ông Ða-vít và ông A-vi-sai đến chỗ quân binh. Vua Sa-un đang nằm ngủ trong trại binh, cây giáo của vua cắm xuống đất, ở phía đầu vua, còn ông Áp-ne và quân binh thì nằm chung quanh.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông A-vi-sai nói với ông Ða-vít: &#8220;Hôm nay Thiên Chúa đã nộp kẻ thù của cậu vào tay cậu. Bây giờ, xin cho cháu dùng giáo ghim nó xuống đất, một nhát thôi; cháu không cần đâm nhát thứ hai.&#8221; <sup>9</sup> Ông Ða-vít nói với ông A-vi-sai: &#8220;Ðừng giết vua! Có ai tra tay hại đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong mà vô sự đâu?&#8221; <sup>10</sup> Ông Ða-vít nói: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống! Chính Ðức Chúa sẽ đánh phạt vua, hoặc khi ngày của vua đến mà vua phải chết, hoặc khi vua xuống giao chiến mà vua thiệt mạng. <sup>11</sup> Nhưng xin Ðức Chúa đừng bao giờ để tôi tra tay hại đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong! Bây giờ anh hãy lấy cây giáo ở phía đầu vua, cùng với bình nước, rồi chúng ta đi.&#8221; <sup>12</sup> Ông Ða-vít lấy cây giáo và bình nước ở phía đầu vua Sa-un, rồi cả hai người ra đi. Không ai thấy, không ai hay, không ai thức dậy. Họ đều ngủ cả, vì Ðức Chúa đã cho một giấc ngủ mê ập xuống trên họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Ða-vít đi sang phía bên kia và đứng trên đỉnh núi, ở đàng xa; có một khoảng cách lớn giữa họ. <sup>14</sup> Ông Ða-vít gọi quân binh và ông Áp-ne, con ông Ne, rằng: &#8220;Ông không trả lời sao, ông Áp-ne?&#8221; Ông Áp-ne trả lời rằng: &#8220;Ngươi là ai mà dám gọi đức vua?&#8221; <sup>15</sup> Ông Ða-vít nói với ông Áp-ne: &#8220;Ông không phải là nam nhi sao? Và trong Ít-ra-en, có ai được như ông? Vậy tại sao ông đã không canh giữ đức vua, chúa thượng của ông? Có một người dân đã đến để giết đức vua, chúa thượng của ông. <sup>16</sup> Ðiều ông đã làm, thật không tốt. Có Ðức Chúa hằng sống! Các ông đáng chết vì đã không canh giữ chúa thượng của các ông, đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong. Bây giờ hãy xem: cây giáo của đức vua đâu rồi, và bình nước ở phía đầu người đâu rồi?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Vua Sa-un nhận ra tiếng ông Ða-vít và nói: &#8220;Ða-vít con cha, có phải tiếng của con đấy không?&#8221; Ông Ða-vít nói: &#8220;Thưa đức vua là chúa thượng của con, vâng, tiếng con đó!&#8221; <sup>18</sup> Rồi ông nói: &#8220;Tại sao chúa thượng lại đuổi theo tôi tớ ngài? Con đã làm gì và tay con đã làm điều gì ác? <sup>19</sup> Bây giờ xin đức vua là chúa thượng của con vui lòng nghe tôi tớ ngài nói. Nếu là Ðức Chúa đã xúi ngài chống con, thì xin Người ngửi mùi thơm của lễ phẩm. Nhưng nếu là người phàm, thì xin cho chúng bị nguyền rủa trước nhan Ðức Chúa, vì chúng đã xua đuổi con hôm nay, không cho con được dự phần cơ nghiệp của Ðức Chúa, khi chúng bảo: &#8220;Hãy đi mà thờ các thần khác! <sup>20</sup> Bây giờ xin cho máu con đừng chảy xuống đất xa nhan Ðức Chúa, vì đức vua Ít-ra-en đã ra trận để tìm bắt một con bọ chét, như người ta đuổi theo một con chim cuốc trong vùng núi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Vua Sa-un nói: &#8220;Cha thật đắc tội! Ða-vít con cha, trở về đi! Cha sẽ không hại con nữa, bởi vì ngày hôm nay con đã coi mạng sống của cha là quý. Phải, cha đã hành động ngu xuẩn, cha đã sai lỗi nặng nề!&#8221; <sup>22</sup> Ông Ða-vít trả lời: &#8220;Cây giáo của đức vua đây. Một trong các đầy tớ hãy sang mà lấy. <sup>23</sup> Xin Ðức Chúa thưởng công cho mỗi người tuỳ theo sự công chính và lòng trung thành của họ: hôm nay Ðức Chúa đã nộp cha vào tay con, nhưng con đã không muốn tra tay hại đấng Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong. <sup>24</sup> Hôm nay con đã coi trọng mạng sống cha, thì xin Ðức Chúa cũng coi trọng mạng sống con như vậy, và giải thoát con khỏi mọi cảnh ngặt nghèo.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Vua Sa-un nói với ông Ða-vít: &#8220;Ða-vít con cha ơi, con được chúc phúc! Chắc chắn con sẽ làm việc lớn, và sẽ thành công.&#8221; Ông Ða-vít tiếp tục con đường của mình, còn vua Sa-un thì trở về nhà.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 27 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Ông Ða-Vít Ðến Với Người Phi-Li-Tinh</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít trốn đi Gát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Ða-vít tự bảo: &#8220;Giờ đây, một ngày nào đó, tôi sẽ phải mất mạng bởi tay vua Sa-un. Không gì tốt hơn cho tôi là thoát sang đất người Phi-li-tinh. Vua Sa-un sẽ thôi không tìm bắt tôi trong toàn lãnh thổ Ít-ra-en nữa, và tôi sẽ thoát khỏi tay vua.&#8221; <sup>2</sup> Ông Ða-vít lên đường và cùng với sáu trăm người theo ông, sang với vua thành Gát là A-khít, con ông Ma-ốc. <sup>3</sup> Ông Ða-vít ở lại với vua A-khít tại Gát, cùng với các người của ông, mỗi người với gia đình mình, ông Ða-vít với hai bà vợ là bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en, và bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men. <sup>4</sup> Người ta báo cho vua Sa-un là ông Ða-vít đã trốn đi Gát, và vua không còn tìm bắt ông Ða-vít nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít làm chư hầu người Phi-li-tinh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông Ða-vít nói với vua A-khít: &#8220;Nếu tôi được đẹp lòng ngài, thì xin cho tôi một chỗ trong thành nào đó ở vùng quê để tôi ở. Tôi tớ ngài ở gần ngài trong hoàng thành sao được?&#8221; <sup>6</sup> Ngay hôm đó, vua A-khít cho ông thành Xích-lắc; vì vậy Xích-lắc thuộc về các vua Giu-đa cho đến ngày nay. <sup>7</sup> Thời gian ông Ða-vít ở vùng quê Phi-li-tinh là một năm bốn tháng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông Ða-vít và người của ông lên cướp phá vùng đất của người Gơ-sua, người Ghe-de và người A-ma-lếch, vì đó là những dân ở miền ấy từ xa xưa, trên đường vào Sua cho đến tận Ai-cập. <sup>9</sup> Ông Ða-vít đánh phá vùng đất ấy và không để một người đàn ông hay đàn bà nào sống sót; ông lấy chiên dê bò lừa, lạc đà và quần áo, rồi trở về và đến gặp vua A-khít. <sup>10</sup> Vua A-khít hỏi: &#8220;Hôm nay các ông đi cướp phá ở đâu?&#8221; Ông trả lời là ở vùng Ne-ghép của Giu-đa, hoặc ở vùng Ne-ghép của người Giơ-rác-mơ-ên, hoặc ở vùng Ne-ghép của người Kê-ni. <sup>11</sup> Ông Ða-vít không để một người đàn ông hay đàn bà nào sống sót mà đem về Gát; ông nói: &#8220;Sợ chúng báo cáo có hại cho chúng ta mà nói: &#8220;Ông Ða-vít đã làm như thế&#8221;.&#8221; Ðó là cách xử sự của ông Ða-vít trong thời gian ông ở tại vùng quê Phi-li-tinh. <sup>12</sup> Vua A-khít tin ông Ða-vít; vua nói: &#8220;Nó đã làm cho nó trở nên đáng ghét đối với Ít-ra-en, dân của nó, và nó sẽ là tôi tớ ta mãi mãi.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 28 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Phi-li-tinh đi đánh Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thời ấy, người Phi-li-tinh tập hợp quân đội để ra trận giao chiến với Ít-ra-en. Vua A-khít nói với ông Ða-vít: &#8220;Ông phải biết rằng ông và người của ông sẽ ra quân với tôi.&#8221; <sup>2</sup> Ông Ða-vít nói với vua A-khít: &#8220;Thế thì ngài sẽ biết tôi tớ ngài làm được gì.&#8221; Vua A-khít bảo ông Ða-vít: &#8220;Vậy tôi sẽ đặt ông làm người hộ vệ tôi suốt đời.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Sa-un và bà đồng bóng tại Ên Ðo</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ông Sa-mu-en đã qua đời, toàn thể Ít-ra-en đã cử hành tang lễ cho ông và chôn cất ông ở Ra-ma, thành của ông. Vua Sa-un trục xuất các người đồng bóng và thầy bói ra khỏi xứ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Người Phi-li-tinh tập hợp lại và đến đóng trại ở Su-nêm. Vua Sa-un tập hợp toàn thể Ít-ra-en, và họ đóng trại ở Ghin-bô-a. <sup>5</sup> Vua Sa-un thấy trại của người Phi-li-tinh thì sợ và tim ông đập mạnh. <sup>6</sup> Ông thỉnh ý Ðức Chúa nhưng Ðức Chúa không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ u-rim, hay qua trung gian ngôn sứ. <sup>7</sup> Vua Sa-un bảo triều thần: &#8220;Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy.&#8221; Triều thần nói với vua: &#8220;Thưa có một bà đồng bóng ở Ên Ðo.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Vua Sa-un cải trang, mặc áo khác rồi ra đi, có hai người cùng đi với vua. Ðang đêm, họ đến nhà người đàn bà, và vua nói: &#8220;Xin bà ngồi đồng mà bói cho tôi, và hãy gọi lên cho tôi người tôi sẽ nói cho bà biết.&#8221; <sup>9</sup> Người đàn bà nói với vua: &#8220;Này chính ông biết điều vua Sa-un đã làm: vua đã diệt trừ các người đồng bóng và các thầy bói trong xứ. Vậy tại sao ông lại gài bẫy hại tôi để làm cho tôi phải chết?&#8221; <sup>10</sup> Vua Sa-un lấy Ðức Chúa mà thề với bà ấy: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống, tôi xin thề rằng bà sẽ không mắc lỗi trong việc này.&#8221; <sup>11</sup> Người đàn bà nói: &#8220;Tôi phải gọi ai lên cho ông?&#8221; Vua trả lời: &#8220;Bà gọi ông Sa-mu-en lên cho tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Người đàn bà trông thấy ông Sa-mu-en và rú lên. Người đàn bà nói với vua Sa-un: &#8220;Tại sao ngài lại đánh lừa tôi? Ngài là vua Sa-un!&#8221; <sup>13</sup> Vua nói với bà: &#8220;Ðừng sợ! Bà đã trông thấy gì?&#8221; Người đàn bà trả lời vua Sa-un: &#8220;Tôi đã trông thấy một thần linh đang từ đất đi lên.&#8221; <sup>14</sup> Vua hỏi: &#8220;Hình dáng thế nào?&#8221; Bà đáp: &#8220;Một cụ già đi lên, mình quấn áo choàng.&#8221; Vua Sa-un biết đó là ông Sa-mu-en, liền sấp mặt sát đất mà lạy. <sup>15</sup> Ông Sa-mu-en hỏi vua Sa-un: &#8220;Tại sao ngài lại gọi tôi lên mà quấy rầy tôi?&#8221; Vua Sa-un trả lời: &#8220;Tôi lâm vào cảnh rất ngặt nghèo. Người Phi-li-tinh đang giao chiến với tôi, và Thiên Chúa đã rời khỏi tôi: Người không trả lời tôi nữa, dù qua trung gian ngôn sứ, hay qua giấc mộng. Vậy tôi đã gọi ông, để ông cho tôi biết tôi phải làm gì.&#8221; <sup>16</sup> Ông Sa-mu-en nói: &#8220;Tại sao ngài thỉnh ý tôi, trong khi Ðức Chúa đã rời khỏi ngài và đã trở nên thù địch với ngài? <sup>17</sup> Ðức Chúa đã hành động như Người đã dùng tôi mà phán: Ðức Chúa đã giật vương quyền ra khỏi tay ngài và ban cho một người khác là Ða-vít. <sup>18</sup> Bởi vì ngài đã không nghe tiếng Ðức Chúa và đã không trút cơn thịnh nộ của Người xuống A-ma-lếch, cho nên hôm nay Ðức Chúa đã xử với ngài như thế. <sup>19</sup> Cùng với ngài, Ðức Chúa sẽ trao cả Ít-ra-en nữa vào tay người Phi-li-tinh. Ngày mai, ngài và các con trai ngài sẽ ở với tôi. Cả quân đội Ít-ra-en nữa, Ðức Chúa cũng sẽ trao vào tay người Phi-li-tinh.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Lập tức vua Sa-un ngã sóng sượt xuống đất: vua quá sợ hãi vì lời ông Sa-mu-en nói. Hơn nữa, vua không còn sức, vì suốt ngày suốt đêm hôm ấy đã không ăn gì. <sup>21</sup> Người đàn bà đến bên vua Sa-un và thấy vua quá kinh hoàng thì nói với vua: &#8220;Ngài coi, nữ tỳ ngài đã nghe theo ngài. Tôi đã liều mạng và vâng nghe những lời ngài truyền cho tôi. <sup>22</sup> Vậy bây giờ, xin ngài cũng vui lòng nghe theo nữ tỳ ngài: tôi xin dọn cho ngài miếng bánh, và xin ngài ăn để có sức tiếp tục lên đường.&#8221; <sup>23</sup> Vua từ chối và nói: &#8220;Ta sẽ không ăn đâu.&#8221; Các người theo hầu cũng như người đàn bà nài nỉ vua, nên vua nghe theo họ. Vua trỗi dậy từ dưới đất và ngồi lên giường. <sup>24</sup> Người đàn bà có một con bê béo trong nhà. Bà vội vàng làm thịt, lấy bột mà nhồi, rồi nướng bánh không men. <sup>25</sup> Bà dọn ra trước mặt vua Sa-un và trước mặt các người theo hầu vua. Họ ăn rồi đứng dậy và đi ngay đêm ấy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 29 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các người chỉ huy Phi-li-tinh cho ông Ða-vít về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Phi-li-tinh tập họp toàn thể quân đội tại A-phếch, còn người Ít-ra-en thì đóng trại tại suối nước ở Gít-rơ-en. <sup>2</sup> Các vương hầu người Phi-li-tinh dẫn đầu các đoàn một trăm, một ngàn quân đi diễu hành; ông Ða-vít và người của ông diễu hành sau cùng với vua A-khít. <sup>3</sup> Các người chỉ huy Phi-li-tinh hỏi: &#8220;Bọn Híp-ri kia là gì vậy?&#8221; Vua A-khít nói với các người chỉ huy Phi-li-tinh: &#8220;Ðó là Ða-vít, tôi tớ ông Sa-un, vua Ít-ra-en, chứ ai! Hắn ở với tôi từ một hai năm nay, và tôi không thấy nơi hắn điều gì đáng trách, từ ngày hắn về đầu hàng tôi cho đến hôm nay.&#8221; <sup>4</sup> Các người chỉ huy Phi-li-tinh nổi giận với vua và nói: &#8220;Ông hãy cho người ấy về, nó hãy về nơi ông đã chỉ định cho nó. Nó không được cùng với chúng ta xuống giao chiến, kẻo nó trở nên địch thủ của chúng ta trong chiến trận. Nó sẽ dùng gì mà lấy lòng chúa thượng nó, nếu không phải là dùng đầu của những người này? <sup>5</sup> Tên này chẳng phải là Ða-vít mà người ta đã múa nhảy hát mừng rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Vua Sa-un hạ được hàng ngàn,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ông Ða-vít hàng vạn&#8221;?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vua A-khít gọi ông Ða-vít lại và nói với ông: &#8220;Có Ðức Chúa hằng sống, ông là người ngay thẳng. Tôi lấy làm vui thấy ông cùng với tôi ra vào chiến đấu, vì tôi không thấy điều gì xấu nơi ông, từ ngày ông đến với tôi cho đến ngày hôm nay. Nhưng ông không được lòng các vương hầu. <sup>7</sup> Vậy ông hãy về và ra đi bình an. Ông đừng làm điều gì phật lòng các vương hầu người Phi-li-tinh.&#8221; <sup>8</sup> Ông Ða-vít nói với vua: &#8220;Tôi đã làm gì? Từ ngày tôi phục vụ ngài cho đến hôm nay ngài đã thấy điều gì đáng trách nơi tôi tớ ngài, khiến tôi không thể đến giao chiến với các kẻ thù của đức vua là chúa thượng tôi?&#8221; <sup>9</sup> Vua A-khít trả lời ông Ða-vít: &#8220;Tôi biết ông đẹp lòng tôi như một sứ giả của Thiên Chúa. Có điều là các người chỉ huy Phi-li-tinh đã nói: &#8220;Nó không được cùng với chúng ta lên giao chiến. <sup>10</sup> Vậy sáng mai ông hãy dậy sớm, cũng như các tôi tớ của chủ ông đã đến với ông. Các ông hãy dậy sớm, và khi trời sáng, hãy ra đi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Ða-vít dậy sớm cùng với người của ông, để ra đi ngay từ sáng sớm và trở về đất Phi-li-tinh. Còn người Phi-li-tinh thì lên Gít-rơ-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 30 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ða-vít tiến đánh người A-ma-lếch</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sang ngày thứ ba, khi ông Ða-vít và người của ông đến Xích-lắc, thì người A-ma-lếch đã cướp phá miền Ne-ghép và thành Xích-lắc. Chúng phá phách Xích-lắc và phóng hoả đốt thành. <sup>2</sup> Chúng bắt đàn bà và mọi người trong thành, từ nhỏ đến lớn, làm tù, nhưng không giết ai. Chúng dẫn họ đi và tiếp tục lên đường. <sup>3</sup> Khi ông Ða-vít và người của ông đến thành thì thấy thành đã bị phóng hoả, và vợ cùng con trai con gái của họ đã bị bắt làm tù. <sup>4</sup> Ông Ða-vít và quân binh ở với ông oà lên khóc cho đến khi không còn sức khóc nữa. <sup>5</sup> Hai bà vợ của ông Ða-vít cũng bị bắt làm tù, đó là bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en, và bà A-vi-ga-gin, vợ ông Na-van người Các-men.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Ða-vít lâm vào cảnh rất ngặt nghèo vì người ta bàn chuyện ném đá ông; thật vậy, tâm hồn ai cũng cay đắng khi nghĩ đến con trai con gái của mình. Nhưng ông Ða-vít lấy lại can đảm, nhờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông. <sup>7</sup> Ông Ða-vít bảo tư tế Ép-gia-tha, con ông A-khi-me-léc: &#8220;Xin ông đem ê-phốt lại đây cho tôi.&#8221; Ông Ép-gia-tha đem ê-phốt lại cho ông Ða-vít. <sup>8</sup> Ông Ða-vít thỉnh ý Ðức Chúa rằng: &#8220;Con có nên rượt theo bọn cướp đó không? Con có đuổi kịp chúng không?&#8221; Người phán với ông: &#8220;Cứ rượt theo, vì ngươi sẽ đuổi kịp và chắc chắn ngươi sẽ giải thoát được tù.&#8221; <sup>9</sup> Ông Ða-vít đi cùng với sáu trăm người theo ông; khi họ đến khe nước Bơ-xo thì một số người đã dừng lại. <sup>10</sup> Ông tiếp tục rượt theo cùng với bốn trăm người. Hai trăm người đã dừng lại vì quá mệt, không đủ sức sang qua khe nước Bơ-xo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Người ta thấy một tên Ai-cập ngoài đồng, liền bắt đem đến ông Ða-vít. Họ cho nó bánh, nó ăn, rồi họ cho nó uống nước. <sup>12</sup> Họ cho nó một miếng bánh vả và hai chùm nho khô. Ăn xong, nó hoàn hồn, vì đã ba ngày ba đêm nó chẳng ăn uống gì. <sup>13</sup> Ông Ða-vít hỏi nó: &#8220;Anh là người của ai và quê ở đâu?&#8221; Nó đáp: &#8220;Tôi là một thanh niên Ai-cập, nô lệ của một người A-ma-lếch. Chủ tôi bỏ tôi lại vì tôi ngã bệnh, nay đã ba ngày. <sup>14</sup> Chúng tôi đã cướp phá vùng Ne-ghép của người Cơ-rê-thi, vùng Ne-ghép của Giu-đa và vùng Ne-ghép của Ca-lếp, và chúng tôi đã phóng hoả đốt Xích-lắc.&#8221; <sup>15</sup> Ông Ða-vít nói: &#8220;Anh có muốn đưa tôi xuống chỗ bọn cướp ấy không?&#8221; Nó đáp: &#8220;Ông hãy lấy Thiên Chúa mà thề với tôi là ông sẽ không giết tôi, và sẽ không nộp tôi vào tay chủ tôi, thì tôi sẽ đưa ông xuống chỗ bọn cướp đó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nó đưa ông xuống, và kìa chúng đang tản mác khắp miền, chè chén, ăn mừng số chiến lợi phẩm lớn đã cướp được ở đất Phi-li-tinh và ở đất Giu-đa. <sup>17</sup> Ông Ða-vít đánh giết chúng từ hừng đông cho đến chiều hôm sau. Không tên nào thoát, trừ bốn trăm thanh niên cưỡi lạc đà chạy trốn. <sup>18</sup> Ông Ða-vít giải thoát tất cả những gì người A-ma-lếch đã cướp; ông cũng giải thoát hai bà vợ của ông. <sup>19</sup> Họ không mất gì: từ người nhỏ đến người lớn, con trai, con gái họ, chiến lợi phẩm và tất cả những gì chúng đã lấy của họ, ông Ða-vít đem về tất cả. <sup>20</sup> Ông Ða-vít lấy tất cả chiên dê và bò. Người ta đi trước, dẫn theo đàn vật và nói: &#8220;Ðây là chiến lợi phẩm của ông Ða-vít!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ông Ða-vít đến chỗ hai trăm người đã quá mệt, không đủ sức đi theo ông Ða-vít, và đã bị bỏ lại ở khe nước Bơ-xo. Họ ra đón ông Ða-vít và đón quân binh đi với ông. Ông Ða-vít cùng với quân binh lại gần và vấn an họ. <sup>22</sup> Nhưng tất cả những kẻ xấu và những tên vô lại trong đám người đã đi với ông Ða-vít lên tiếng nói: &#8220;Bởi vì họ đã không đi với chúng tôi, nên chúng tôi sẽ không cho họ phần chiến lợi phẩm chúng tôi đã lấy lại được, ngoại trừ vợ con của mỗi người. Họ hãy dẫn những người ấy mà đi.&#8221; <sup>23</sup> Nhưng ông Ða-vít nói: &#8220;Thưa anh em, đừng làm như thế với những thứ Ðức Chúa đã ban cho chúng ta. Người đã gìn giữ chúng ta và trao vào tay chúng ta bọn cướp đến tấn công chúng ta. <sup>24</sup> Ai có thể nghe anh em trong việc này? Vì</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Phần của người xuống giao chiến thế nào,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">phần của người ở lại giữ đồ đạc cũng vậy:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">họ sẽ cùng nhau chia phần.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Từ ngày đó về sau, ông đặt điều ấy thành luật lệ và quy định cho Ít-ra-en cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Khi ông Ða-vít đến Xích-lắc, ông gửi những phần chiến lợi phẩm cho các kỳ mục Giu-đa, đồng bào của ông, mà nói: &#8220;Ðây là quà tặng anh em, lấy từ chiến lợi phẩm cướp được của các kẻ thù Ðức Chúa.&#8221; <sup>27</sup> Ông gửi cho: những người ở Bết Ên, những người ở Ra-mốt Ne-ghép, những người ở Giát-tia, <sup>28</sup> những người ở A-rô-e, những người ở Xíp-mốt, những người ở Ét-tơ-mô-a, <sup>29</sup> những người ở Các-men, những người ở các thành người Giơ-rác-mơ-ên, những người ở các thành người Kê-ni, <sup>30</sup> những người ở Khoóc-ma, những người ở Bô A-san, những người ở A-tác, <sup>31</sup> những người ở Khép-rôn, và tất cả những nơi ông Ða-vít và người của ông đã thường qua lại.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 31 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trận Ghin-bô-a. Vua Sa-un tử trận.</strong> (1 Sb 10: 1-12)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Phi-li-tinh giao chiến với Ít-ra-en. Người Ít-ra-en chạy trốn trước mặt người Phi-li-tinh và bị tử thương ngã gục trên núi Ghin-bô-a. <sup>2</sup> Người Phi-li-tinh bám sát vua Sa-un cùng các con trai vua, và chúng giết ông Giô-na-than, ông A-vi-na-đáp và ông Man-ki Su-a, các con vua Sa-un. <sup>3</sup> Áp lực của mặt trận dồn về phía vua Sa-un. Lính bắn cung nhận ra vua. Vua rất run sợ khi thấy lính bắn cung. <sup>4</sup> Vua Sa-un bảo người hầu cận: &#8220;Rút gươm ra và đâm ta đi, kẻo bọn không cắt bì ấy đến đâm ta và ngạo ta.&#8221; Nhưng người hầu cận không dám vì quá sợ. Vua Sa-un mới lấy gươm ra và lao vào mũi gươm. <sup>5</sup> Người hầu cận thấy vua đã chết cũng lao mình vào mũi gươm của anh ta và chết theo vua. <sup>6</sup> Thế là vua Sa-un, với ba con trai, người hầu cận và mọi người của vua đều cùng chết ngày hôm đó. <sup>7</sup> Người Ít-ra-en ở bên kia thung lũng và ở bên kia sông Gio-đan, thấy người Ít-ra-en chạy trốn và vua Sa-un cùng các con vua đã chết, thì bỏ các thành của họ mà chạy trốn. Người Phi-li-tinh đến và chiếm cứ các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ngày hôm sau, người Phi-li-tinh đến lột các xác chết, thì tìm thấy vua Sa-un và ba người con trai nằm trên núi Ghin-bô-a. <sup>9</sup> Chúng chặt đầu vua và tước võ khí của vua. Rồi chúng sai người rảo quanh khắp xứ Phi-li-tinh, để báo tin mừng cho đền thần của chúng và cho dân. <sup>10</sup> Chúng đặt võ khí của vua Sa-un trong đền các thần Át-tô-rét, còn thi hài vua thì chúng bêu ở tường thành Bết San.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Khi dân thành Gia-vết miền Ga-la-át nghe biết cách người Phi-li-tinh đã đối xử với vua Sa-un, <sup>12</sup> thì tất cả các người can đảm đã lên đường, đi suốt đêm, lấy thi hài vua và thi hài các con vua khỏi tường thành Bết San, rồi trở về Gia-vết và thiêu tại đó.13 Họ lấy hài cốt và chôn dưới cây liễu bách ở Gia-vết, rồi ăn chay bảy ngày.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/453/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=453&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-samuel-i-sa-mu-en-1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Bà Ruth (Rút)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-ba-ruth-rut/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-ba-ruth-rut/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 18:04:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.3. Sách Bà Ruth (Rút)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=451</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - Rút và bà Na-o-mi 1 Vào thời các thủ lãnh cai trị, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người cùng với vợ và hai con trai bỏ Bê-lem miền Giu-đa mà đến ở trong cánh đồng Mô-áp. 2 Tên người đàn ông là Ê-li-me-léc, tên người vợ ấy [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=451&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Rút và bà Na-o-mi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vào thời các thủ lãnh cai trị, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người cùng với vợ và hai con trai bỏ Bê-lem miền Giu-đa mà đến ở trong cánh đồng Mô-áp. <sup>2</sup> Tên người đàn ông là Ê-li-me-léc, tên người vợ ấy là Na-o-mi và tên của hai con trai là Mác-lôn và Kin-giôn. Họ là người Ép-ra-tha thuộc xứ Bê-lem miền Giu-đa. Họ đến cánh đồng Mô-áp và ở lại đó. <sup>3</sup> Rồi ông Ê-li-me-léc, chồng bà Na-o-mi, chết đi, còn lại bà Na-o-mi và hai đứa con. <sup>4</sup> Hai người này lấy vợ Mô-áp, một người tên là Oóc-pa, người kia tên là Rút. Họ ở lại đó chừng mười năm.</span></p>
<p align="justify"><span id="more-451"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Rồi Mác-lôn và Kin-giôn cả hai đều chết, còn lại bà Na-o-mi mất chồng, mất con. <sup>6</sup> Bà lên đường cùng với hai người con dâu, bỏ cánh đồng Mô-áp mà trở về quê hương, vì tại cánh đồng Mô-áp, bà nghe nói là Ðức Chúa đã viếng thăm dân Người và cho họ có bánh ăn. <sup>7</sup> Vậy bà cùng với hai con dâu ra khỏi nơi họ đã ở mà lên đường trở về xứ Giu-đa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Bà Na-o-mi nói với hai con dâu: &#8220;Thôi, mỗi người chúng con hãy trở về nhà mẹ mình. Xin Ðức Chúa tỏ lòng thương chúng con, như chúng con đã tỏ lòng thương những người quá cố và mẹ! <sup>9</sup> Xin Ðức Chúa cho mỗi người chúng con tìm được cuộc sống an nhàn dưới mái nhà một người chồng!&#8221; Rồi bà ôm hôn hai con dâu. Họ oà lên khóc. <sup>10</sup> Họ thưa: &#8220;Chúng con muốn cùng mẹ trở về với dân của mẹ.&#8221; <sup>11</sup> Bà Na-o-mi nói: &#8220;Các con ơi, về đi, theo mẹ làm gì? Trong lòng mẹ còn con trai nào nữa đâu mà gả chồng cho các con. <sup>12</sup> Về đi, các con ơi! Ði đi! Mẹ quá già rồi, không còn tái giá được nữa. Cho dù mẹ có nói được: mẹ còn hy vọng, ngay đêm nay sẽ lấy chồng và sinh được con trai, <sup>13</sup> thì chẳng lẽ chúng con cứ đợi mãi cho đến khi chúng lớn lên? Chẳng lẽ chúng con cứ ở vậy, không chịu lấy chồng? Không, các con ơi! Tình cảnh chúng con làm mẹ cay đắng lắm, vì tay Ðức Chúa giáng phạt mẹ.&#8221; <sup>14</sup> Hai người con dâu lại oà lên khóc. Oóc-pa ôm hôn từ giã mẹ chồng, còn Rút thì cứ khắng khít theo bà.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bà Na-o-mi nói: &#8220;Kìa chị dâu con trở về với dân tộc của nó và các thần của nó. Con cũng vậy, hãy theo chị dâu con mà về đi!&#8221; <sup>16</sup> Rút đáp: &#8220;Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mẹ đi đâu, con đi đó,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mẹ ở đâu, con ở đó,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dân của mẹ là dân của con,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Mẹ chết ở đâu, con chết ở đó,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và nơi đó con sẽ được chôn cất.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Xin Ðức Chúa phạt con thế này</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và thêm thế kia nữa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nếu con lìa xa mẹ</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà không phải vì cái chết!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Thấy Rút cứ một mực đi với mình, bà Na-o-mi không còn nói gì về chuyện đó nữa. <sup>19</sup> Hai mẹ con cùng đi cho đến khi tới Bê-lem. Họ tới Bê-lem, làm cả thành xôn xao. Các người phụ nữ hỏi: &#8220;Có phải bà Na-o-mi đấy không?&#8221; <sup>20</sup> Bà nói: &#8220;Ðừng gọi tôi là Na-o-mi nữa, hãy gọi tôi là Ma-ra, vì Ðấng Toàn Năng đã bắt tôi phải chịu quá nhiều cay đắng. <sup>21</sup> Tôi ra đi, của cải dư đầy, Ðức Chúa đem tôi về hai bàn tay trắng! Gọi tôi là Na-o-mi làm gì, trong khi Ðức Chúa đã làm cho tôi tủi nhục, Ðấng Toàn Năng đã để tôi đau khổ?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Thế là từ cánh đồng Mô-áp, bà Na-o-mi trở về cùng với con dâu người Mô-áp là Rút. Họ đã đến Bê-lem vào đầu mùa gặt lúa mạch.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cô Rút trong đồng ruộng của ông Bô-át</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bà Na-o-mi có một thân nhân bên họ nhà chồng, một người khá giàu, thuộc thị tộc Ê-li-me-léc. Người ấy tên là Bô-át. <sup>2</sup> Rút, người Mô-áp, nói với bà Na-o-mi: &#8220;Xin mẹ để con đi ra ruộng mót lúa đằng sau người nào có lòng nhân từ đoái nhìn con.&#8221; Bà trả lời: &#8220;Con cứ đi đi.&#8221; <sup>3</sup> Nàng đi và đến ruộng mót lúa đằng sau thợ gặt. Nàng may mắn gặp được một thửa ruộng của ông Bô-át, người trong thị tộc Ê-li-me-léc. <sup>4</sup> Và kìa ông Bô-át từ Bê-lem đến, nói với thợ gặt: &#8220;Xin Ðức Chúa ở cùng các anh!&#8221; Họ nói: &#8220;Xin Ðức Chúa giáng phúc cho ông!&#8221; <sup>5</sup> Ông Bô-át nói với người tôi tớ trông coi thợ gặt: &#8220;Cô kia là người của ai thế?&#8221; <sup>6</sup> Người tôi tớ trông coi thợ gặt trả lời: &#8220;Ðó là một thiếu phụ Mô-áp, người đã cùng với bà Na-o-mi từ cánh đồng Mô-áp trở về. <sup>7</sup> Cô đã nói: &#8220;Cho phép tôi mót và nhặt những bông lúa đằng sau thợ gặt. Cô ấy đã đến và ở lại từ sáng tới giờ: Cô ấy chẳng chịu nghỉ ngơi chút nào.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông Bô-át nói với Rút: &#8220;Này con, con có nghe không? Ðừng đi mót ở ruộng nào khác, cũng đừng rời khỏi đây, nhưng cứ theo sát các tớ gái của ta. <sup>9</sup> Con nhìn thửa ruộng chúng gặt và cứ đi theo chúng. Nào ta đã chẳng ra lệnh cho các tôi tớ không được đụng tới con sao? Nếu khát, con cứ đến chỗ để bình mà uống nước các tôi tớ đã múc.&#8221; <sup>10</sup> Rút liền cúi rạp xuống đất mà lạy ông, rồi nói: &#8220;Sao con lại được ông lấy lòng nhân từ đoái nhìn và quan tâm đến, dù con là một người ngoại quốc?&#8221; <sup>11</sup> Ông Bô-át đáp: &#8220;Người ta đã kể lại cho ta nghe tất cả những gì con đã làm cho mẹ chồng sau khi chồng con mất, cũng như chuyện con đã bỏ cả cha mẹ và quê hương, mà đến với một dân trước kia con không hề biết tới. <sup>12</sup> Xin Ðức Chúa trả công cho con vì những gì con đã làm! Chớ gì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, thưởng công bội hậu cho con, Người là Ðấng cho con ẩn náu dưới cánh Người!&#8221; <sup>13</sup> Nàng nói: &#8220;Thưa ông, ước gì con được ông lấy lòng nhân từ đoái nhìn, vì ông đã an ủi con và nói những lời thân ái với nữ tỳ của ông, mặc dù con không đáng làm một nữ tỳ của ông.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðến bữa ăn, ông Bô-át nói với nàng: &#8220;Con lại gần đây, lấy bánh chấm vào nước dấm mà ăn.&#8221; Nàng ngồi bên cạnh thợ gặt. Ông Bô-át đưa cho nàng một mớ lúa rang. Nàng ăn no và còn để dành nữa. <sup>15</sup> Rồi nàng trỗi dậy mót lúa. Ông Bô-át ra lệnh này cho các tôi tớ của ông: &#8220;Cho dù cô ấy có mót ngay giữa những bó lúa đi nữa, các anh cũng đừng nhục mạ cô ấy. <sup>16</sup> Hơn nữa, các anh hãy để ý rút vài bông lúa ra khỏi đống lúa đã gặt và để lại cho cô ấy mót. Ðừng trách móc cô ấy làm gì.&#8221; <sup>17</sup> Nàng mót trong ruộng cho đến chiều, rồi đập lúa đã mót. Tất cả được gần hai thùng lúa mạch.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Nàng đem lúa trở về thành và mẹ chồng thấy những gì nàng đã mót được. Rồi nàng lấy ra, đưa cho bà những gì nàng để dành sau khi ăn no. <sup>19</sup> Mẹ chồng nói với nàng: &#8220;Hôm nay con đã mót ở đâu? Con đã làm ở đâu? Xin Thiên Chúa giáng phúc cho người đã quan tâm đến con!&#8221; Nàng cho mẹ chồng biết mình đã làm ở ruộng người nào. Nàng nói: &#8220;Người đã cho con làm ở ruộng mình hôm nay tên là Bô-át.&#8221; <sup>20</sup> Bà Na-o-mi nói với con dâu: &#8220;Xin Ðức Chúa giáng phúc cho ông ấy, Người là Ðấng đã không từ chối tỏ lòng nhân nghĩa đối với kẻ sống và kẻ chết!&#8221; Bà lại nói: &#8220;Ông ấy là bà con gần của chúng ta, ông ấy là một trong những người bảo tồn dòng dõi của chúng ta.&#8221; <sup>21</sup> Rút người Mô-áp thưa: &#8220;Ông ấy còn nói với con: &#8220;Con cứ theo sát các tôi tớ của ta cho đến khi chúng gặt hái xong tất cả.&#8221; <sup>22</sup> Bà Na-o-mi bảo con dâu là Rút: &#8220;Con ơi, tốt hơn là con cứ đi ra với các tớ gái của ông ấy, để khỏi bị người ta ngược đãi trong ruộng khác.&#8221; <sup>23</sup> Vậy nàng theo sát các tớ gái của ông Bô-át để mót, cho đến hết mùa gặt lúa mạch và lúa mì. Và nàng vẫn ở với mẹ chồng.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Bô-át nằm ngủ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bà mẹ chồng Na-o-mi nói với Rút: &#8220;Con ơi, mẹ chẳng có bổn phận tìm cho con một chốn an nhàn để con được hạnh phúc sao? <sup>2</sup> Mà ông Bô-át không phải là chỗ bà con gần của chúng ta đó ư? Con lại đã chẳng ở với các tớ gái của ông ấy sao? Này, đêm nay ông phải rê lúa mạch dưới sân lúa. <sup>3</sup> Vậy con tắm rửa đi, xức dầu thơm, khoác áo choàng vào, rồi xuống sân lúa. Con đừng cho ông nhận ra con trước khi ông ăn uống xong. <sup>4</sup> Khi ông đi ngủ, con hãy để ý xem ông nằm chỗ nào, rồi đến lật góc chăn phủ chân ông mà nằm xuống. Ông sẽ cho con biết con phải làm gì.&#8221; <sup>5</sup> Rút thưa với bà: &#8220;Mẹ dạy gì, con sẽ làm tất cả.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Nàng xuống sân lúa và làm đúng như mẹ chồng đã dạy. <sup>7</sup> Ông Bô-át ăn uống xong, lòng vui tươi hớn hở. Ông đi ngủ ở đầu đống lúa. Rút nhẹ nhàng đi tới đó, lật góc chăn phủ chân ông và nằm xuống. <sup>8</sup> Vào giữa đêm, ông Bô-át rùng mình; ông trở mình thì thấy một phụ nữ nằm dưới chân. <sup>9</sup> Ông hỏi: &#8220;Chị là ai?&#8221; Nàng đáp: &#8220;Con là Rút, tớ gái của ông. Xin ông giăng vạt áo choàng ra mà phủ lấy tớ gái của ông, vì ông là người bảo tồn dòng dõi.&#8221; <sup>10</sup> Ông nói: &#8220;Này con, xin Ðức Chúa ban phúc lành cho con! Việc hiếu nghĩa thứ hai con đã làm còn có giá hơn việc trước: con đã không chạy theo các người trai trẻ, dù họ nghèo hay giàu. <sup>11</sup> Giờ đây, hỡi con, con đừng sợ. Tất cả những điều con sẽ nói, ta sẽ làm cho con. Vì mọi người hội họp ở cửa thành này đều biết con là một phụ nữ đức hạnh. <sup>12</sup> Quả thật, hiện nay ta là người bảo tồn dòng dõi, nhưng còn có người bảo tồn dòng dõi họ hàng với con gần hơn ta. <sup>13</sup> Con cứ qua đêm ở đây. Sáng mai, nếu người ấy muốn dùng quyền bảo tồn dòng dõi đối với con thì tốt, người ấy cứ việc; nếu người ấy không muốn thì, có Ðức Chúa hằng sống, ta thề sẽ dùng quyền đó! Hãy ngủ đi cho đến sáng.&#8221; <sup>14</sup> Nàng đã ngủ dưới chân ông cho đến sáng. Tờ mờ sáng, lúc chưa ai nhận ra ai, nàng đã chỗi dậy. Ông tự nhủ: &#8220;Không được để cho người ta biết là người phụ nữ này đã đến sân lúa.&#8221; <sup>15</sup> Ông nói: &#8220;Hãy đưa vạt áo choàng của con ra, và cầm chắc lấy.&#8221; Nàng cầm chắc rồi, thì ông đong cho nàng sáu đấu lúa mạch, rồi đặt lên vai nàng. Sau đó, nàng đi vào thành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nàng về đến nhà mẹ chồng, mẹ chồng hỏi: &#8220;Thế nào, con?&#8221; Nàng thuật lại cho mẹ chồng nghe tất cả những gì người đó đã làm cho nàng. <sup>17</sup> Nàng nói: &#8220;Ông ấy đã cho con sáu đấu lúa mạch này, vì ông nói: &#8220;Con không được trở về nhà mẹ chồng tay không.&#8221; <sup>18</sup> Bà nói: &#8220;Này con, con cứ ở nhà cho đến khi biết việc này ngã ngũ ra sao, vì ông ấy sẽ không chịu ở yên đâu, cho đến khi lo xong việc đó nội ngày hôm nay.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Bô-át cưới cô Rút</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Bô-át lên cửa thành và ngồi ở đó. Và này, người bảo tồn dòng dõi mà ông Bô-át đã nói tới, đi ngang qua. Ông Bô-át nói: &#8220;Này ông ơi, mời ông đến và ngồi xuống đây.&#8221; Người ấy đến và ngồi xuống. <sup>2</sup> Ông Bô-át chọn lấy mười người trong số các kỳ mục của thành và nói: &#8220;Mời các ông ngồi lại đây.&#8221; Họ ngồi xuống. <sup>3</sup> Ông nói với người bảo tồn dòng dõi: &#8220;Bà Na-o-mi từ cánh đồng Mô-áp mới về, định bán thửa ruộng của người anh em chúng ta là Ê-li-me-léc. <sup>4</sup> Phần tôi, tôi nghĩ là cần phải báo cho ông biết rằng: trước mặt quý vị hiện diện ở đây và các kỳ mục trong dân, ông hãy tậu thửa ruộng ấy! Nếu ông muốn dùng quyền bảo tồn dòng dõi của ông, thì xin hãy dùng; bằng không thì xin tuyên bố cho tôi biết, vì ngoài ông ra, không ai có quyền bảo tồn dòng dõi; còn tôi thì chỉ đứng sau ông.&#8221; Người ấy nói: &#8220;Vâng, tôi sẽ dùng quyền bảo tồn đó.&#8221; <sup>5</sup> Ông Bô-át nói: &#8220;Ngày nào ông tậu ruộng chính tay bà Na-o-mi bán, thì lúc đó ông cũng phải lấy cả cô Rút người Mô-áp, vợ của người quá cố, để gia nghiệp người đó mãi mãi mang tên người đó.&#8221; <sup>6</sup> Người bảo tồn dòng dõi nói: &#8220;Thế thì tôi không thể dùng quyền bảo tồn đó được, để khỏi làm hại gia nghiệp của tôi. Xin ông thay tôi mà dùng quyền đó, vì tôi không thể dùng được.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Theo phong tục thời xưa tại Ít-ra-en, khi có chuyện liên quan đến quyền bảo tồn hay việc đổi chác, để xác nhận việc đó, thì người này cởi dép trao cho người kia. Ðó là cách chứng nhận tại Ít-ra-en. <sup>8</sup> Người bảo tồn dòng dõi nói với ông Bô-át: &#8220;Ông hãy tậu cho ông đi&#8221;, rồi người ấy cởi dép ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Bô-át nói với các kỳ mục và toàn dân: &#8220;Hôm nay, xin quý vị làm chứng cho là tôi tậu từ tay bà Na-o-mi tất cả những gì thuộc về ông Ê-li-me-léc, tất cả những gì thuộc về Kin-giôn và Mác-lôn. <sup>10</sup> Và cả Rút người Mô-áp, vợ của Mác-lôn nữa, tôi cũng lấy làm vợ, để gia nghiệp người quá cố mãi mãi mang tên người đó, và để người đó khỏi bị xoá tên trong đám bà con họ hàng, cũng như trong số dân cư tụ họp tại cửa thành. Hôm nay, quý vị làm chứng cho điều đó.&#8221; <sup>11</sup> Toàn dân ở cửa thành và các kỳ mục đáp: &#8220;Chúng tôi xin làm chứng! Xin Ðức Chúa cho người phụ nữ sắp vào nhà ông được nên giống như bà Ra-khen và bà Lê-a, cả hai bà này đã xây dựng nhà Ít-ra-en!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúc ông được giàu có ở Ép-ra-tha!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúc ông được nổi tiếng ở Bê-lem!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Chớ gì dòng dõi mà Ðức Chúa sẽ ban cho ông, nhờ người thiếu phụ này, làm cho nhà của ông được nên giống như nhà của ông Pe-rét, là người con mà bà Ta-ma đã sinh cho ông Giu-đa!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Vậy ông Bô-át lấy cô Rút, và nàng trở thành vợ ông. Ông đến với nàng. Nhờ ơn Ðức Chúa, nàng đã thụ thai và sinh một con trai. <sup>14</sup> Các phụ nữ nói với bà Na-o-mi: &#8220;Chúc tụng Ðức Chúa, Ðấng hôm nay đã không để cho bà phải thiếu người bảo tồn dòng dõi: tên tuổi con trẻ sẽ được tung hô tại Ít-ra-en! <sup>15</sup> Nó sẽ giúp bà lấy lại sức sống, và sẽ là người nâng đỡ bà trong tuổi già, vì người con dâu biết yêu quý bà đã sinh ra nó, nàng quý giá hơn bảy đứa con trai.&#8221; <sup>16</sup> Bà Na-o-mi bế đứa trẻ lên và ôm vào lòng. Chính bà nuôi nấng đứa trẻ đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Các bà hàng xóm láng giềng đặt tên cho đứa trẻ và nói: &#8220;Bà Na-o-mi đã sinh được một cháu trai.&#8221; Họ đặt tên cho nó là Ô-vết. Ðó là cha của ông Gie-sê, là ông nội vua Ða-vít.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Gia phả vua Ða-vít</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ðây là dòng dõi của ông Pe-rét:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Pe-rét sinh Khét-rôn. <sup>19</sup> Khét-rôn sinh Ram; Ram sinh Am-mi-na-đáp. <sup>20</sup> Am-mi-na-đáp sinh Nác-sôn; Nác-sôn sinh Xan-môn. <sup>21</sup> Xan-môn sinh Bô-át; Bô-át sinh Ô-vết; <sup>22</sup> Ô-vết sinh Gie-sê; Gie-sê sinh Ða-vít.</span></p>
<p align="justify">
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/451/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=451&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-ba-ruth-rut/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Thẩm Phán (Thủ Lãnh)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-th%e1%ba%a9m-phan-th%e1%bb%a7-lanh/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-th%e1%ba%a9m-phan-th%e1%bb%a7-lanh/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 17:57:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.2. Sách Thẩm Phán (Thủ Lãnh)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=446</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - Lời Dẫn Thứ Nhất Kể Sơ Lược Về Cuộc Ðịnh Cư Tại Ca-Na-An Cuộc định cư của Giu-đa, Si-mê-ôn, Ca-lếp và Kê-ni (Gs 15: 13 -19) 1 Sau khi ông Giô-suê từ trần, con cái Ít-ra-en đã thỉnh ý Ðức Chúa rằng: &#8220;Ai trong chúng con sẽ lên đương đầu với [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=446&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Lời Dẫn Thứ Nhất</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Kể Sơ Lược Về Cuộc Ðịnh Cư Tại Ca-Na-An</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc định cư của Giu-đa, Si-mê-ôn, Ca-lếp và Kê-ni</strong> (Gs 15: 13 -19)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau khi ông Giô-suê từ trần, con cái Ít-ra-en đã thỉnh ý Ðức Chúa rằng: &#8220;Ai trong chúng con sẽ lên đương đầu với quân Ca-na-an trước tiên để giao tranh với chúng?&#8221; <sup>2</sup> Ðức Chúa phán: &#8220;Giu-đa sẽ lên: Này Ta đã trao đất ấy vào tay nó.&#8221; <sup>3</sup> Giu-đa liền nói với Si-mê-ôn, anh mình, rằng: &#8220;Mời anh cùng tôi lên phần đất tôi đã trúng thăm; chúng ta cùng chiến đấu chống quân Ca-na-an; tới lượt tôi, tôi sẽ cùng anh đi đến phần đất anh đã trúng thăm.&#8221; Và Si-mê-ôn đã cùng đi với ông ta. <sup>4</sup> Vậy Giu-đa đi lên; Ðức Chúa đã trao quân Ca-na-an và quân Pơ-rít-di vào tay họ; và tại Be-déc, họ đã đánh bại mười ngàn người của chúng. <sup>5</sup> Họ đã gặp A-đô-ni Be-déc tại Be-déc; họ liền tấn công y, đánh tan quân Ca-na-an và quân Pơ-rít-di. <sup>6</sup> A-đô-ni Be-déc tháo chạy, nhưng họ đã đuổi theo bắt được y, và chặt ngón tay cái và ngón chân cái của y. <sup>7</sup> A-đô-ni Be-déc nói: &#8220;Bảy mươi vua bị chặt ngón tay cái và ngón chân cái, đã ăn mót dưới gầm bàn của tôi. Tôi đã xử sự thế nào, thì Thiên Chúa cũng xử lại với tôi như vậy.&#8221; Họ đưa y vào Giê-ru-sa-lem và y đã chết tại đó. <sup>8</sup> Con cái Giu-đa đã tấn công Giê-ru-sa-lem, chiếm lấy thành, dùng gươm giết và nổi lửa đốt thành.</span></p>
<p align="justify"><span id="more-446"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Sau đó con cái Giu-đa đã xuống tấn công người Ca-na-an bấy giờ đang ở trên núi, ở vùng Ne-ghép và vùng Sơ-phê-la. <sup>10</sup> Giu-đa cũng tiến đánh quân Ca-na-an bấy giờ đang ở Khép-rôn, -tên của Khép-rôn trước kia là Kia-giát Ác-ba- và họ đã đánh bại Sê-sai, A-khi-man và Tan-mai. <sup>11</sup> Từ đấy họ tiến đánh dân cư thành Ðơ-via -tên của Ðơ-via trước kia là Kia-giát Xê-phe. <sup>12</sup> Ông Ca-lếp nói: &#8220;Ai đánh và chiếm được Kia-giát Xê-phe, tôi sẽ gả Ác-xa con gái tôi cho người ấy.&#8221; <sup>13</sup> Ót-ni-ên con ông Cơ-nát, em ông Ca-lếp, đã chiếm được thành; và ông Ca-lếp đã gả Ác-xa con gái mình cho Ót-ni-ên. <sup>14</sup> Khi cô ta đến, Ót-ni-ên liền xúi cô xin cha một thửa ruộng. Cô xuống lừa, và ông Ca-lếp hỏi cô: &#8220;Chuyện gì thế con?&#8221; <sup>15</sup> Cô thưa: &#8220;Xin cha cho con một món quà: vì cha đã cho con đất Ne-ghép, thì xin cũng cho con cả suối nước nữa.&#8221; Ông Ca-lếp đã cho cô suối trên suối dưới. <sup>16</sup> Con cái ông Kê-ni, nhạc phụ ông Mô-sê, đã từ Thành Chà Là cùng với con cái Giu-đa đi lên sa mạc Giu-đa, trong vùng Ne-ghép A-rát. Họ đã đi và đến ở với dân ấy. <sup>17</sup> Giu-đa đã đi với Si-mê-ôn anh mình. Họ tấn công quân Ca-na-an bấy giờ đang ở Xơ-phát và đã tru diệt chúng. Người ta đã gọi tên thành ấy là Khoóc-ma. <sup>18</sup> Rồi Giu-đa chiếm Ga-da và vùng lân cận, chiếm Át-cơ-lôn và vùng lân cận, chiếm Éc-rôn và vùng lân cận. <sup>19</sup> Ðức Chúa phù trợ Giu-đa và ông đã chiếm giữ vùng núi; nhưng ông không trục xuất được dân cư vùng đồng bằng, vì chúng có xe sắt. <sup>20</sup> Các ông đã cứ lời ông Mô-sê mà giao Khép-rôn cho ông Ca-lếp, và ông này đã đuổi ba người con của A-nác ra khỏi đó. <sup>21</sup> Còn những người Giơ-vút cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, thì con cái Ben-gia-min đã không đánh đuổi họ; vì thế những người Giơ-vút vẫn ở với con cái Ben-gia-min tại Giê-ru-sa-lem cho tới ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm Bết Ên</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nhà Giu-se cũng tiến lên Bết Ên và Ðức Chúa ở với họ. <sup>23</sup> Nhà Giu-se đã cho người do thám Bết Ên -tên thành này trước kia là Lút. <sup>24</sup> Các thám tử gặp một người đàn ông từ trong thành đi ra, liền nói với người ấy: &#8220;Chỉ cho chúng tôi lối vào thành; chúng tôi sẽ xử khoan hồng với anh!&#8221; <sup>25</sup> Người ấy chỉ cho họ lối vào thành, và họ đã dùng gươm tàn sát cả thành; còn người ấy cùng với cả thị tộc thì họ để cho đi. <sup>26</sup> Người ấy ra đi đến đất người Khết, xây một thành và đặt tên là Lút. Ðó là tên của thành ấy cho tới ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các chi tộc phía bắc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Mơ-na-se không đánh thắng được Bết San và các vùng phụ thuộc, cũng như Ta-nác và các vùng phụ thuộc, cũng chẳng đánh thắng được dân cư thành Ðo và các vùng phụ thuộc, dân cư thành Gíp-lơ-am và các vùng phụ thuộc, dân cư thành Mơ-ghít-đô và các vùng phụ thuộc. Người Ca-na-an quyết ở lại trong đất đó. <sup>28</sup> Nhưng khi Ít-ra-en trở nên hùng cường, thì bắt người Ca-na-an làm nô dịch cho mình, chứ không trục xuất được chúng. <sup>29</sup> Ép-ra-im không trục xuất được người Ca-na-an cư ngụ ở Ghe-de, và người Ca-na-an vẫn sống giữa họ ở Ghe-de. <sup>30</sup> Dơ-vu-lun không trục xuất được dân cư thành Kít-rôn và dân cư thành Na-ha-lôn; người Ca-na-an vẫn sống giữa họ, nhưng phải làm nô dịch cho họ. <sup>31</sup> A-se không trục xuất được dân cư thành Ác-cô, dân cư thành Xi-đôn, Ác-láp, Ác-díp, Khen-ba, A-phích và Rơ-khốp. <sup>32</sup> Thế là người A-se cư ngụ giữa người Ca-na-an đang sống trên đất ấy, vì họ đã không trục xuất được chúng. <sup>33</sup> Náp-ta-li không trục xuất được dân cư thành Bết Se-mét và dân cư thành Bết A-nát, nên họ cư ngụ giữa người Ca-na-an đang sống trong đất ấy, nhưng dân cư thành Bết Se-mét và Bết A-nát đã phải làm nô dịch cho họ. <sup>34</sup> Người E-mô-ri đã dồn con cháu Ðan lên vùng núi, không để cho họ xuống đồng bằng. <sup>35</sup> Người E-mô-ri quyết giữ vững Ha Khe-rét, Ai-gia-lôn và Sa-an-vim; nhưng khi bàn tay nhà Giu-se đè nặng trên chúng, thì chúng đã phải làm nô dịch cho họ. <sup>36</sup> Ranh giới của người E-mô-ri chạy dài từ dốc Ác-ráp-bim, từ Núi Ðá trở lên.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thần sứ của Ðức Chúa cho Ít-ra-en biết trước những điều bất hạnh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thần sứ của Ðức Chúa từ Ghin-gan lên Bô-khim và nói: &#8220;Ta đã đưa các ngươi lên từ Ai-cập và dẫn vào đất Ta đã thề ban cho tổ tiên các ngươi. Ta đã phán: Chẳng bao giờ Ta phá huỷ Giao Ước của Ta với các ngươi. <sup>2</sup> Còn các ngươi thì không được kết ước với dân cư trong xứ này; phải triệt hạ các bàn thờ của chúng. Nhưng các ngươi đã không nghe lời Ta. Các ngươi đã làm gì thế? <sup>3</sup> Vậy Ta bảo: Ta sẽ không đuổi chúng cho khuất mắt các ngươi, và chúng sẽ sống kè kè bên các ngươi; các thần của chúng sẽ là cạm bẫy cho các ngươi.&#8221; <sup>4</sup> Khi thần sứ của Ðức Chúa nói những lời ấy cho toàn thể con cái Ít-ra-en, thì dân oà lên khóc. <sup>5</sup> Thế là người ta đặt tên cho nơi ấy là Bô-khim và họ đã tế lễ kính Ðức Chúa tại đó.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Lời Dẫn Thứ Hai</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Nhận Ðịnh Tổng Quát Về Thời Các Thủ Lãnh</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuối đời ông Giô-suê</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Bấy giờ ông Giô-suê giải tán dân chúng, và con cái Ít-ra-en ai nấy về nơi mình đã trúng thăm làm gia nghiệp, để chiếm hữu đất đai. <sup>7</sup> Dân đã phục vụ Ðức Chúa suốt thời ông Giô-suê và suốt thời các kỳ mục là những người sống lâu sau ông Giô-suê, và đã chứng kiến tất cả những công cuộc vĩ đại Ðức Chúa đã thực hiện cho Ít-ra-en. <sup>8</sup> Ông Giô-suê, con ông Nun, tôi trung của Ðức Chúa, từ trần, thọ một trăm mười tuổi. <sup>9</sup> Người ta chôn cất ông tại thửa đất ông đã nhận được làm gia nghiệp ở Tim-nát Khe-rét trong vùng núi Ép-ra-im, phía bắc núi Ga-át. <sup>10</sup> Khi đến lượt cả thế hệ ấy về sum họp với tổ tiên mình, thì xuất hiện một thế hệ kế tiếp không hề biết Ðức Chúa và những công cuộc Người đã thực hiện cho Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ý nghĩa tôn giáo thời các thủ lãnh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Con cái Ít-ra-en đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, và đã làm tôi các thần Ba-an. <sup>12</sup> Họ đã lìa bỏ Ðức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên, Ðấng đã đưa họ ra khỏi đất Ai-cập, và họ đã đi theo các thần ngoại lai trong số các thần của các dân chung quanh. Họ sụp lạy các thần ấy và chọc giận Ðức Chúa. <sup>13</sup> Họ đã lìa bỏ Ðức Chúa để làm tôi thần Ba-an và các nữ thần Át-tô-rét. <sup>14</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en và đã trao họ vào tay quân cướp cho chúng tha hồ bóc lột; Người đã trao họ vào tay kẻ thù chung quanh, nên họ không thể đương đầu nổi với kẻ thù. <sup>15</sup> Cứ mỗi lần họ xuất trận là tay Ðức Chúa giáng hoạ trên họ, như Ðức Chúa đã phán và thề với họ. Họ lâm cảnh khốn cùng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Bấy giờ Ðức Chúa cho xuất hiện các thủ lãnh để giải thoát họ khỏi tay những kẻ cướp phá họ. <sup>17</sup> Nhưng rồi các thủ lãnh của họ, họ cũng chẳng nghe mà cứ đàng điếm với các thần ngoại lai và sụp lạy các thần đó. Họ vội từ bỏ con đường cha ông họ đã đi, là tuân giữ mệnh lệnh của Ðức Chúa; họ đã không noi gương các ngài. <sup>18</sup> Khi Ðức Chúa cho xuất hiện các thủ lãnh để giúp họ, thì Ðức Chúa ở với vị thủ lãnh và Người cứu họ khỏi tay quân thù bao lâu vị thủ lãnh còn sống, vì Ðức Chúa động lòng trắc ẩn trước những tiếng than khóc của họ, khi họ bị đàn áp và ức hiếp. <sup>19</sup> Nhưng sau khi vị thủ lãnh qua đời thì họ lại ra hư đốn hơn cả cha ông họ. Họ chạy theo các thần ngoại lai để làm tôi và sụp lạy chúng, chứ không từ bỏ những hành vi và đường lối ngoan cố của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lý do tồn tại của chư dân</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en; Người phán: &#8220;Vì lũ dân này đã vi phạm giao ước Ta đã truyền cho cha ông chúng phải giữ, và chúng đã không nghe tiếng Ta, <sup>21</sup> nên trong số các dân mà Giô-suê còn để lại khi từ trần, Ta cũng sẽ không đuổi một dân nào cho khuất mắt chúng. <sup>22</sup> Ta sẽ dùng các dân ấy để thử thách Ít-ra-en, xem chúng có tuân giữ đường lối Ðức Chúa như cha ông chúng đã tuân giữ hay không. <sup>23</sup> Vậy Ðức Chúa đã để cho các dân ấy tiếp tục tồn tại mà không vội trục xuất chúng, cũng chẳng trao chúng vào tay ông Giô-suê.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là các dân Ðức Chúa cho tồn tại, để dùng chúng mà thử thách tất cả những người Ít-ra-en đã không biết các cuộc chiến tại Ca-na-an là gì, <sup>2</sup> chỉ cốt cho các thế hệ con cái Ít-ra-en biết học việc binh đao, ít là cho những kẻ trước đây chưa biết. <sup>3</sup> Năm vương hầu Phi-li-tinh và tất cả các người Ca-na-an, người Xi-đôn, người Khi-vi ở trên vùng núi Li-băng, từ núi Ba-an Khéc-môn đến Cửa Ải Kha-mát. <sup>4</sup> Chúng còn đó để thử thách Ít-ra-en, xem họ có tuân giữ mệnh lệnh Ðức Chúa đã dùng ông Mô-sê mà truyền cho cha ông họ hay không. <sup>5</sup> Vậy con cái Ít-ra-en đã sống giữa người Ca-na-an, người Khết, người E-mô-ri, người Pơ-rít-di, người Khi-vi và người Giơ-vút. <sup>6</sup> Và họ đã cưới con gái của chúng, cũng như gả con gái mình cho chúng, và họ đã làm tôi các thần của chúng.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Sự Tích Các Thủ Lãnh</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Ông Ót-Ni-Ên</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Con cái Ít-ra-en đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. Họ đã lìa bỏ Ðức Chúa, Thiên Chúa của họ, và làm tôi các thần Ba-an và nữ thần A-sê-ra. <sup>8</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en và đã trao họ vào tay Cu-san Rít-a-tha-gim, vua A-ram Na-ha-ra-gim; con cái Ít-ra-en đã làm tôi Cu-san Rít-a-tha-gim tám năm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức Chúa và Ðức Chúa cho xuất hiện một vị cứu tinh là ông Ót-ni-ên, con ông Cơ-nát, em ông Ca-lếp, để cứu con cái Ít-ra-en; ông Ót-ni-ên đã giải thoát họ. <sup>10</sup> Thần khí của Ðức Chúa ở trên ông, và ông đã lãnh đạo Ít-ra-en. Ông xuất trận và Ðức Chúa đã trao Cu-san Rít-a-tha-gim, vua A-ram, vào tay ông, và tay ông đè nặng lên Cu-san Rít-a-tha-gim. <sup>11</sup> Bấy giờ lãnh thổ được bình an bốn mươi năm. Sau đó ông Ót-ni-ên, con ông Cơ-nát, từ trần.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Ông Ê-Hút</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Con cái Ít-ra-en lại làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, và Ðức Chúa đã tăng cường sức mạnh cho Éc-lon, vua Mô-áp, chống Ít-ra-en, vì họ đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa. <sup>13</sup> Ông đã phối hợp với con cái Am-mon và A-ma-lếch, rồi tiến quân, đánh bại Ít-ra-en và chiếm lấy Thành Chà Là của họ. <sup>14</sup> Con cái Ít-ra-en phải làm tôi Éc-lon, vua Mô-áp, mười tám năm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bấy giờ con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức Chúa, Ðức Chúa liền cho xuất hiện một vị cứu tinh là ông Ê-hút, con ông Ghê-ra, người Ben-gia-min, một người thuận tay trái. Vậy con cái Ít-ra-en nhờ ông mang cống lễ nộp cho Éc-lon, vua Mô-áp. <sup>16</sup> Ông Ê-hút làm cho mình một chiếc gươm hai lưỡi, dài một gô-mét, và cột dưới áo bên hông phải. <sup>17</sup> Ông mang cống lễ nộp cho Éc-lon, vua Mô-áp; Éc-lon là một người béo phị. <sup>18</sup> Sau khi đã trao cống lễ, ông cho đám người mang cống lễ đi ra. <sup>19</sup> Còn chính ông, người đã viếng các tượng đá ở Ghin-gan trở về, thì nói: &#8220;Thưa ngài, tôi có một điều bí mật muốn thưa với ngài.&#8221; Vua nói: &#8220;Im lặng!&#8221; Tất cả mọi người túc trực bên vua đều ra ngoài. <sup>20</sup> Bấy giờ ông Ê-hút tới gần vua, lúc ấy đang ngồi ở phòng mát phía trên dành riêng cho vua, và ông Ê-hút nói: &#8220;Tôi có một lời của Thiên Chúa phải nói cho ngài.&#8221; Vua liền bỏ ghế đứng lên. <sup>21</sup> Ông Ê-hút thò tay trái, rút chiếc gươm từ hông phải, thọc vào bụng vua <sup>22</sup> lút cán, mỡ bám chặt lưỡi gươm &#8211; vì ông Ê-hút không rút gươm khỏi bụng vua &#8211; và lưỡi gươm lòi ra đằng mông. <sup>23</sup> Ông Ê-hút qua hành lang mà đi ra, sau khi đã đóng các cửa phòng trên và khoá lại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ông vừa đi ra thì các đầy tớ vua đi vào. Họ thấy các cửa phòng trên vẫn khoá thì nói: &#8220;Hẳn là vua đang mắc việc cần trong phòng sau.&#8221; <sup>25</sup> Họ đợi hoài mà không thấy mở cửa phòng trên; nên sau cùng họ lấy chìa khoá mở phòng ra, thì kìa tôn chủ của họ nằm chết sóng sượt dưới đất.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Phần ông Ê-hút đã tẩu thoát, lúc họ còn đang chờ. Ông đi qua các tượng đá mà trốn chạy về hướng Ha Xơ-i-ra. <sup>27</sup> Vừa tới nơi, ông liền rúc tù và vang khắp núi Ép-ra-im. Con cái Ít-ra-en cùng với ông từ núi tràn xuống; chính ông đi tiên phong. <sup>28</sup> Ông bảo họ: &#8220;Hãy theo tôi, vì Ðức Chúa đã trao vào tay anh em kẻ thù của anh em là người Mô-áp.&#8221; Họ đi theo ông, chiếm giữ các lối qua sông Gio-đan, không để lọt một người Mô-áp nào. <sup>29</sup> Thời kỳ ấy họ hạ được khoảng mười ngàn người Mô-áp, tất cả những kẻ cường tráng và dũng cảm, không sót một tên. <sup>30</sup> Ngày hôm ấy, Mô-áp đã bị bàn tay Ít-ra-en hạ nhục, và lãnh thổ được bình an tám mươi năm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Ông Sam-Ga</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Sau ông là ông Sam-ga, con ông A-nát, ông đã dùng gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tinh. Ông cũng là một vị cứu tinh của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Bà Ðơ-Vô-Ra Và Ông Ba-Rắc</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Con cái Ít-ra-en lại làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa sau khi ông Ê-hút từ trần, <sup>2</sup> nên Ðức Chúa trao họ vào tay Gia-vin, vua Ca-na-an, trị vì tại Kha-xo. Tướng chỉ huy quân đội của ông là Xi-xơ-ra, cư ngụ ở Kha-rô-sét Ha Gô-gim.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức Chúa, vì ông Gia-vin có đến chín trăm xe sắt, và ông đã đàn áp con cái Ít-ra-en một cách tàn bạo suốt hai mươi năm trường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bà Ðơ-vô-ra</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Bà Ðơ-vô-ra, một nữ ngôn sứ, vợ ông Láp-pi-đốt, thời ấy làm thủ lãnh xét xử Ít-ra-en. <sup>5</sup> Bà ngồi xử dưới Cây Chà Là Ðơ-vô-ra, giữa Ra-ma và Bết Ên, trên núi Ép-ra-im, và con cái Ít-ra-en đến với bà để bà xét xử cho. <sup>6</sup> Bà sai người mời ông Ba-rắc, con ông A-vi-nô-am, từ Ke-đét thuộc Náp-ta-li tới, và nói với ông: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, lại không nói với ông thế này sao? Hãy đi chiêu mộ trong vùng núi Ta-bo lấy mười ngàn người trong số con cái Náp-ta-li và trong số con cái Dơ-vu-lun để đi với ngươi. <sup>7</sup> Ta sẽ dụ tướng Xi-xơ-ra, chỉ huy quân đội vua Gia-vin tiến về phía ngươi, bên suối Ki-sôn, cùng với chiến xa và quân binh của nó, và Ta sẽ trao nó vào tay ngươi.&#8221; <sup>8</sup> Ông Ba-rắc nói với bà: &#8220;Nếu bà đi với tôi thì tôi đi, nếu bà không đi với tôi thì tôi không đi.&#8221; <sup>9</sup> Bà trả lời: &#8220;Chắc chắn tôi sẽ đi với ông. Có điều là trong chuyến đi này, vinh dự không thuộc về ông, vì Ðức Chúa sẽ trao Xi-xơ-ra vào tay một người đàn bà.&#8221; Bà Ðơ-vô-ra chỗi dậy đi với ông Ba-rắc đến Ke-đét. <sup>10</sup> Ông Ba-rắc triệu tập Dơ-vu-lun và Náp-ta-li tiến về Ke-đét. Mười ngàn người theo chân ông, cả bà Ðơ-vô-ra cũng đi với ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Khe-ve, người Kê-ni</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông Khe-ve, người Kê-ni, đã tách khỏi Ca-in, khỏi con cái ông Khô-váp, nhạc phụ ông Mô-sê, và đã dựng lều bên cây sồi tại Xa-an-na-gim, gần Ke-đét.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xi-xơ-ra bị đánh bại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Người ta báo tin cho Xi-xơ-ra rằng: &#8220;Ông Ba-rắc, con ông A-vi-nô-am, đã lên núi Ta-bo&#8221;. <sup>13</sup> Tướng Xi-xơ-ra liền tập trung tất cả các chiến xa, chín trăm xe sắt và toàn bộ lực lượng dưới quyền ông, đưa từ Kha-rô-sét Ha Gô-gim đến suối Ki-sôn. <sup>14</sup> Bấy giờ bà Ðơ-vô-ra nói với ông Ba-rắc: &#8220;Ðứng lên! Vì đây là ngày Ðức Chúa trao Xi-xơ-ra vào tay ông. Ðức Chúa lại không xuất trận trước mặt ông sao?&#8221; Ông Ba-rắc từ núi Ta-bo đi xuống với mười ngàn quân theo sau. <sup>15</sup> Ðức Chúa dùng gươm của ông Ba-rắc đánh Xi-xơ-ra cùng với chiến xa và toàn thể doanh trại của ông này, khiến tất cả phải tán loạn trước mặt ông Ba-rắc. Xi-xơ-ra tụt khỏi xe và chạy bộ mà trốn. <sup>16</sup> Ông Ba-rắc truy kích đoàn xe và quân binh cho đến Kha-rô-sét Ha Gô-gim. Tất cả quân binh của Xi-xơ-ra đều ngã gục dưới lưỡi gươm của ông Ba-rắc, không sót một tên.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xi-xơ-ra bị giết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Xi-xơ-ra chạy bộ trốn về phía lều bà Gia-ên, vợ ông Khe-ve, người Kê-ni, vì lúc ấy đang có hoà bình giữa Gia-vin, vua Kha-xo, với nhà Khe-ve, người Kê-ni. <sup>18</sup> Bà Gia-ên ra đón Xi-xơ-ra, và nói với ông: &#8220;Thưa ngài, xin dừng lại, xin dừng lại nơi đây, đừng sợ!&#8221; Ông dừng lại, đi theo bà vào lều; bà lấy tấm thảm phủ lên ông. <sup>19</sup> Ông nói với bà: &#8220;Cho tôi xin chút nước uống, vì tôi khát quá.&#8221; Bà liền mở vò sữa, cho ông uống, rồi lại phủ kín ông. <sup>20</sup> Ông nói với bà: &#8220;Xin bà đứng ở cửa lều, hễ ai đến hỏi có người nào ở đây không, thì bà nói: &#8220;Không.&#8221; <sup>21</sup> Nhưng bà Gia-ên, vợ ông Khe-ve, lấy cái cọc lều, tay cầm búa, lặng lẽ đến bên Xi-xơ-ra, đóng cọc vào màng tang ông, xuyên xuống đất, đang lúc ông ngủ say vì mệt. Thế là ông chết. <sup>22</sup> Ðang lúc ấy, ông Ba-rắc truy nã Xi-xơ-ra vừa tới, thì bà Gia-ên ra đón ông và nói: &#8220;Lại đây, tôi cho ông xem người ông đang tìm.&#8221; Ông đi theo bà, thì này, Xi-xơ-ra nằm chết với cái cọc xuyên màng tang.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en được giải thoát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Hồi đó Thiên Chúa hạ nhục Gia-vin, vua Ca-na-an, trước mặt con cái Ít-ra-en. <sup>24</sup> Bàn tay con cái Ít-ra-en ngày càng đè nặng trên Gia-vin, vua Ca-na-an, cho đến khi họ tiễu trừ được Gia-vin, vua Ca-na-an.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bài ca của bà Ðơ-vô-ra và ông Ba-rắc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ngày hôm ấy bà Ðơ-vô-ra và ông Ba-rắc, con ông A-vi-nô-am, hát rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Trong Ít-ra-en thuở chiến binh xoã tóc xung phong,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thuở toàn dân tình nguyện lên đường,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">các bạn ơi, nào chúc tụng Ðức Chúa!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Nghe đây, hỡi các vua! Hãy lắng tai, này các thủ lãnh!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Tôi sẽ hát lên mừng Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sẽ đàn ca kính Người là Thiên Chúa của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Thân lạy Ðức Chúa, khi Ngài ra khỏi Xê-ia,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khi Ngài từ ruộng đồng Ê-đôm xuất phát,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì trái đất chuyển rung, các tầng trời tan chảy,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mây cũng tan chảy thành mưa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Núi đồi chấn động trước nhan Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Xi-nai cũng chấn động trước nhan Người</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là Thiên Chúa của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Thời Sam-ga, con ông A-nát,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thời Gia-ên, còn đâu những đoàn khách lữ hành!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Những kẻ xưa kia đi trên quan lộ</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nay lần mò theo những lối quanh co.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Trong Ít-ra-en không còn thủ lãnh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">không còn nữa cho tới khi bà đứng lên, hỡi bà Ðơ-vô-ra</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bà đứng lên, hỡi mẹ hiền trong Ít-ra-en!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Khi người ta chọn những thần mới,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bấy giờ chiến tranh đến ngay trước cửa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khiên mộc chẳng thấy, gươm giáo cũng không</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trong tay bốn mươi ngàn quân Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Lòng tôi ngưỡng mộ các nhà chỉ huy Ít-ra-en,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">những kẻ trong dân tình nguyện lên đường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các bạn ơi, nào chúc tụng Ðức Chúa!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Hỡi những ai cỡi lừa trắng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hỡi những kẻ ngồi thảm hoa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hỡi khách bộ hành, hát lên đi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Những người chia nhau chiến lợi phẩm bên bồn nước,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hãy cất tiếng ca ngợi hồng ân của Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">những hồng ân Người ban cho thủ lãnh Ít-ra-en,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bấy giờ dân của Ðức Chúa ùa xuống các cửa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Phấn khởi lên! Phấn khởi lên nào! Ðơ-vô-ra hỡi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Phấn khởi lên! Phấn khởi lên nào! Hát một bài ca!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðứng lên! Hỡi Ba-rắc!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Bỏ tù kẻ bỏ tù ông! Hỡi con của A-vi-nô-am!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Bấy giờ Ít-ra-en xuống cửa vì chính nghĩa của mình,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dân của Ðức Chúa đã xuống như những vị anh hùng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Các lãnh tụ Ép-ra-im ở trong thung lũng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trong hàng ngũ theo ông, có Ben-gia-min.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các vị chỉ huy xuất thân từ Ma-khia,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ Dơ-vu-lun, những người nắm côn trượng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Các lãnh tụ Ít-xa-kha theo bà Ðơ-vô-ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Náp-ta-li trung thành với Ba-rắc,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chạy theo vết chân ông trong thung lũng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Trong các thị tộc của Rưu-vên,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bàn bạc thì thật là sôi nổi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> &#8220;Sao bạn cứ ở lì trong hốc đá, mải nghe tiếng sáo bên đàn chiên?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Trong các thị tộc của Rưu-vên,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bàn bạc thì thật là sôi nổi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ga-la-át ở lại bên kia sông Gio-đan,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">còn Ðan, sao cứ sống trên tàu bè?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">A-se thì định cư miền duyên hải,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trong các hải cảng, vẫn cứ nhởn nhơ!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Dơ-vu-lun, dân coi nhẹ cái chết,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cùng với Náp-ta-li, trên điểm cao chiến trường.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Các vua đã tới, đã giao tranh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">các vua Ca-na-an đã giao tranh</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tại Ta-nác, bên dòng suối Mơ-ghít-đô.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúng đã không cướp được bạc làm chiến lợi phẩm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Từ trời cao, tinh tú đã giao tranh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ trên quỹ đạo, tinh tú chống lại Xi-xơ-ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Dòng suối Ki-sôn đã cuốn trôi chúng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dòng suối ngàn xưa, suối Ki-sôn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Dũng cảm tiến lên, hồn ta hỡi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Bấy giờ vó ngựa vang rền trên mặt đất,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đoàn thiên lý mã phi nhanh, phi thật nhanh.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> &#8220;Hãy nguyền rủa Mê-rốt &#8211; thần sứ Ðức Chúa nói -,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nguyền rủa, nguyền rủa các dân cư của nó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vì chúng đã không đến yểm trợ Ðức Chúa,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">yểm trợ Ðức Chúa với các bậc anh hùng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Phúc thay bà Gia-ên, phu nhân ông Khe-ve, người Kê-ni,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hơn các phụ nữ,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hơn các phụ nữ trong lều trại, bà thật là có phúc.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Y xin nước, bà cho sữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Bà dâng sữa béo trong chén quý của hàng thượng lưu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Rồi tay trái cầm lấy chiếc cọc,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">còn tay phải nắm búa công nhân,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đánh Xi-xơ-ra, đập cho bể đầu,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và đâm thủng màng tang.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Dưới chân bà, y ngã quỵ, té nhào, nằm sóng sượt,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dưới chân bà, y ngã quỵ, té nhào;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngã quỵ nơi nào, té nhào nơi ấy, nằm bất động.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Qua cửa sổ, một bà khác nghiêng mình kêu la,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đó là mẹ của Xi-xơ-ra, nói qua song cửa:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Sao xe của con tôi mãi không về?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Sao đoàn xe trận của con tôi về chậm thế?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Công chúa khôn ngoan nhất của bà đã trả lời,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và bà cứ nhẩm đi nhắc lại:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> &#8220;Chắc họ đã gặp may, và đang chia nhau chiến lợi phẩm:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một hai nàng cho mỗi chiến binh,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và nhiễu điều làm chiến lợi phẩm cho Xi-xơ-ra.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Một hai tấm nhiễu điều thêu sặc sỡ,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">choàng lên cổ của người toàn thắng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Lạy Ðức Chúa! Mọi kẻ thù của Ngài</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đều tiêu vong như thế!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Còn những ai yêu mến Ngài,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xin cho họ rạng rỡ như mặt trời hừng đông.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và lãnh thổ bình an bốn mươi năm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">5. Ông Ghít-Ôn Và Ông A-Vi-Me-Léc</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">A. Thiên Chúa gọi ông Ghít-ôn</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Ma-đi-an áp bức dân Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Con cái Ít-ra-en đã làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, nên Ðức Chúa đã trao họ vào tay người Ma-đi-an trong bảy năm. <sup>2</sup> Tay người Ma-đi-an đè nặng trên Ít-ra-en. Ðể tránh mặt người Ma-đi-an, con cái Ít-ra-en đã thiết lập những khu an toàn trong các vùng núi, những hang động hốc đá. <sup>3</sup> Hễ Ít-ra-en gieo giống thì người Ma-đi-an, người A-ma-lếch và người Phương Ðông cũng lên; chúng lên chống lại Ít-ra-en. <sup>4</sup> Chúng đóng trại bên cạnh họ và tàn phá hoa màu, đất đai cho đến sát Ga-da, không để sót lại vật gì trong Ít-ra-en, dù là gia súc hay bò lừa cũng vậy. <sup>5</sup> Vì chúng lên cùng với đàn vật và lều trại của chúng, tiến vào nhiều vô kể như châu chấu; chúng và lạc đà của chúng đông không đếm nổi. Chúng tràn vào tàn phá xứ sở. <sup>6</sup> Như vậy người Ít-ra-en hoàn toàn kiệt quệ vì người Ma-đi-an. Và con cái Ít-ra-en đã kêu lên Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Một ngôn sứ can thiệp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Khi con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức Chúa về người Ma-đi-an, <sup>8</sup> thì Ðức Chúa đã sai một vị ngôn sứ đến với con cái Ít-ra-en. Ông nói với họ: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en phán thế này: Chính Ta đã đưa các ngươi lên khỏi Ai-cập, đã kéo các ngươi ra khỏi nhà nô lệ, <sup>9</sup> đã giải thoát các ngươi khỏi tay Ai-cập, khỏi tay mọi kẻ áp bức các ngươi, và đã đuổi chúng cho khuất mắt các ngươi, đã ban cho các ngươi đất đai của chúng. <sup>10</sup> Và Ta đã phán với các ngươi: Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. Các ngươi không được kính sợ các thần của người E-mô-ri, khi các ngươi cư ngụ trên đất của chúng. Nhưng các ngươi đã không nghe tiếng Ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thần sứ của Ðức Chúa hiện ra với ông Ghít-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Thần sứ của Ðức Chúa đến và ngồi dưới cây tùng ở Óp-ra. Cây này là của ông Giô-át, thuộc gia đình A-vi-e-de. Con ông là Ghít-ôn bấy giờ đang đập lúa trong bồn đạp nho để tránh mặt người Ma-đi-an. <sup>12</sup> Thần sứ Ðức Chúa hiện ra với ông và nói: &#8220;Chào chiến sĩ can trường! Ðức Chúa ở với ông.&#8221; <sup>13</sup> Ông Ghít-ôn đáp: &#8220;Ôi, thưa Ngài, nếu Ðức Chúa ở với chúng tôi, thì sao chúng tôi đến nông nỗi này? Ðâu cả rồi những kỳ công mà cha ông đã kể lại cho chúng tôi nghe, rằng: chẳng phải Ðức Chúa đã đưa chúng ta lên khỏi Ai-cập sao? Thế mà bây giờ Ðức Chúa đã bỏ rơi chúng tôi, trao chúng tôi vào tay người Ma-đi-an.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Bấy giờ Ðức Chúa quay lại nhìn ông và nói: &#8220;Hãy mạnh bạo lên đường cứu Ít-ra-en khỏi tay quân Ma-đi-an. Không phải chính Ta sai ngươi sao?&#8221; <sup>15</sup> Nhưng ông đáp: &#8220;Ôi, thưa Ngài, con lấy gì mà cứu Ít-ra-en? Này dòng họ con thấp kém nhất trong chi tộc Mơ-na-se, mà con lại nhỏ nhất trong nhà cha con.&#8221; <sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh quân Ma-đi-an như đánh có một người.&#8221; <sup>17</sup> Ông thưa: &#8220;Nếu Ngài thương con thì xin cho con một dấu chứng tỏ Ngài đang nói với con. <sup>18</sup> Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho tới khi con trở lại, mang theo của lễ đặt trước nhan Ngài.&#8221; Người phán: &#8220;Ta sẽ ở lại cho tới khi ngươi trở về.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Ghít-ôn đi bắt một con dê non làm thịt, và lấy hai thùng bột làm mấy chiếc bánh không men. Thịt thì ông để trong một cái rổ, còn nước cốt thì đựng trong một cái thố. Rồi ông mang đến cho Người ở dưới cây tùng. Khi ông đến gần, <sup>20</sup> thì Thần sứ Thiên Chúa nói với ông: &#8220;Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá này và rưới nước cốt lên.&#8221; Ông đã làm như thế.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Thần sứ của Ðức Chúa giơ đầu gậy đang cầm trong tay đụng vào thịt và bánh không men, lửa liền từ tảng đá bốc lên, đốt cháy hết thịt cùng bánh không men. Thần sứ Ðức Chúa biến khỏi mắt ông. <sup>22</sup> Ông Ghít-ôn thấy đó chính là Thần sứ Ðức Chúa. Ông Ghít-ôn nói: &#8220;Chết tôi rồi, lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng của tôi, vì tôi đã thấy Thần sứ Ðức Chúa nhãn tiền!&#8221; <sup>23</sup> Nhưng Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Bình an cho ngươi! Ðừng sợ: ngươi không chết đâu.&#8221; <sup>24</sup> Tại đó ông Ghít-ôn xây một bàn thờ kính Ðức Chúa, và ông gọi nơi ấy là Ðức Chúa &#8211; Bình an. Cho đến ngày nay, bàn thờ ấy vẫn còn tại Óp-ra, đất của gia đình A-vi-e-de.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ghít-ôn triệt hạ Ba-an</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Một đêm kia Ðức Chúa phán bảo ông: &#8220;Hãy lấy con bò mộng của cha ngươi, con bò bảy tuổi, rồi phá huỷ bàn thờ Ba-an của cha ngươi và chặt đứt cây cột thần bên cạnh. <sup>26</sup> Ngươi sẽ xây bàn thờ kính Ðức Chúa, Thiên Chúa ngươi, trên đỉnh của nơi kiên cố này, sắp xếp sao cho gọn ghẽ. Ngươi sẽ lấy con bò và dâng làm lễ toàn thiêu với gỗ cây cột thần ngươi đã chặt.&#8221; <sup>27</sup> Vậy ông Ghít-ôn mang theo mười người đầy tớ và làm như Ðức Chúa đã nói với ông. Tuy nhiên, vì sợ người nhà của cha mình và những người trong thành, ông không dám làm ban ngày, nên đã làm ban đêm. <sup>28</sup> Sáng hôm sau, khi những người trong thành thức dậy, thì kìa bàn thờ Ba-an đã bị triệt hạ, cây cột thần cạnh đó đã bị chặt, và con bò mộng thứ hai đã được dâng làm lễ toàn thiêu trên bàn thờ mới xây. <sup>29</sup> Họ nói với nhau: &#8220;Ai đã làm chuyện này thế?&#8221; Rồi họ điều tra và tìm hiểu, thì ra là ông Ghít-ôn, con ông Giô-át, đã làm chuyện đó. <sup>30</sup> Dân thành liền nói với ông Giô-át: &#8220;Ðưa con ông ra đây! Nó phải chết, vì nó đã triệt hạ bàn thờ Ba-an và đã chặt đứt cây cột thần bên cạnh.&#8221; <sup>31</sup> Ông Giô-át nói với tất cả mọi người đứng trước mặt ông: &#8220;Các anh bênh quyền lợi của Ba-an ư? Hay là các anh tính cứu thần đó? Kẻ nào bênh quyền lợi Ba-an sẽ phải chết trước khi trời rạng sáng. Nếu Ba-an là thần thì Ba-an cứ tự biện hộ. Ghít-ôn đã phá bàn thờ của Ba-an đó.&#8221; <sup>32</sup> Ngày hôm ấy, người ta gọi ông Ghít-ôn là Giơ-rúp-ba-an, mà rằng: &#8220;Xin Ba-an đối phó với hắn, vì hắn đã triệt hạ bàn thờ của người.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kêu gọi chiến đấu</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Tất cả các người Ma-đi-an, người A-ma-lếch và người Phương Ðông đều nhất tề tập hợp; họ băng qua sông và đóng trại tại đồng bằng Gít-rơ-en.34 Ông Ghít-ôn được đầy thần khí của Ðức Chúa; ông rúc tù và, và người A-vi-e-de quy tụ lại sau lưng ông. <sup>35</sup> Ông sai sứ giả kêu gọi mọi người trong chi tộc Mơ-na-se, và họ quy tụ lại sau lưng ông; ông sai sứ giả kêu gọi mọi người trong chi tộc A-se, Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, họ cũng đều tiến lên đón ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lông cừu làm điềm báo</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Ông Ghít-ôn thưa với Thiên Chúa: &#8220;Nếu đúng là Ngài sẽ dùng tay con để cứu Ít-ra-en như Ngài đã phán, <sup>37</sup> thì này đây con đặt một mớ lông cừu trong sân lúa: nếu chỉ có sương trên lông cừu mà thôi, còn tất cả mặt đất đều khô, thì con biết Ngài sẽ dùng tay con để cứu Ít-ra-en như Ngài đã phán.&#8221; <sup>38</sup> Và đã xảy ra như vậy. Sáng hôm sau ông dậy sớm, bóp mớ lông cừu, vắt cho sương chảy ra đầy một chén nước. <sup>39</sup> Ông Ghít-ôn lại thưa với Thiên Chúa: &#8220;Xin Ngài đừng thịnh nộ với con, để con được nói một lần nữa. Xin cho con được trắc nghiệm bằng lông cừu một lần nữa thôi: chỉ có lông cừu là khô, còn tất cả mặt đất đều đẫm sương.&#8221; <sup>40</sup> Ðêm ấy Thiên Chúa đã làm như vậy. Chỉ có lông cừu là khô, còn tất cả mặt đất đều đẫm sương.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">B. Ông Ghít-ôn giao chiến bên tây ngạn sông Gio-đan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðức Chúa rút bớt quân số của ông Ghít-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Giơ-rúp-ba-an, tức Ghít-ôn, cũng như toàn dân đang ở với ông, thức dậy thật sớm, và ông đóng trại gần Ên Kha-rốt; còn trại quân Ma-đi-an thì nằm ở phía bắc trại ông, sát đồi Mô-re, trong đồng bằng. <sup>2</sup> Ðức Chúa phán bảo ông: &#8220;Ðám dân ở với ngươi quá đông; Ta không trao quân Ma-đi-an vào tay chúng được, kẻo Ít-ra-en lại tự phụ phạm đến Ta, khi cho rằng &#8220;Chính tay tôi đã cứu tôi. <sup>3</sup> Vậy ngươi hãy công bố cho dân nghe: &#8220;Ai sợ hãi và run khiếp thì hãy về đi!&#8221; Và ông Ghít-ôn đã thử họ: hai mươi ngàn người trong dân rút lui, còn lại mười ngàn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðức Chúa phán với ông Ghít-ôn: &#8220;Dân này vẫn còn đông. Hãy bảo chúng xuống gần nước, ở đó Ta sẽ thử chúng. Kẻ nào Ta nói với ngươi &#8220;người này sẽ đi với ngươi&#8221; thì kẻ đó sẽ đi với ngươi. Còn tất cả những ai Ta nói với ngươi &#8220;người này không đi với ngươi&#8221;, kẻ đó sẽ không được đi.&#8221; <sup>5</sup> Vậy ông Ghít-ôn đem đám dân ấy đến gần nước, và Ðức Chúa phán với ông Ghít-ôn: &#8220;Tất cả những ai thè lưỡi tớp nước như chó, ngươi hãy để riêng ra, tất cả những ai quỳ xuống mà uống cũng vậy.&#8221; <sup>6</sup> Số người dùng tay đưa nước lên miệng mà tớp là ba trăm. Tất cả số dân còn lại đều quỳ xuống mà uống nước. <sup>7</sup> Bấy giờ Ðức Chúa phán với ông Ghít-ôn: &#8220;Với ba trăm người đã tớp nước, Ta sẽ cứu các ngươi, và sẽ trao quân Ma-đi-an vào tay ngươi. Còn tất cả những người khác thì hãy rút lui, ai về nhà nấy.&#8221; <sup>8</sup> Người ta giữ lại vò lương thực của đám dân, cùng với các tù và. Sau đó, ông Ghít-ôn cho tất cả con cái Ít-ra-en trở về, ai nấy về lều mình, chỉ giữ lại ba trăm người. Doanh trại của người Ma-đi-an nằm phía dưới trại của ông, trong đồng bằng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðiềm báo thắng trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðêm ấy Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ðứng lên! Ði xuống doanh trại, vì Ta sẽ trao nó vào tay ngươi. <sup>10</sup> Nhưng nếu ngươi sợ không dám xuống, thì hãy đi xuống trại với Pu-ra, đầy tớ ngươi. <sup>11</sup> Ngươi sẽ nghe ngóng xem chúng nói gì; sau đó tay ngươi sẽ ra cứng rắn, và ngươi sẽ xuống đánh trại.&#8221; Vậy chính ông đã cùng với Pu-ra, đầy tớ ông, xuống tới đầu tiền đồn của trại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Quân Ma-đi-an, A-ma-lếch và toàn quân Phương Ðông nằm đầy đồng bằng, nhiều vô kể như châu chấu, và số lạc đà của chúng không đếm nổi, như cát trên bờ biển. <sup>13</sup> Ông Ghít-ôn tới nơi, thì này một tên đang kể cho đồng đội một giấc chiêm bao. Hắn nói: &#8220;Ðây là giấc chiêm bao tôi đã nằm mơ: một tấm bánh lúa mạch lăn trong trại Ma-đi-an, tới một chiếc lều, đụng vào lều thì nó ngã xuống, cuốn chỏng gọng cái lều lên, thế là cái lều đổ.&#8221; <sup>14</sup> Người đồng đội hoạ theo và nói: &#8220;Ðây chỉ có thể là chiếc gươm của Ghít-ôn, con Giô-át, người Ít-ra-en. Thiên Chúa đã trao người Ma-đi-an và cả doanh trại vào tay ông ta.&#8221; <sup>15</sup> Khi nghe kể giấc chiêm bao và lời giải thích, ông Ghít-ôn sấp mình xuống, đoạn trở về trại Ít-ra-en và nói: &#8220;Ðứng lên! Vì Ðức Chúa đã trao vào tay anh em doanh trại Ma-đi-an.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc đột kích</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Bấy giờ ông chia ba trăm người thành ba cánh quân, trao vào tay mọi người tù và, vò rỗng có đuốc bên trong. <sup>17</sup> Ông bảo họ: &#8220;Hãy nhìn và làm theo tôi. Khi tới đầu trại, tôi làm gì thì các anh cứ làm theo! <sup>18</sup> Tôi sẽ rúc tù và cùng một lúc với tất cả những người đi với tôi; bấy giờ các anh cũng rúc tù và khắp quanh trại và cùng hô: Vì Ðức Chúa! Vì Ghít-ôn!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Ghít-ôn cùng với một trăm người theo ông đi tới đầu trại vào đầu canh hai, lúc vừa thay người canh; họ rúc tù và, đồng thời đập bể những chiếc vò đang cầm trong tay. <sup>20</sup> Bấy giờ cả ba cánh quân đều rúc tù và, đập bể vò; tay trái nắm chắc đuốc, tay phải cầm tù và rúc lên, rồi họ cùng hô: &#8220;Vì Ðức Chúa, vì Ghít-ôn, vung kiếm lên!&#8221; <sup>21</sup> Chung quanh trại, ai nấy đứng yên tại chỗ. Cả trại tán loạn, la ó và chạy trốn. <sup>22</sup> Trong lúc ba trăm người rúc tù và thì Ðức Chúa làm cho mỗi người trong khắp trại quay gươm giết bạn mình. Cả doanh trại đều trốn chạy về phía Xơ-rê-ra cho đến Bết Ha Sít-ta, bên bờ suối A-vên Mơ-khô-la, đối diện với Táp-bát.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Truy kích</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Bấy giờ từ Náp-ta-li, A-se và toàn thể Mơ-na-se, các người Ít-ra-en họp nhau lại và rượt đuổi quân Ma-đi-an. <sup>24</sup> Ông Ghít-ôn sai sứ giả đi kêu gọi khắp vùng núi Ép-ra-im: &#8220;Hãy xuống đón đầu quân Ma-đi-an, chiếm cứ các nguồn nước của chúng, cho đến Bết Ba-ra và sông Gio-đan.&#8221; Tất cả các người Ép-ra-im đều họp lại chiếm lấy các nguồn nước cho đến Bết Ba-ra và sông Gio-đan. <sup>25</sup> Họ bắt được hai tướng của Ma-đi-an là Ô-rếp và Dơ-ếp; họ giết Ô-rếp tại tảng đá Ô-rếp, còn Dơ-ếp thì giết tại bồn ép nho Dơ-ếp. Họ còn rượt theo quân Ma-đi-an và mang thủ cấp của Ô-rếp và Dơ-ếp từ bên kia sông Gio-đan về cho ông Ghít-ôn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ép-ra-im kêu trách</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Những người Ép-ra-im nói với ông: &#8220;Ông đối xử với chúng tôi như vậy nghĩa là thế nào? Ông đã không thèm gọi chúng tôi, khi ông lên đường đánh quân Ma-đi-an.&#8221; Họ đã công kích ông dữ dội. <sup>2</sup> Nhưng ông nói với họ: &#8220;Việc tôi đã làm sánh sao được với các anh? Thứ mà Ép-ra-im ăn mót, lại không tốt hơn cả mùa trái của A-vi-e-de sao? <sup>3</sup> Thiên Chúa đã trao vào tay các anh các thủ lãnh Ma-đi-an là Ô-rếp và Dơ-ếp, thì tôi có thể làm gì sánh được với các anh?&#8221; Nghe ông nói thế, họ mới nguôi giận.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">C. Ông Ghít-ôn giao chiến bên kia sông Gio-đan. Ông từ trần.</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ghít-ôn vượt sông Gio-đan truy lùng địch</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Tới sông Gio-đan, ông Ghít-ôn sang sông cùng với ba trăm người theo ông, rất mệt mỏi nhưng vẫn truy lùng quân địch. <sup>5</sup> Ông nói với các người Xúc-cốt: &#8220;Làm ơn cho đám người theo tôi mấy tấm bánh, vì họ đã mệt mỏi rồi, mà tôi thì còn phải truy lùng De-vác và Xan-mun-na, vua Ma-đi-an.&#8221; <sup>6</sup> Nhưng các thủ lãnh Xúc-cốt trả lời: &#8220;Số mạng của De-vác và Xan-mun-na nay đã nằm gọn trong tay ông rồi sao, mà chúng tôi phải cấp bánh cho quân đội của ông?&#8221; <sup>7</sup> Ông Ghít-ôn đáp: &#8220;Ðã vậy thì một khi Ðức Chúa trao De-vác và Xan-mun-na vào tay ta rồi, ta sẽ lấy gai rừng và cây ké mà xé xác các ngươi!&#8221; <sup>8</sup> Từ đấy, ông đi lên Pơ-nu-ên, và lại nói với người ta như vậy, nhưng những người Pơ-nu-ên trả lời y như những người Xúc-cốt. <sup>9</sup> Ông cũng nói với người Pơ-nu-ên rằng: &#8220;Khi ta trở về bình an vô sự, ta sẽ triệt hạ tháp này.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>De-vác và Xan-mun-na bại trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> De-vác và Xan-mun-na lúc ấy đang ở Các-co cùng với đạo quân của họ, chừng mười lăm ngàn người, đó là số còn lại trong toàn bộ doanh trại con cái Phương Ðông. Vì mười hai ngàn mạng biết tuốt gươm đã gục ngã. <sup>11</sup> Ông Ghít-ôn tiến lên theo con đường của dân du mục, ở phía đông Nô-vác và Gióc-bô-ha, và đã tấn công trại khi trại cứ tưởng là an toàn. <sup>12</sup> De-vác và Xan-mun-na chạy trốn, nhưng ông đã đuổi kịp và bắt được cả hai vua Ma-đi-an là De-vác và Xan-mun-na, gây khiếp đảm cho toàn bộ doanh trại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Ghít-ôn báo thù</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Sau trận chiến, ông Ghít-ôn, con ông Giô-át trở về qua ngả đường lên Khe-rét. <sup>14</sup> Ông bắt một thiếu niên thuộc dân Xúc-cốt và tra hỏi nó. Nó viết cho ông tên các thủ lãnh Xúc-cốt, và các kỳ mục trong dân là bảy mươi bảy người. <sup>15</sup> Vậy ông đến với người Xúc-cốt và nói: &#8220;Ðây là De-vác và Xa-mun-na! Vì chúng, các ngươi đã đay nghiến ta mà rằng: &#8220;Số mạng của De-vác và Xan-mun-na nay đã nằm gọn trong tay ông rồi sao, mà chúng tôi phải cấp bánh cho những người mệt mỏi của ông?&#8221; <sup>16</sup> Ông bắt các kỳ mục trong thành, lấy gai rừng và cây ké mà dạy cho những người Xúc-cốt một bài học. <sup>17</sup> Tháp Pơ-nu-ên, ông cũng triệt hạ, và tàn sát cả những người trong thành. <sup>18</sup> Ông nói với De-vác và Xan-mun-na: &#8220;Những kẻ các ngươi đã tàn sát ở Ta-bo là người thế nào?&#8221; Chúng thưa: &#8220;Ông thế nào, họ cũng vậy; người nào cũng có vẻ hoàng tử.&#8221; <sup>19</sup> Ông nói: &#8220;Họ là anh em cùng mẹ với ta đó. Thề có Ðức Chúa hằng sống! Giả như các ngươi để họ sống, thì ta chẳng sát hại các ngươi đâu!&#8221; <sup>20</sup> Rồi ông bảo người con cả của ông Gie-the: &#8220;Ðứng lên! Giết chúng đi!&#8221; Nhưng chàng thiếu niên sợ không dám tuốt gươm, vì cậu còn trẻ. <sup>21</sup> De-vác và Xan-mun-na liền nói: &#8220;Vậy thì chính nhà ngươi đứng lên giết chúng ta đi, vì anh hùng đâu có sợ chết!&#8221; Ông Ghít-ôn đứng lên hạ sát De-vác và Xan-mun-na, rồi tháo lấy những chiếc vòng đeo cổ các con lạc đà của chúng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuối đời ông Ghít-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Người Ít-ra-en nói với ông Ghít-ôn: &#8220;Xin ông cai trị chúng tôi, cả ông cũng như con cháu ông, vì ông đã giải thoát chúng tôi khỏi tay quân Ma-đi-an.&#8221; <sup>23</sup> Ông Ghít-ôn trả lời: &#8220;Chính tôi sẽ không cai trị, mà con tôi cũng không cai trị anh em, nhưng Ðức Chúa sẽ cai trị anh em.&#8221; <sup>24</sup> Ông Ghít-ôn nói với họ: &#8220;Tôi xin anh em một điều là mỗi người cho tôi một cái nhẫn trong số chiến lợi phẩm của mình.&#8221; Sở dĩ như vậy là vì những người bại trận là dân Ít-ma-ên, nên chúng mang nhẫn vàng. <sup>25</sup> Những người ấy đáp: &#8220;Hẳn là chúng tôi sẽ tặng ông rồi.&#8221; Họ trải chiếc áo choàng ra, và mỗi người bỏ vào đấy một chiếc nhẫn đã chiếm được. <sup>26</sup> Trọng lượng số nhẫn vàng ông đã xin được là mười bảy ký vàng, không kể các vòng khuyên, các hoa tai và những chiếc áo điều các vua Ma-đi-an vẫn mặc, và không kể các vòng đeo cổ các con lạc đà của chúng. <sup>27</sup> Ông Ghít-ôn lấy số vàng đó làm một tượng ê-phốt và đặt trong thành của ông tại Óp-ra; và toàn thể Ít-ra-en đã đàng điếm với nó, nên nó hoá cái bẫy cho ông Ghít-ôn và nhà ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ma-đi-an bị hạ nhục trước mặt con cái Ít-ra-en; chúng không còn ngẩng đầu lên được nữa. Dưới thời ông Ghít-ôn, lãnh thổ được bình an bốn mươi năm. <sup>29</sup> Ông Giơ-rúp-ba-an, con ông Giô-át, lui về sống cảnh điền viên. <sup>30</sup> Ông Ghít-ôn sinh được bảy mươi người con, vì ông có nhiều vợ. <sup>31</sup> Ông có người tỳ thiếp ở Si-khem, bà cũng sinh cho ông một con trai; và ông đặt tên cho nó là A-vi-me-léc. <sup>32</sup> Ông Ghít-ôn, con ông Giô-át, qua đời sau khi hưởng tuổi già hạnh phúc, và được chôn cất trong phần mộ của ông Giô-át, thân phụ ông, tại Óp-ra của dòng họ A-vi-e-de.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en lại suy sụp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Sau khi ông Ghít-ôn qua đời, con cái Ít-ra-en lại đàng điếm với các Ba-an, và tôn Ba-an Bơ-rít làm thiên chúa của mình. <sup>34</sup> Con cái Ít-ra-en không nhớ Ðức Chúa là Thiên Chúa của mình, Ðấng đã giải thoát họ khỏi tay mọi thù địch chung quanh. <sup>35</sup> Họ cũng chẳng đối xử nhân nghĩa với nhà ông Giơ-rúp-ba-an, tức Ghít-ôn, mà đền đáp tất cả những điều tốt lành ông đã làm cho Ít-ra-en.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">D. Vương triều của A-vi-me-léc</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> A-vi-me-léc, con ông Giơ-rúp-ba-an, đến Si-khem gặp bà con bên ngoại, và nói với họ, cùng cả gia tộc bên ngoại rằng: <sup>2</sup> &#8220;Xin bà con hỏi các thân hào Si-khem xem: điều nào tốt cho các vị? Ðể cho bảy mươi người, tức là tất cả các con ông Giơ-rúp-ba-an cai trị các vị, hay là để một người cai trị các vị mà thôi? Xin các vị nhớ cho rằng tôi là anh em ruột thịt của các vị.&#8221; <sup>3</sup> Bà con bên ngoại dùng chính những lời đó nói về A-vi-me-léc cho toàn thể thân hào Si-khem nghe, và lòng họ nghiêng về A-vi-me-léc, vì họ nói: &#8220;Ông ấy là bà con của chúng ta.&#8221; <sup>4</sup> Vậy họ trao cho ông bảy mươi se-ken bạc, lấy của đền Ba-an Bơ-rít, A-vi-me-léc dùng tiền ấy thuê những đứa vô lại cùng bọn du đãng, và chúng theo ông. <sup>5</sup> Thế là ông đến nhà cha mình tại Óp-ra, hạ sát các anh em, tức là bảy mươi người con của ông Giơ-rúp-ba-an, trên cùng một tảng đá; chỉ sót có Giô-tham, con út của ông Giơ-rúp-ba-an, vì anh ta lẩn trốn được. <sup>6</sup> Bấy giờ tất cả thân hào Si-khem cùng toàn dân Bết Mi-lô họp lại, kéo đến tôn A-vi-me-léc lên làm vua, bên cạnh cây sồi trước bia đá ở Si-khem.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngụ ngôn của ông Giô-tham</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Khi người ta báo tin ấy cho ông Giô-tham, ông liền lên đứng trên đỉnh núi Gơ-ri-dim, cất tiếng gọi và nói với những người kia rằng: &#8220;Hỡi các thân hào Si-khem! Hãy nghe tôi đây, thì Thiên Chúa cũng sẽ nghe các người.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Cây cối đã lên đường đi xức dầu phong một vua cai trị chúng. Chúng nói với cây ô-liu: &#8220;Hãy làm vua cai trị chúng tôi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nhưng cây ô-liu nói với chúng: &#8220;Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ dầu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời được tôn trọng, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Cây cối liền nói với cây vả: &#8220;Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nhưng cây vả bảo chúng: &#8220;Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ vị ngọt và trái ngon của tôi mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Bấy giờ cây cối nói với cây nho: &#8220;Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nhưng cây nho bảo chúng: &#8220;Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ rượu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời phấn khởi, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Tất cả cây cối liền nói với bụi gai: &#8220;Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Bụi gai trả lời cây cối: &#8220;Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Li-băng!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Các người có đối xử thành thật và trọn đạo khi tôn A-vi-me-léc lên làm vua không? Các người có đối xử tốt với ông Giơ-rúp-ba-an và nhà ông ấy không? Có đối xử với ông xứng với công lao của ông không? <sup>17</sup> Cha tôi đã chiến đấu vì các người, đã liều mạng để giải thoát các người khỏi tay quân Ma-đi-an. <sup>18</sup> Thế mà ngày nay các người lại phản bội nhà cha tôi, tàn sát con cái ông, tất cả bảy mươi người trên cùng một tảng đá, rồi đặt đứa con người tỳ thiếp của ông là A-vi-me-léc lên làm vua cai trị các thân hào Si-khem, vì y là bà con của các người. <sup>19</sup> Vậy, nếu ngày hôm nay các người đã đối xử thành thật và trọn đạo với ông Giơ-rúp-ba-an và nhà ông, thì cứ việc vui vì A-vi-me-léc, và mong sao y cũng được vui vì các người. <sup>20</sup> Bằng không, thì xin cho một ngọn lửa phát ra từ A-vi-me-léc để thiêu huỷ các thân hào Si-khem cùng với dân Bết Mi-lô, và xin cho một ngọn lửa phát ra từ các thân hào Si-khem và dân Bết Mi-lô để thiêu huỷ A-vi-me-léc nữa!&#8221; <sup>21</sup> Rồi ông Giô-tham chạy về phía Bơ-e và trú ngụ tại đây, vì sợ A-vi-me-léc, người anh em của ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Si-khem phản loạn chống A-vi-me-léc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> A-vi-me-léc cầm quyền cai trị Ít-ra-en ba năm. <sup>23</sup> Rồi Thiên Chúa gây một thần khí bất hoà giữa A-vi-me-léc và các thân hào Si-khem, khiến các thân hào Si-khem phản lại A-vi-me-léc. <sup>24</sup> Như vậy là để báo phục tội giết bảy mươi người con ông Giơ-rúp-ba-an, và để làm cho máu họ đổ xuống trên A-vi-me-léc, người anh em đã giết họ, và đổ xuống trên các thân hào Si-khem, những người đã tiếp tay với y, để y giết anh em mình. <sup>25</sup> Các thân hào Si-khem đã đặt những ổ mai phục trên các ngọn núi, để cướp bóc tất cả những người đi ngang qua đó. Người ta báo tin ấy cho A-vi-me-léc biết.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Bấy giờ ông Ga-an, con ông E-vét, cùng đi với anh em ông, và họ qua Si-khem; các thân hào Si-khem tín nhiệm ông. <sup>27</sup> Họ ra vườn hái nho, rồi đạp ép và tổ chức vui chơi. Họ vào đền các thần minh của họ, ăn uống và nguyền rủa A-vi-me-léc. <sup>28</sup> Ông Ga-an, con ông E-vét nói: &#8220;A-vi-me-léc là ai, và Si-khem là ai mà chúng ta làm tôi nó? Nó chẳng phải là con Giơ-rúp-ba-an, và đại diện của nó chẳng phải là Dơ-vun sao? Các người hãy làm tôi con cái Kha-mo, cha của Si-khem; còn chúng tôi, việc gì chúng tôi phải làm tôi nó? <sup>29</sup> Ai sẽ trao dân này vào tay tôi, để tôi loại trừ A-vi-me-léc? Và tôi nói với nó: &#8220;Hãy tăng thêm quân của mi và ra đây!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ông Dơ-vun, tổng trấn thành, nghe những lời ông Ga-an, con ông E-vét nói, thì nổi giận. <sup>31</sup> Ông lập mưu sai sứ đến nói với A-vi-me-léc rằng: &#8220;Này, Ga-an, con của E-vét, và anh em y đã đến Si-khem và đang khích động thành này chống lại ông. <sup>32</sup> Vậy, đang đêm ông hãy trỗi dậy, và cùng với quân lính của ông mai phục ngoài đồng. <sup>33</sup> Rồi sáng sớm, lúc rạng đông, hãy mau lẹ tấn công thành. Khi y và đám người cùng đi với y ra đón ông, thì gặp chúng đâu ông hãy đánh đó.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ðang đêm, A-vi-me-léc cùng với quân lính của ông chỗi dậy, chia thành bốn nhóm mai phục gần Si-khem. <sup>35</sup> Ông Ga-an, con ông E-vét, đi ra và dừng lại ở lối vào cổng thành. A-vi-me-léc cùng với quân lính của ông từ chỗ mai phục chỗi dậy. <sup>36</sup> Ông Ga-an thấy đám dân thì nói với ông Dơ-vun: &#8220;Ðây là đám dân từ các đỉnh núi xuống.&#8221; Nhưng ông Dơ-vun nói: &#8220;Ðó là bóng núi mà ông lại trông ra như người ta.&#8221; <sup>37</sup> Ông Ga-an còn lên tiếng nói: &#8220;Ðây là những người từ rốn đất mà xuống, còn nhóm kia thì từ con đường Cây Sồi Các Thầy Bói mà đến.&#8221; <sup>38</sup> Bấy giờ ông Dơ-vun nói với ông: &#8220;Ðâu rồi cái miệng ngươi từng nói: A-vi-me-léc là ai mà chúng ta làm tôi nó? Ðây chẳng phải là đám dân ngươi đã khinh dể sao? Bây giờ ngươi hãy đi ra mà giao chiến với nó.&#8221; <sup>39</sup> Ông Ga-an đi ra, dẫn đầu các thân hào Si-khem, giao chiến với A-vi-me-léc. <sup>40</sup> Nhưng A-vi-me-léc đuổi đánh ông, và ông Ga-an phải trốn chạy. Nhiều người gục chết trước khi tới được lối vào cổng.41 Sau đó A-vi-me-léc cư ngụ ở A-ru-ma; còn ông Dơ-vun thì trục xuất ông Ga-an và anh em ông, không cho ở Si-khem nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Triệt hạ thành và tháp Si-khem</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Hôm sau đám người kia đi ra cánh đồng, và người ta báo cho A-vi-me-léc biết. <sup>43</sup> Ông lấy dân của mình chia thành ba nhóm và sắp xếp một cuộc mai phục ngoài đồng. Ông nhìn, và này đám người kia đi ra khỏi thành; ông chỗi dậy tiến đánh chúng tơi bời. <sup>44</sup> A-vi-me-léc cùng với quân lính của ông ập tới chặn lối vào cổng thành, còn hai nhóm kia thì ập tới tất cả những kẻ ở ngoài đồng và đánh chúng tơi bời. <sup>45</sup> Suốt ngày hôm ấy A-vi-me-léc tấn công thành. Ông đã chiếm được thành và tàn sát tất cả dân cư, rồi triệt hạ và rắc muối lên thành. <sup>46</sup> Nghe tin đó, các thân hào Mích-đan Si-khem liền xuống hầm đền thờ En Bơ-rít. <sup>47</sup> Người ta báo tin cho A-vi-me-léc biết là tất cả thân hào Mích-đan Si-khem đã họp nhau lại. <sup>48</sup> Bấy giờ A-vi-me-léc lên núi Xan-môn cùng với tất cả quân lính của ông. Ông cầm rìu chặt một cành cây, giơ lên, rồi đặt xuống vai mình, và nói với quân lính của ông: &#8220;Các anh thấy tôi làm gì, thì cứ làm như tôi, mau lên!&#8221; <sup>49</sup> Mọi người đều chặt, mỗi người một cành cây. Họ đi theo A-vi-me-léc, đặt cành cây trên hầm, rồi nổi lửa đốt hầm, làm cho mọi người ở Mích-đan Si-khem chết hết, khoảng chừng một ngàn người, cả đàn ông lẫn đàn bà.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A-vi-me-léc tấn công Tê-vết và bị tử trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>50</sup> Sau đó A-vi-me-léc đi đến Tê-vết, đóng trại đối diện với Tê-vết và chiếm thành ấy. <sup>51</sup> Có một ngọn tháp kiên cố ở giữa thành và tất cả đàn ông, đàn bà cùng toàn thể các thân hào trong thành đều trốn vào tháp ấy; họ ẩn náu bên trong và leo lên lầu của ngọn tháp. <sup>52</sup> A-vi-me-léc đi tới và tấn công tháp; ông đến sát lối vào tháp để châm lửa đốt. <sup>53</sup> Bấy giờ một người đàn bà liệng một phiến đá cối xuống đầu A-vi-me-léc làm ông bể sọ. <sup>54</sup> Ông liền gọi chàng thanh niên cận vệ của mình và bảo: &#8220;Hãy tuốt gươm giết ta đi, kẻo người ta lại nói về ta rằng: Một người đàn bà đã giết hắn.&#8221; Người cận vệ đâm ông, và ông đã chết. <sup>55</sup> Người Ít-ra-en thấy A-vi-me-léc đã chết thì bỏ đi, ai nấy về nhà mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>56</sup> Thế là Thiên Chúa đã báo oán A-vi-me-léc vì sự dữ ông đã gây cho thân phụ mình là giết bảy mươi người anh em. <sup>57</sup> Và Thiên Chúa đã báo oán những người Si-khem vì tất cả sự dữ họ đã gây ra. Như thế là đã ứng nghiệm nơi họ lời chúc dữ của Giô-tham, con ông Giơ-rúp-ba-an.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Ông Gíp-Tác Và Các thủ Lãnh Nhỏ</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">6. Ông Tô-La</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau A-vi-me-léc, có ông Tô-la con ông Pu-a, cháu ông Ðô-đô, người Ít-xa-kha, đã xuất hiện để cứu Ít-ra-en. Ông cư ngụ tại Sa-mia, vùng núi Ép-ra-im. <sup>2</sup> Ông làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi ba năm, thì qua đời và được chôn cất tại Sa-mia.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">7. Ông Gia-Ia</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Sau ông Tô-la, thì có ông Gia-ia, người Ga-la-át, xuất hiện, làm thủ lãnh Ít-ra-en hai mươi hai năm. <sup>4</sup> Ông có ba mươi người con, cỡi ba mươi con lừa và coi ba mươi thành, mà người ta đặt tên là Kha-vốt Gia-ia; những thành đó còn cho tới ngày nay trong đất Ga-la-át.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Rồi ông Gia-ia qua đời và được chôn cất tại Ca-môn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">8. Ông Gíp-Tác</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en bị người Am-mon đàn áp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Con cái Ít-ra-en lại làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa và làm tôi các thần Ba-an và Át-tô-rét, các thần của người A-ram, các thần của người Xi-đôn, các thần của người Mô-áp, các thần của con cái Am-mon và các thần của người Phi-li-tinh; họ đã lìa bỏ Ðức Chúa và không làm tôi Người nữa. <sup>7</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en và đã trao họ vào tay người Phi-li-tinh và vào tay con cái Am-mon. <sup>8</sup> Trong thời ấy, suốt mười tám năm, chúng hành hạ và áp bức con cái Ít-ra-en, tức là toàn thể con cái Ít-ra-en ở bên kia sông Gio-đan, trong đất người E-mô-ri tại Ga-la-át. <sup>9</sup> Con cái Am-mon vượt sông Gio-đan để giao chiến với cả Giu-đa, Ben-gia-min và nhà Ép-ra-im nữa, khiến Ít-ra-en phải lâm cảnh khốn cùng. <sup>10</sup> Bấy giờ con cái Ít-ra-en mới kêu lên Ðức Chúa rằng: &#8220;Chúng con đã xúc phạm đến Ngài, bởi vì chúng con đã lìa bỏ Thiên Chúa của chúng con mà làm tôi các Ba-an.&#8221; <sup>11</sup> Ðức Chúa phán với con cái Ít-ra-en: &#8220;Khi người Ai-cập, người E-mô-ri, con cái Am-mon, người Phi-li-tinh, <sup>12</sup> người Xi-đôn, người A-ma-lếch và người Ma-đi-an áp bức các ngươi, và các ngươi kêu lên Ta, thì Ta đã chẳng cứu các ngươi khỏi tay chúng sao? <sup>13</sup> Nhưng các ngươi đã lìa bỏ Ta và làm tôi các thần khác; vì thế, Ta sẽ không cứu các ngươi nữa. <sup>14</sup> Ði mà kêu lên các thần các ngươi đã chọn; chúng sẽ cứu các ngươi lúc các ngươi bị cơ cực!&#8221; <sup>15</sup> Con cái Ít-ra-en mới thưa cùng Ðức Chúa: &#8220;Chúng con đã phạm tội. Xin Ngài cứ xử với chúng con sao cho đẹp mắt Ngài; nhưng hôm nay xin cứu chúng con.&#8221; <sup>16</sup> Họ cất bỏ, không giữ lại những thần ngoại bang nữa, và họ làm tôi Ðức Chúa, vì thế Người không dằn lòng được trước sự đau khổ của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Con cái Am-mon tập họp lại và đóng trại ở Ga-la-át. Con cái Ít-ra-en cũng hội lại và đóng trại ở Mít-pa. <sup>18</sup> Dân chúng và các thủ lãnh Ga-la-át nói với nhau: &#8220;Ai là người sẽ xung phong giao chiến với con cái Am-mon? Người ấy sẽ đứng đầu toàn thể dân cư Ga-la-át.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Gíp-tác đặt điều kiện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Gíp-tác, người Ga-la-át, bấy giờ là một dũng sĩ. Ông là con của một gái điếm. Ông Ga-la-át sinh ra Gíp-tác. <sup>2</sup> Nhưng vợ ông Ga-la-át cũng sinh cho ông những người con khác nữa. Các người con của bà này khi lớn lên đã đuổi Gíp-tác đi, và nói với ông: &#8220;Mày không có phần gia nghiệp trong nhà của cha chúng tao, vì mày là con của một mụ khác.&#8221; <sup>3</sup> Ông Gíp-tác liền bỏ trốn, không ở với các anh nữa. Ông cư ngụ tại đất Tốp; những đứa vô lại kết đảng với ông Gíp-tác và cùng với ông tung hoành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Sau đó một thời gian, con cái Am-mon giao chiến với Ít-ra-en. <sup>5</sup> Và khi con cái Am-mon giao chiến với Ít-ra-en, thì các kỳ mục Ga-la-át đi tìm ông Gíp-tác ở đất Tốp. <sup>6</sup> Họ nói với ông Gíp-tác: &#8220;Xin ông đến chỉ huy chúng tôi giao chiến với con cái Am-mon.&#8221; <sup>7</sup> Ông Gíp-tác trả lời các kỳ mục Ga-la-át: &#8220;Nào chẳng phải chính các ông đã ghét tôi và đuổi tôi ra khỏi nhà cha tôi sao? Vì cớ gì bây giờ các ông lại đến với tôi, lúc các ông lâm cảnh khốn cùng?&#8221; <sup>8</sup> Các kỳ mục Ga-la-át nói với ông Gíp-tác: &#8220;Ấy vậy bây giờ chúng tôi mới phải quay về với ông; xin ông đến với chúng tôi, ông sẽ giao chiến với con cái Am-mon, sẽ thành người lãnh đạo chúng tôi, tức là toàn thể dân cư Ga-la-át.&#8221; <sup>9</sup> Ông Gíp-tác nói với các kỳ mục Ga-la-át: &#8220;Nếu các ông đưa tôi về để giao chiến với con cái Am-mon, và Ðức Chúa trao chúng vào tay tôi, thì tôi sẽ là người lãnh đạo các ông.&#8221; <sup>10</sup> Các kỳ mục Ga-la-át nói với ông Gíp-tác: &#8220;Xin Ðức Chúa chứng giám cho chúng ta, nếu chúng tôi không làm như lời ông nói.&#8221; <sup>11</sup> Rồi ông Gíp-tác cùng đi với các kỳ mục Ga-la-át, và dân đã đặt ông làm người lãnh đạo và chỉ huy họ; ông Gíp-tác lặp lại tất cả các lời ông đã nói, trước nhan Ðức Chúa tại Mít-pa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Gíp-tác điều đình với con cái Am-mon</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Gíp-tác sai sứ giả đến nói với vua dân Am-mon rằng: &#8220;Giữa tôi với ông có chuyện gì mà ông lại đến chống tôi, để giao chiến với xứ sở tôi?&#8221; <sup>13</sup> Vua dân Am-mon nói với các sứ giả của ông Gíp-tác: &#8220;Tại sao, khi lên khỏi Ai-cập, Ít-ra-en lại chiếm đất của ta, từ Ác-nôn cho tới Giáp-bốc và tới sông Gio-đan? Bây giờ muốn yên thì trả lại đi!&#8221; <sup>14</sup> Ông Gíp-tác lại sai sứ giả đến với vua dân Am-mon lần nữa <sup>15</sup> và thưa: &#8220;Ông Gíp-tác nói thế này: Ít-ra-en không chiếm đất của Mô-áp cũng như đất của con cái Am-mon, <sup>16</sup> vì khi đi lên khỏi Ai-cập, Ít-ra-en đã đi con đường sa mạc tới Biển Sậy và đã đến Ca-đê. <sup>17</sup> Bấy giờ Ít-ra-en sai sứ giả đến thưa với vua Ê-đôm rằng: Xin cho phép tôi đi qua đất của ngài. Nhưng vua Ê-đôm không nghe. Ít-ra-en cũng sai người đến với vua Mô-áp, nhưng ông này cũng chẳng nghe; Ít-ra-en đành lưu lại Ca-đê. <sup>18</sup> Sau đó, họ đã theo con đường sa mạc đi bọc xứ Ê-đôm và Mô-áp, tới phía đông đất Mô-áp, và đóng trại bên kia Ác-nôn, nhưng không vào biên giới Mô-áp vì Ác-nôn là biên giới Mô-áp. <sup>19</sup> Rồi Ít-ra-en sai sứ giả đến gặp ông Xi-khôn, vua dân E-mô-ri, trị vì tại Khét-bôn và thưa với ông: Xin cho phép tôi đi qua đất của ngài để tới nơi tôi phải đến. <sup>20</sup> Thế nhưng ông Xi-khôn đã không tin mà cho Ít-ra-en đi qua biên giới của ông; ông Xi-khôn lại còn triệu tập toàn dân, đóng trại tại Gia-hát và giao chiến với Ít-ra-en. <sup>21</sup> Và Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đã trao ông Xi-khôn và toàn dân của ông vào tay Ít-ra-en, và Ít-ra-en đã đánh chúng tơi bời. Rồi Ít-ra-en chiếm hết đất của dân E-mô-ri cư ngụ trên đất ấy. <sup>22</sup> Họ cũng chiếm tất cả các biên giới của người E-mô-ri từ Ác-nôn tới Giáp-bốc, và từ sa mạc tới sông Gio-đan. <sup>23</sup> Bây giờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en đã trục xuất người E-mô-ri khỏi Ít-ra-en dân của Người, thì liệu ông có trục xuất được nó không? <sup>24</sup> Cái mà thần Cơ-mốt của ông, ban cho ông làm sở hữu, ông lại không chiếm hữu sao? Cũng thế, tất cả những gì Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi đã truất hữu của những dân sở hữu, trước mặt chúng tôi, thì chúng tôi chiếm hữu. <sup>25</sup> Nay liệu ông có hơn gì ông Ba-lác, con ông Xíp-po, vua Mô-áp không? Ông ta có tranh chấp nổi với Ít-ra-en, hay là đánh bại được nó không? <sup>26</sup> Khi Ít-ra-en định cư tại Khét-bôn và các thị trấn phụ thuộc, tại A-rô-e và các thị trấn phụ thuộc, tại tất cả các thành nằm trên các nhánh của Ác-nôn đã ba trăm năm, thì tại sao lúc bấy giờ các người không chiếm lại? <sup>27</sup> Tôi đã không xúc phạm đến ông, còn ông đã xử tệ với tôi là giao chiến với tôi. Xin Ðức Chúa, Ðấng phán xét, hôm nay phân xử giữa con cái Ít-ra-en và con cái Am-mon.&#8221; <sup>28</sup> Nhưng vua dân Am-mon không nghe những lời ông Gíp-tác sai người nói với vua.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Gíp-tác khấn và thắng trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Thần khí của Ðức Chúa ở trên ông Gíp-tác và ông đã sang Ga-la-át và Mơ-na-se, rồi qua Mít-pa Ga-la-át, và từ Mít-pa Ga-la-át ông qua đánh con cái Am-mon. <sup>30</sup> Ông Gíp-tác khấn hứa với Ðức Chúa rằng: &#8220;Nếu Ngài trao con cái Am-mon vào tay con, <sup>31</sup> thì &#8211; khi con đã thắng con cái Am-mon mà trở về bình an &#8211; hễ người nào ra khỏi cửa nhà con để đón con, người đó sẽ thuộc về Ðức Chúa, và con sẽ dâng nó làm lễ toàn thiêu.&#8221; <sup>32</sup> Ông Gíp-tác qua bên con cái Am-mon để giao chiến với chúng, và Ðức Chúa đã trao chúng vào tay ông. <sup>33</sup> Ông đánh chúng tơi bời từ A-rô-e cho tới gần Min-nít, tất cả là hai mươi thành, và cho tới A-vên Cơ-ra-mim. Thật là một cuộc đại bại: con cái Am-mon bị hạ nhục trước mặt con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Khi ông Gíp-tác trở về Mít-pa, về nhà ông, thì này con gái ông ra đón ông, vừa đánh trống vừa nhảy múa. Cô là con gái độc nhất của ông: ngoài cô ra, ông không có con trai con gái nào khác. <sup>35</sup> Thoạt nhìn thấy cô, ông liền xé áo và nói: &#8220;Ôi, con gái của cha, thật con làm khổ cha rồi! Chính con lại ở trong số những kẻ gây bất hạnh cho cha! Cha đã trót mở miệng khấn hứa cùng Ðức Chúa và không thể rút lại được.&#8221; <sup>36</sup> Cô thưa với ông: &#8220;Thưa cha, cha đã trót mở miệng khấn hứa cùng Ðức Chúa, thì cha cứ thi hành cho con như lời cha đã khấn hứa, vì Ðức Chúa đã cho cha trả thù được con cái Am-mon, kẻ thù của cha.&#8221; <sup>37</sup> Cô lại nói với cha: &#8220;Xin cha cho con điều này là hoãn cho con hai tháng để con đi lang thang trên các núi đồi, mà khóc cho đời con gái của con cùng với các bạn con.&#8221; <sup>38</sup> Ông nói: &#8220;Con cứ đi&#8221;, và ông để cho cô đi hai tháng. Cô ra đi cùng với các bạn, khóc cho đời con gái của cô trên các núi đồi. <sup>39</sup> Hết hai tháng, cô trở về với cha, và ông thi hành cho cô lời ông đã khấn hứa. Cô chưa biết đến việc vợ chồng. Và đã thành mọi tục lệ trong Ít-ra-en, là <sup>40</sup> hằng năm các cô gái Ít-ra-en đi khóc thương con gái ông Gíp-tác, người Ga-la-át, mỗi năm bốn ngày.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến tranh giữa Ép-ra-im và Ga-la-át. Ông Gíp-tác qua đời.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Ép-ra-im tập hợp lại, vượt sông tới Xa-phôn và nói với ông Gíp-tác: &#8220;Tại sao ông vượt sông đánh con cái Am-mon, mà lại không gọi chúng tôi cùng đi? Chúng tôi sẽ nổi lửa đốt nhà ông cho ông chết luôn!&#8221; <sup>2</sup> Ông Gíp-tác nói với họ: &#8220;Tôi và dân tôi phải tranh chấp ác liệt với con cái Am-mon. Tôi đã cầu cứu các người, mà các người đã chẳng cứu tôi khỏi tay chúng. <sup>3</sup> Tôi thấy không ai cứu, nên đã liều mạng vượt sông đánh con cái Am-mon, và Ðức Chúa đã trao tay chúng vào tay tôi. Vậy tại sao hôm nay các người lại lên gây chiến với tôi?&#8221; <sup>4</sup> Ông Gíp-tác tập hợp tất cả các người Ga-la-át và giao chiến với Ép-ra-im. Người Ga-la-át đánh Ép-ra-im tơi bời, vì Ép-ra-im đã nói: &#8220;Này quân Ga-la-át! Tụi bay chỉ là người Ép-ra-im đào thoát, ăn bám cả Ép-ra-im lẫn Mơ-na-se.&#8221; <sup>5</sup> Ga-la-át chiếm giữ các khúc cạn trên sông Gio-đan, nơi Ép-ra-im có thể qua. Khi có người Ép-ra-im đào thoát nói: &#8220;Cho tôi qua&#8221;, thì những người Ga-la-át hỏi: &#8220;Anh có phải là người Ép-ra-im không?&#8221; Nếu hắn đáp: &#8220;Không&#8221;, <sup>6</sup> thì họ bảo: &#8220;Hãy nói: Síp-bô-lét.&#8221; Nếu hắn nói: &#8220;Xíp-bô-lét&#8221;, vì hắn không nói đúng được, thì bấy giờ họ bắt lấy hắn mà giết, gần khúc cạn trên sông Gio-đan. Thời gian đó, bốn mươi hai ngàn người Ép-ra-im đã ngã gục.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ông Gíp-tác làm thủ lãnh Ít-ra-en sáu năm, rồi ông Gíp-tác, người Ga-la-át, qua đời và được chôn cất trong thành của mình, ở Ga-la-át.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">9. Ông Íp-Xan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Sau ông Gíp-tác, thì có ông Íp-xan, người Bê-lem, làm thủ lãnh Ít-ra-en. <sup>9</sup> Ông có ba mươi người con trai và ba mươi người con gái. Ông gả các cô cho người ngoại bang, và hỏi ba mươi người vợ cho các con trai ông, cũng người ngoại bang. Ông làm thủ lãnh Ít-ra-en bảy năm. <sup>10</sup> Rồi ông Íp-xan qua đời và được chôn cất tại Bê-lem.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">10. Ông Ê-Lôn</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Sau ông Íp-xan, thì có ông Ê-lôn, người Dơ-vu-lun, làm thủ lãnh Ít-ra-en. Ông làm thủ lãnh mười năm. <sup>12</sup> Rồi ông Ê-lôn, người Dơ-vu-lun, qua đời và được chôn cất tại Ai-gia-lôn, trong đất Dơ-vu-lun.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">11. Ông Áp-Ðôn</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Sau ông Ê-lôn, thì có ông Áp-đôn, con ông Hi-lên, người Pia-a-thôn, làm thủ lãnh Ít-ra-en. <sup>14</sup> Ông có bốn mươi con trai và ba mươi cháu trai, cỡi bảy mươi con lừa. Ông làm thủ lãnh Ít-ra-en tám năm. <sup>15</sup> Rồi ông Áp-đôn, con ông Hi-lên, người Pia-a-thôn, qua đời và được chôn cất tại Pia-a-thôn, trong đất Ép-ra-im, trên núi của người A-ma-lếch.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">12. Ông Sam-Sôn</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Truyền tin ông Sam-sôn ra đời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Con cái Ít-ra-en lại làm sự dữ trái mắt Ðức Chúa, và Ðức Chúa đã trao họ vào tay người Phi-li-tinh bốn mươi năm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Có một người đàn ông ở Xo-rơ-a, thuộc chi tộc Ðan, tên là Ma-nô-ác. Vợ ông son sẻ và không sinh con. <sup>3</sup> Sứ giả của Ðức Chúa hiện ra với người vợ và nói với bà: &#8220;Này, bà là người son sẻ và không sinh con, nhưng bà sẽ có thai và sinh một con trai. <sup>4</sup> Vậy bây giờ phải kiêng cữ: đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn mọi thứ không thanh sạch. <sup>5</sup> Vì này bà sẽ có thai và sinh một con trai. Dao cạo sẽ không được lướt trên đầu nó, vì con trẻ sẽ là một na-dia của Thiên Chúa từ lòng mẹ. Chính nó sẽ bắt đầu cứu Ít-ra-en khỏi tay người Phi-li-tinh.&#8221; <sup>6</sup> Bà đi vào và nói với chồng rằng: &#8220;Một người của Thiên Chúa đã đến gặp tôi; hình dáng của người như hình dáng một sứ giả của Thiên Chúa, rất đáng sợ. Tôi đã không dám hỏi người từ đâu tới; và danh tánh người, người cũng không tiết lộ cho tôi. <sup>7</sup> Nhưng người nói với tôi: &#8220;Này bà sẽ có thai và sẽ sinh một con trai; bây giờ bà phải kiêng cữ: đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn mọi thứ không thanh sạch, vì con trẻ ấy sẽ là một na-dia của Thiên Chúa, từ lòng mẹ cho đến ngày nó chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên sứ hiện ra lần thứ hai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông Ma-nô-ác khẩn cầu Ðức Chúa, ông nói: &#8220;Thưa Ngài, xin vui lòng cho người của Thiên Chúa mà Ngài đã sai, đến với chúng con một lần nữa, và dạy chúng con phải làm gì cho đứa trẻ sẽ sinh ra.&#8221; <sup>9</sup> Thiên Chúa nghe tiếng ông Ma-nô-ác, và sứ giả của Ðức Chúa lại đến gặp vợ ông, lúc bà đang ở ngoài đồng, khi ông Ma-nô-ác, chồng bà, không có mặt ở đó. <sup>10</sup> Bà vội vã chạy đi báo cho chồng, và nói với ông: &#8220;Này người đã gặp tôi hôm trước, lại hiện ra với tôi nữa.&#8221; <sup>11</sup> Ông Ma-nô-ác đứng dậy đi theo vợ, đến gặp người kia và nói: &#8220;Ngài có phải là người đã nói với bà này không?&#8221; Người ấy đáp: &#8220;Chính tôi.&#8221; <sup>12</sup> Ông Ma-nô-ác nói: &#8220;Khi xảy ra như ngài nói, thì đứa bé phải giữ luật nào, và nó phải làm gì?&#8221; <sup>13</sup> Sứ giả của Ðức Chúa nói với ông Ma-nô-ác: &#8220;Tất cả những điều tôi đã nói với bà ấy thì bà ấy phải giữ. <sup>14</sup> Tất cả những gì bởi cây nho mà ra, thì bà không được ăn, cũng không được uống rượu và thức có men; tất cả những gì không thanh sạch, thì bà không được ăn. Mọi điều tôi đã truyền, thì bà phải tuân giữ.&#8221; <sup>15</sup> Ông Ma-nô-ác thưa với sứ giả của Ðức Chúa: &#8220;Xin cho phép chúng tôi giữ ngài lại và dọn hầu ngài một con dê tơ!&#8221; <sup>16</sup> Sứ giả của Ðức Chúa nói với ông Ma-nô-ác: &#8220;Ông có giữ tôi lại, tôi cũng chẳng ăn bánh của ông; nhưng nếu ông dọn lễ toàn thiêu kính Ðức Chúa, thì ông hãy dâng lên Người đi&#8221;, vì ông Ma-nô-ác không biết người ấy là sứ giả của Ðức Chúa. <sup>17</sup> Bấy giờ ông Ma-nô-ác nói với sứ giả của Ðức Chúa: &#8220;Xin ngài cho biết quý danh, để khi xảy ra như ngài nói, chúng tôi sẽ trọng đãi ngài!&#8221; <sup>18</sup> Sứ giả của Ðức Chúa nói với ông: &#8220;Sao ông lại hỏi tên tôi? Ðó là một điều bí nhiệm.&#8221; <sup>19</sup> Bấy giờ ông Ma-nô-ác bắt một con dê tơ và lấy tế phẩm, để dâng làm lễ toàn thiêu trên tảng đá kính Ðức Chúa, Ðấng đã thực hiện những kỳ công, rồi ông Ma-nô-ác và bà vợ đứng nhìn. <sup>20</sup> Khi ngọn lửa từ bàn thờ bốc lên trời, thì sứ giả của Ðức Chúa cũng lên theo trong ngọn lửa của bàn thờ, trước sự chứng kiến của ông Ma-nô-ác và vợ ông; họ phục lạy sát đất. <sup>21</sup> Sứ giả của Ðức Chúa không hiện ra với ông Ma-nô-ác và vợ ông nữa. Bấy giờ ông Ma-nô-ác mới biết vị đó chính là sứ giả của Ðức Chúa. <sup>22</sup> Ông Ma-nô-ác liền nói với vợ: &#8220;Chúng ta chết mất thôi, vì đã thấy Thiên Chúa.&#8221; <sup>23</sup> Nhưng vợ ông nói với ông: &#8220;Nếu Ðức Chúa có ý định giết chúng ta, thì Người đã chẳng nhận lễ toàn thiêu và tế phẩm từ tay chúng ta, đã chẳng cho chúng ta thấy tất cả những điều ấy, và mới đây đã chẳng cho chúng ta nghe một điều như thế.&#8221; <sup>24</sup> Bà sinh được một con trai và đặt tên là Sam-sôn. Ðứa bé lớn lên, và Ðức Chúa chúc lành cho nó. <sup>25</sup> Thần khí Ðức Chúa bắt đầu tác động trên Sam-sôn tại Trại Ðan giữa Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sam-sôn kết hôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sam-sôn xuống Tim-na và để ý đến một phụ nữ trong số các con gái của người Phi-li-tinh tại Tim-na. <sup>2</sup> Ông trở lên và báo cho cha mẹ rằng: &#8220;Con đã để ý đến một phụ nữ trong số con gái của người Phi-li-tinh tại Tim-na. Vậy xin cha mẹ cưới cô ấy cho con.&#8221; <sup>3</sup> Cha ông cũng như mẹ ông nói: &#8220;Trong số con gái của bà con mày và trong tất cả dân tao, không có phụ nữ hay sao mà mày lại đi lấy vợ trong đám người Phi-li-tinh không cắt bì ấy?&#8221; Nhưng ông Sam-sôn trả lời cha: &#8220;Xin cha cứ cưới cô ấy cho con, vì nàng vừa mắt con.&#8221; <sup>4</sup> Cha mẹ ông không biết rằng việc đó là do Ðức Chúa xui khiến, bởi lẽ Người đang tìm cớ cho người Phi-li-tinh gây chuyện, vì thời ấy người Phi-li-tinh đang đô hộ Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông Sam-sôn xuống Tim-na, và khi ông tới các vườn nho ở Tim-na, thì này một con sư tử con rống lên và chồm ra phía ông. <sup>6</sup> Bấy giờ thần khí của Ðức Chúa ập xuống trên ông; ông dùng tay không xé nó ra như xé một con dê con; nhưng ông không cho cha mẹ hay việc ông đã làm. <sup>7</sup> Sau đó ông xuống chuyện trò với người phụ nữ và nàng vừa mắt Sam-sôn. <sup>8</sup> Ít lâu sau, ông trở lại cưới nàng. Ông rẽ qua để xem xác chết con sư tử, thì này có một đàn ong đậu trong bộ xương con sư tử và cả mật nữa. <sup>9</sup> Ông móc ra và cầm trong tay, vừa đi vừa ăn. Rồi khi về nhà, ông biếu cha mẹ và cha mẹ ông cũng ăn. Nhưng ông không cho cha mẹ biết là ông đã móc mật ong từ bộ xương con sư tử. <sup>10</sup> Sau đó cha ông đã xuống gặp người phụ nữ và tại đó ông Sam-sôn làm một bữa tiệc, vì các trai tráng vẫn làm như thế. <sup>11</sup> Khi thấy ông, người ta đã cử ba mươi người trong số bạn hữu để ở với ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sam-sôn ra câu đố</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Sam-sôn nói với họ: &#8220;Tôi ra cho các anh một câu đố. Nếu trong bảy ngày tiệc, các anh giải được câu đố ấy và tìm ra câu đáp, thì tôi sẽ tặng các anh ba mươi chiếc áo lụa quý và ba mươi chiếc khác để thay. <sup>13</sup> Nếu các anh không giải được, thì các anh phải cho tôi ba mươi chiếc áo lụa quý và ba mươi chiếc khác để thay.&#8221; Họ nói với ông: &#8220;Anh ra câu đố đi; chúng tôi nghe đây!&#8221; <sup>14</sup> Ông liền nói với họ:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Thức ăn xuất tự người dùng,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngọt ngào xuất tự sức hùng, là chi?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nhưng sau ba ngày họ vẫn không giải được câu đố.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ngày thứ tư họ nói với vợ ông Sam-sôn: &#8220;Hãy dụ chồng chị để anh ấy giải nghĩa câu đố cho chúng tôi, nếu không, chúng tôi sẽ nổi lửa đốt cả chị lẫn nhà cha chị. Có phải để bóc lột chúng tôi mà các người đã mời chúng tôi tới đây hay không?&#8221; <sup>16</sup> Vợ ông Sam-sôn khóc tỉ tê bên ông. Nàng nói: &#8220;Anh chỉ có ghét em thôi, chẳng yêu em chút nào. Anh ra câu đố cho đồng bào em, mà lại không giải cho em.&#8221; Ông nói với nàng: &#8220;Này, cha mẹ anh, anh cũng còn không giải cho, huống chi là em!&#8221; <sup>17</sup> Nhưng nàng khóc tỉ tê bên ông suốt bảy ngày tiệc. Ngày thứ bảy ông đã giải nghĩa cho nàng, vì nàng quấy rầy ông; và nàng giải câu đố cho đồng bào mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngày thứ bảy, trước khi mặt trời lặn, người trong thành nói với ông:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Cái gì ngọt quá mật ong,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khoẻ hơn sư tử thì ông chịu hàng! &#8220;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông bảo họ:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Không cày với bò cái của ta,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tụi bay đã chẳng tìm ra câu này!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Bấy giờ thần khí của Ðức Chúa ập xuống trên ông; ông liền xuống Át-cơ-lôn và giết ba mươi người trong bọn họ, lột áo của những người ấy, rồi trao những áo để thay cho những kẻ đã giải được câu đố. Ông bừng bừng nổi giận trở về nhà cha ông. <sup>20</sup> Còn vợ của ông Sam-sôn, thì được gán cho một người đã làm phù rể cho ông.</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sam-sôn đốt mùa màng của người Phi-li-tinh</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ít lâu sau, vào mùa gặt lúa miến, ông Sam-sôn mang một con dê tơ đến thăm vợ. Ông nói: &#8220;Tôi muốn vào phòng ngủ của vợ tôi&#8221;; nhưng bố vợ không cho ông vào. <sup>2</sup> Bố vợ nói: &#8220;Thật sự tôi tưởng là anh đã chán ghét nó, nên tôi đã trao nó cho người đã làm phù rể cho anh. Con em nó lại chẳng khá hơn nó sao? Vậy để con em thay cho chị nó đi!&#8221; <sup>3</sup> Ông Sam-sôn nói với họ: &#8220;Lần này thì tôi vô tội đối với người Phi-li-tinh, nếu tôi làm hại chúng.&#8221; <sup>4</sup> Ông Sam-sôn đi bắt ba trăm con chó sói; lấy đuốc, rồi cột ngược đuôi con này với đuôi con kia và buộc một chiếc đuốc giữa hai đuôi. <sup>5</sup> Ông châm lửa vào đuốc và lùa sói vào đồng lúa chín của người Phi-li-tinh, thiêu rụi từ gốc rạ cho đến bông lúa, thiêu cả nho và ô-liu nữa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Người Phi-li-tinh hỏi: &#8220;Ai đã làm chuyện này?&#8221; Và người ta đáp: &#8220;Ðó là Sam-sôn, con rể của ông người Tim-na, vì ông ấy đã đem vợ hắn gán cho người phù rể của hắn.&#8221; Những người Phi-li-tinh đi lên, nổi lửa đốt cả nàng lẫn cha nàng. <sup>7</sup> Ông Sam-sôn nói với họ: &#8220;Vì chúng bay đã làm như thế, thì tao sẽ trả thù cho được mới thôi.&#8221; <sup>8</sup> Ông đánh cho chúng một trận tơi bời, khiến chúng bị thảm bại. Rồi ông xuống ở trong một hốc đá tại Ê-tham.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hàm lừa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Người Phi-li-tinh lên đóng trại ở Giu-đa và tràn ra tới Lê-khi.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Người Giu-đa nói với chúng: &#8220;Tại sao các anh lại lên chống chúng tôi? &#8221; Chúng đáp; &#8220;Ðể bắt trói Sam-sôn; chúng tôi lên để xử với hắn như hắn đã xử với chúng tôi&#8221; <sup>11</sup> Ba ngàn người Giu-đa xuống hốc đá ở Ê-tham, nói với ông Sam-sôn: &#8220;Ông không biết là người Phi-li-tinh đang đô hộ chúng ta sao? Ông đã làm gì cho chúng tôi thế?&#8221; Ông trả lời họ: &#8220;Chúng xử với tôi làm sao, tôi cũng xử với chúng như vậy!&#8221; <sup>12</sup> Họ nói: &#8220;Chúng tôi xuống bắt trói và nộp ông cho người Phi-li-tinh!&#8221; Ông Sam-sôn nói với họ: &#8220;Các anh phải thề với tôi là chính các anh sẽ không đập chết tôi.&#8221; <sup>13</sup> Họ đáp: &#8220;Chúng tôi chỉ bắt trói và nộp ông cho chúng thôi; chứ giết ông thì chúng tôi không giết.&#8221; Rồi họ dùng hai chiếc dây thừng mới mà trói ông và xốc ông lên khỏi hốc đá.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông vào đến Lê-khi, thì người Phi-li-tinh reo hò ra đón ông. Bấy giờ khi thần khí của Ðức Chúa ập xuống trên ông, thì những chiếc dây thừng trên cánh tay ông tựa như những sợi chỉ cháy xèo trong lửa và dây cột tay ông đều tuột xuống. <sup>15</sup> Vớ được một hàm lừa còn tươi, ông đưa tay lượm lấy và dùng nó đánh chết một ngàn người. <sup>16</sup> Ông Sam-sôn nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Với một hàm lừa ta đã giết chúng từng đống,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">với một hàm lừa ta đánh chết cả ngàn tên.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Nói xong ông liệng chiếc hàm khỏi tay, và gọi nơi ấy là Ra-mát Lê-khi. <sup>18</sup> Ông khát quá, nên kêu cầu Ðức Chúa rằng: &#8220;Ngài là Ðấng đã dùng tay tôi tớ Ngài thực hiện cuộc chiến thắng vĩ đại này, mà chẳng lẽ giờ đây con lại phải chết khát và rơi vào tay những kẻ không cắt bì?&#8221; <sup>19</sup> Bấy giờ Thiên Chúa xẻ khe đá ở Lê-khi, nước liền vọt ra; ông uống, thấy hồi sức và tỉnh táo lại. Bởi thế người ta gọi nơi ấy là Ên Ha-cô-rê; suối ấy vẫn còn ở Lê-khi cho tới ngày nay. <sup>20</sup> Ông Sam-sôn làm thủ lãnh Ít-ta-en hai mươi năm trong thời người Phi-li-tinh cai trị.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuyện xảy ra ở cổng thành Ga-da</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Sam-sôn đến Ga-da. Tại đây ông gặp một cô điếm và đi với cô. <sup>2</sup> Người ta báo cho những người Ga-da rằng: &#8220;Sam-sôn đã tới đây.&#8221; Họ liền bao vây và rình ông suốt đêm ấy ở cổng thành. Họ ở yên suốt đêm mà rằng: &#8220;Ðợi đến tảng sáng, ta sẽ giết hắn.&#8221; <sup>3</sup> Nhưng ông Sam-sôn nằm ngủ tới nửa đêm, và giữa đêm ông trỗi dậy, nắm lấy cánh cổng thành cùng với hai cây cột, nhổ luôn cả then ngang, rồi vác lên vai, đi trên đỉnh núi đối diện với Khép-rôn.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sam-sôn bị Ða-li-la phản trắc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Sau đó ông phải lòng một phụ nữ tên là Ða-li-la, ở thung lũng Xô-rếch. <sup>5</sup> Các vương hầu Phi-li-tinh lên gặp cô ta. Họ nói với nàng: &#8220;Cô hãy dụ hắn xem bởi đâu hắn có sức mạnh như thế, và chúng tôi phải dùng cách nào mới trị được hắn, trói làm sao mới khống chế được hắn, rồi mỗi người chúng tôi sẽ cho cô một ngàn mốt bạc.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ða-li-la nói với ông Sam-sôn: &#8220;Nào cho em biết, em xin anh: bởi đâu anh có sức mạnh như thế? Trói làm sao mới khống chế anh được?&#8221; <sup>7</sup> Ông Sam-sôn đáp: &#8220;Nếu trói anh bằng bảy dây cung mới, chưa phơi khô, thì anh sẽ mất sức và trở nên như bất cứ một người nào khác.&#8221; <sup>8</sup> Các vương hầu Phi-li-tinh đem đến cho nàng bảy dây cung mới chưa phơi khô; nàng dùng các dây ấy trói ông lại, <sup>9</sup> đang khi cho người rình sẵn trong phòng. Nàng nói với ông: &#8220;Này anh Sam-sôn! Quân Phi-li-tinh đấy!&#8221; Ông liền giật đứt các dây cung như sợi đay đứt khi đụng vào lửa. Thế là sức mạnh của ông không bị tiết lộ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Bấy giờ Ða-li-la nói với ông Sam-sôn: &#8220;Anh chỉ xí gạt em thôi, toàn nói xạo không à! Bây giờ hãy cho em biết, em xin anh: phải dùng cái gì mới trói được anh?&#8221; <sup>11</sup> Ông nói với nàng: &#8220;Nếu trói chặt anh bằng những dây thừng mới, chưa dùng vào việc gì, thì anh sẽ mất sức và trở nên như bất cứ một người nào khác.&#8221; <sup>12</sup> Ða-li-la liền lấy những dây thừng mới, trói ông lại, rồi nói: &#8220;Này anh Sam-sôn, quân Phi-li-tinh đấy!&#8221; Ðang khi cho người rình sẵn trong phòng. Nhưng ông đã giựt bung các dây thừng đó khỏi cánh tay như giựt một sợi chỉ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ða-li-la lại nói với ông Sam-sôn: &#8220;Ðến bây giờ mà anh vẫn còn xí gạt em, toàn nói xạo không à! Hãy cho em biết phải dùng cái gì mới trói được anh!&#8221; Ông nói với nàng: &#8220;Nếu em kết tóc trên đầu anh thành bảy bím, rồi cột vào dây thừng của khung dệt, đóng cọc siết cho chặt, thì anh sẽ mất sức và trở nên như bất cứ người nào khác.&#8221; <sup>14</sup> Vậy nàng làm cho ông ngủ, đoạn kết tóc trên đầu ông thành bảy bím rồi cột vào dây thừng của khung dệt và đóng cọc siết cho chặt. Nàng nói với ông: &#8220;Này anh Sam-sôn, quân Phi-li-tinh đấy!&#8221; Ông tỉnh giấc và bứng cả cọc, cả khung dệt, lẫn dây thừng của khung dệt.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Nàng lại nói với ông: &#8220;Làm sao anh nói là anh yêu em, trong khi anh không thật lòng với em? Ðây là lần thứ ba anh xí gạt em và không tỏ cho em biết: bởi đâu anh có sức mạnh như thế?&#8221; <sup>16</sup> Vì ngày nào nàng cũng dùng hết lời lẽ mà nài ép và làm khổ ông, khiến ông héo hắt đến chết được, <sup>17</sup> ông thổ lộ hết tâm can với nàng, và nói: &#8220;Dao cạo chưa hề đụng đến đầu anh, vì anh là một na-dia của Thiên Chúa từ lúc còn trong lòng mẹ. Nếu anh bị cạo đầu thì anh sẽ mất sức ngay, trở nên yếu nhược và như mọi người khác.&#8221; <sup>18</sup> Ða-li-la thấy rằng ông đã thổ lộ hết tâm can với nàng, liền sai người đi gọi các vương hầu Phi-li-tinh và nói: &#8220;Lần này các ông hãy lên, vì anh ấy đã thổ lộ hết tâm can với tôi.&#8221; Các vương hầu Phi-li-tinh liền lên gặp nàng, mang sẵn bạc trong tay. <sup>19</sup> Vậy nàng làm cho ông ngủ trên đầu gối mình, rồi kêu người cạo bảy bím tóc trên đầu ông; nàng bắt đầu khống chế ông, và ông đã mất sức. <sup>20</sup> Nàng nói: &#8220;Này anh Sam-sôn, quân Phi-li-tinh đấy!&#8221; Ông tỉnh giấc và nói: &#8220;Mình sẽ bung ra như mọi lần và lại thoát thôi.&#8221; Nhưng ông đâu có biết: Ðức Chúa không còn ở với ông nữa. <sup>21</sup> Quân Phi-li-tinh bắt lấy ông, móc mắt và giải ông xuống Ga-da. Chúng chập xích đồng lại, cột ông và bắt ông kéo cối xay trong nhà tù.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Sam-sôn trả thù rồi chết</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nhưng rồi từ cái đầu bị cạo trọc, tóc ông lại mọc ra. <sup>23</sup> Các vương hầu Phi-li-tinh họp lại để long trọng tế thần Ða-gôn của chúng và ăn mừng. Chúng nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Thần của ta đã trao vào tay ta tên Sam-sôn, kẻ thù của ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Khi nhìn thấy ông, dân chúng reo hò tung hô thần của chúng và nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Thần của ta đã trao vào tay ta tên Sam-sôn, kẻ thù của ta,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kẻ tàn phá xứ sở ta, kẻ tăng thêm số tử vong của ta.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Trong khi lòng hả hê, chúng nói: &#8220;Hãy gọi Sam-sôn ra làm trò tiêu khiển cho chúng ta!&#8221; Vậy chúng kêu ông Sam-sôn từ nhà tù đến; và ông làm trò tiêu khiển trước mặt chúng. Rồi chúng đặt ông đứng giữa các cột. <sup>26</sup> Bấy giờ ông Sam-sôn nói với cậu thiếu niên đang dắt tay ông: &#8220;Cậu dẫn tôi đi và cho tôi sờ vào các cột cái chống đỡ toà nhà, để tôi dựa lưng.&#8221; <sup>27</sup> Toà nhà lúc đó đầy chật đàn ông đàn bà. Tất cả các vương hầu Phi-li-tinh đều ở đó, và trên sân thượng có khoảng ba ngàn đàn ông đàn bà đang coi ông Sam-sôn làm trò tiêu khiển. <sup>28</sup> Ông Sam-sôn kêu cầu Ðức Chúa và thưa: &#8220;Lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng của con, xin nhớ đến con và ban sức cho con lần này nữa thôi, ôi lạy Thiên Chúa, để chỉ đánh một trận là con trả thù được quân Phi-li-tinh đã móc mắt con.&#8221; <sup>29</sup> Bấy giờ ông Sam-sôn rờ vào hai chiếc cột ở giữa, là những cột cái chống đỡ toà nhà, và ông tì vào các cột ấy, tay mặt bên này, tay trái bên kia. <sup>30</sup> Rồi ông Sam-sôn nói: &#8220;Ðành chết với bọn Phi-li-tinh vậy!&#8221; Ðoạn ông dùng sức đẩy mạnh, và toà nhà sụp đổ đè các vương hầu và tất cả dân chúng có mặt ở đó. Thành ra số người ông giết được khi ông chết lại đông hơn số người ông đã giết được khi còn sống. <sup>31</sup> Anh em ông và cả nhà cha ông xuống đưa ông về chôn cất giữa Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn trong phần mộ ông Ma-nô-ác, cha ông. Ông làm thủ lãnh Ít-ra-en được hai mươi năm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Phụ Lục</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Nhà Thờ Của Ông Mi-Kha Và Nhà Thờ Của Họ Ðan</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nhà thờ tư của ông Mi-kha</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Xưa có một người thuộc vùng núi Ép-ra-im, tên là Mi-kha-giơ-hu. <sup>2</sup> Ông thưa với bà mẹ: &#8220;Số bạc một ngàn một trăm thỏi mà người ta đã lấy mất của mẹ, khiến mẹ chửi rủa và mẹ cũng đã nói cho con nghe, thì này số bạc đó, con đang giữ đây; chính con đã lấy đó.&#8221; Mẹ ông liền nói: &#8220;Xin Ðức Chúa chúc lành cho con tôi!&#8221; <sup>3</sup> Ông trả lại mẹ ông số bạc một ngàn một trăm thỏi, nhưng mẹ ông nói: &#8220;Chính tay mẹ đã dâng hiến trọn số bạc này cho Ðức Chúa, để con của mẹ dùng làm một tượng, một hình đúc bằng kim khí. Vậy bây giờ mẹ đưa lại cho con.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Nhưng ông trả số bạc lại cho mẹ. Mẹ ông giữ lấy hai trăm thỏi, rồi trao cho thợ đúc, người này làm một tượng, một hình đúc, đặt tại nhà ông Mi-kha-giơ-hu. <sup>5</sup> Ông Mi-kha này có một nhà thờ; ông đã làm một ê-phốt và các te-ra-phim, rồi phong cho một người trong các con làm tư tế cho ông. <sup>6</sup> Thời đó Ít-ra-en không có vua, ai muốn làm gì thì làm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Có một thanh niên, người Bê-lem Giu-đa, thuộc chi tộc Giu-đa. Anh là một thầy Lê-vi ở đó như khách trú. <sup>8</sup> Người ấy đi khỏi thành Bê-lem Giu-đa để tìm chỗ cư trú. Trên đường đi, anh vào vùng núi Ép-ra-im đến nhà ông Mi-kha. <sup>9</sup> Ông Mi-kha nói với anh: &#8220;Anh từ đâu tới?&#8221; Anh nói với ông: &#8220;Tôi là một người Lê-vi thuộc Bê-lem Giu-đa; tôi đi tìm chỗ cư trú.&#8221; <sup>10</sup> Ông Mi-kha nói với anh: &#8220;Xin ở lại đây với tôi, để làm sư phụ và tư tế cho tôi. Phần tôi, mỗi năm tôi sẽ cung cấp cho anh mười thỏi bạc, áo mặc và lương thực cần dùng.&#8221; <sup>11</sup> Thầy Lê-vi đồng ý ở lại với ông; người trẻ tuổi ấy được ông coi như một trong các con ông. <sup>12</sup> Ông Mi-kha phong cho thầy Lê-vi làm tư tế; người trẻ tuổi ấy trở thành tư tế của ông và ở trong nhà ông Mi-kha. <sup>13</sup> Ông Mi-kha nói: &#8220;Bây giờ tôi biết Ðức Chúa sẽ phù hộ tôi vì tôi đã có một thầy Lê-vi làm tư tế.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những người thuộc chi tộc Ðan đi kiếm đất</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thời ấy Ít-ra-en không có vua. Cũng thời ấy chi tộc Ðan đang tìm đất làm gia nghiệp để định cư, vì cho tới ngày đó họ không được lãnh phần gia nghiệp riêng giữa các chi tộc Ít-ra-en. <sup>2</sup> Vậy con cái Ðan sai năm người dũng cảm trong thị tộc của họ, ra khỏi ranh giới Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn, rảo quanh khắp xứ để do thám. Họ nói với những người này: &#8220;Các anh hãy đi do thám đất đai.&#8221; Năm người đi vào vùng núi Ép-ra-im. Ðến gần nhà ông Mi-kha và qua đêm tại đây. <sup>3</sup> Vì họ ở cạnh nhà ông Mi-kha, nên đã nhận ra tiếng của chàng thanh niên Lê-vi; họ đã rẽ qua đó và nói với anh: &#8220;Ai đã bảo anh tới đây? Anh làm gì ở đây? Chuyện gì đã xảy ra cho anh tại đây?&#8221; <sup>4</sup> Anh trả lời họ: &#8220;Ông Mi-kha đã làm cho tôi thế này thế này: ông đã thuê tôi và tôi đã trở thành tư tế của ông.&#8221; <sup>5</sup> Họ nói với anh: &#8220;Xin anh thỉnh vấn Thiên Chúa cho chúng tôi biết công cuộc chúng tôi đang theo đuổi có thành tựu hay không.&#8221; <sup>6</sup> Thầy tư tế bảo họ: &#8220;Các anh cứ đi bình an; Ðức Chúa để mắt nhìn xem công cuộc các anh đang theo đuổi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Năm người ấy ra đi. Họ vào La-gít và thấy dân chúng ở đây an cư lạc nghiệp theo kiểu người Xi-đôn, yên lành và an tâm, không thiếu hụt gì trong xứ. Dân chúng thừa hưởng của cải, lại ở xa người Xi-đôn, và không có chuyện gì với ai cả. <sup>8</sup> Năm người ấy trở về với anh em ở Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn. Anh em họ hỏi: &#8220;Thế nào?&#8221; <sup>9</sup> Họ đáp: &#8220;Ðứng lên! Chúng ta hãy lên đánh chúng! Vì chúng tôi đã thấy xứ đó: Thật là tuyệt vời! Thế mà các anh cứ điềm nhiên! Ðừng chần chừ nữa: đi đi, vào chiếm lấy xứ ấy! <sup>10</sup> Tới nơi các anh sẽ gặp một dân yên lành, một xứ mênh mông bốn bề bát ngát. Chắc chắn là Thiên Chúa đã trao đất ấy vào tay các anh: Ðó là một nơi không thiếu hụt gì trên mặt đất.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc di dân của họ Ðan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Vậy một số người thuộc chi tộc Ðan, là sáu trăm người được võ trang để chiến đấu, đã rời khỏi nơi ấy, từ Xo-rơ-a và từ Ét-ta-ôn. <sup>12</sup> Họ tiến lên đóng trại tại Kia-giát Giơ-a-rim miền Giu-đa. Bởi thế người ta gọi nơi ấy là Trại Ðan cho tới ngày nay. Nơi ấy ở phía tây Kia-giát Giơ-a-rim. <sup>13</sup> Từ đấy họ qua vùng núi Ép-ra-im và đến tận nhà ông Mi-kha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Năm người đã đi thăm dò đất La-gít lên tiếng nói với anh em họ: &#8220;Các anh biết không? Trong các ngôi nhà đó có một ê-phốt, mấy te-ra-phim, một tượng, một hình đúc bằng kim khí. Vậy bây giờ các anh nghĩ xem phải làm gì.&#8221; <sup>15</sup> Họ rẽ qua hướng đó, vào nhà thầy Lê-vi trẻ tuổi, trong nhà ông Mi-kha, và chào hỏi thầy, <sup>16</sup> đang khi sáu trăm người trong số con cái họ Ðan, được võ trang để chiến đấu, chực sẵn ở ngưỡng cửa. <sup>17</sup> Năm người đã đi thăm dò đất và đã vào đấy, liền lấy tượng, ê-phốt, te-ra-phim và hình đúc bằng kim khí đang khi thầy tư tế chực sẵn ở ngưỡng cửa cùng với sáu trăm người được võ trang để chiến đấu. <sup>18</sup> Vậy những người ấy đã vào nhà ông Mi-kha lấy tượng, ê-phốt, te-ra-phim và hình đúc bằng kim khí. Nhưng thầy tư tế nói với họ: &#8220;Các anh làm gì thế?&#8221; <sup>19</sup> Họ bảo thầy: &#8220;Im! Lấy tay bịt miệng lại và đi theo chúng tôi, thầy sẽ là sư phụ và tư tế của chúng tôi. Thầy làm tư tế cho gia đình của một người hơn là cho cả một chi tộc và một thị tộc trong Ít-ra-en sao?&#8221; <sup>20</sup> Thầy Tư tế, lòng đầy phấn khởi, liền cầm lấy ê-phốt, te-ra-phim và hình đúc bằng kim khí, rồi nhập đoàn với họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Họ lui gót ra đi. Họ để đàn bà, con trẻ, súc vật và hành lý đi trước. <sup>22</sup> Khi những người ấy đã đi xa nhà ông Mi-kha, thì hàng xóm láng giềng của ông Mi-kha tri hô lên, và rượt theo con cái Ðan. <sup>23</sup> Họ gọi theo con cái Ðan; những người này quay lại, nói với ông Mi-kha: &#8220;Chuyện gì mà ông la ó thế?&#8221; <sup>24</sup> Ông trả lời: &#8220;Các ngươi đánh cắp tượng thần ta đã làm, lại còn rước cả tư tế đi, thì ta còn gì nữa? Vậy mà còn hỏi &#8220;Chuyện gì thế&#8221;, thế là thế nào?&#8221; <sup>25</sup> Con cái Ðan đáp: &#8220;Ðừng bắt chúng tôi phải nghe ông nói nữa, kẻo những kẻ bực bội sẽ tấn công các người, và ông cùng gia đình ông sẽ mất mạng.&#8221; <sup>26</sup> Rồi con cái Ðan tiếp tục đi. Còn ông Mi-kha, thấy họ mạnh hơn mình, thì quay gót trở về nhà.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm La-gít. Thiết lập họ Ðan và nhà thờ.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Các người ấy lấy tượng ông Mi-kha đã làm, và đem theo thầy tư tế đã ở với ông; rồi họ đánh La-gít, chống một dân yên lành và an tâm. Họ dùng lưỡi kiếm chém giết dân ấy và nổi lửa đốt thành. <sup>28</sup> Không có ai tiếp cứu, vì thành ấy ở xa Xi-đôn và không có liên hệ gì với ai cả. Thành ấy nằm trong thung lũng gần Bết Rơ-khốp. Họ xây lại thành và định cư ở đấy. <sup>29</sup> Họ đặt tên thành là Ðan, theo tên ông tổ của họ là Ðan, con của ông Ít-ra-en. Thực ra trước kia tên thành là La-gít. <sup>30</sup> Con cái Ðan dựng tượng ấy lên mà thờ. Ông Giơ-hô-na-than, con ông Ghéc-sôm, cháu ông Mơ-na-se, ông và con cái ông làm tư tế cho họ Ðan mãi tới ngày dân trong nước bị lưu đày. <sup>31</sup> Vậy tượng ông Mi-kha đã làm, thì họ dựng lên mà thờ, trong suốt thời gian có nhà Thiên Chúa ở Si-lô.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Tội Ác Của Dân Ghíp-A.</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Chiến Tranh Chống Ben-Gia-Min.</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Lê-vi vùng Ép-ra-im và cô tỳ thiếp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thời ấy -thời Ít-ra-en chưa có vua- có một người Lê-vi cư trú trong thung lũng vùng núi Ép-ra-im. Người ấy lấy một phụ nữ Bê-lem Giu-đa làm tỳ thiếp. <sup>2</sup> Người tỳ thiếp giận chồng, bỏ về nhà cha mình tại Bê-lem Giu-đa. Nàng lưu lại đây một thời gian là bốn tháng. <sup>3</sup> Chồng nàng lên đường đi tìm nàng để năn nỉ, mong đưa nàng về với mình. Cùng đi với chàng, có một người đầy tớ và hai con lừa. Nàng dẫn chàng vào nhà cha mình. Khi thấy chàng, người cha của thiếu phụ vui mừng ra đón chàng. <sup>4</sup> Ông bố vợ, cha của thiếu phụ, giữ chàng lại, nên chàng ở với ông ba ngày. Họ ăn uống và qua đêm tại đó. <sup>5</sup> Ngày thứ tư, chàng dậy sớm và chuẩn bị lên đường, thì cha của thiếu phụ nói với con rể: &#8220;Anh dùng chút bánh lót dạ đã, rồi hãy đi.&#8221; <sup>6</sup> Họ ngồi xuống và cả hai cùng ăn uống với nhau. Ðoạn cha của thiếu phụ lại nói với anh ta: &#8220;Mời anh ở lại qua đêm cho thoải mái.&#8221; <sup>7</sup> Khi người ấy đứng lên đi, thì ông bố vợ nài ép, nên chàng ở lại qua đêm nữa. <sup>8</sup> Ngày thứ năm chàng dậy sớm để lên đường, nhưng cha của thiếu phụ nói: &#8220;Mời anh ăn lót dạ đã.&#8221; Thế là họ lại kéo dài tới xế chiều và cả hai cùng ăn với nhau. <sup>9</sup> Khi người ấy đứng lên đi cùng với người tỳ thiếp và tên đầy tớ, thì bố vợ, cha của thiếu phụ, nói với chàng: &#8220;Này trời đã về chiều, hãy qua đêm đã! Ðây ngày sắp tàn, hãy qua đêm tại đây cho thoải mái. Ngày mai các người sẽ dậy sớm lên đường và anh sẽ về lều của anh.&#8221; <sup>10</sup> Nhưng người ấy không muốn ở lại qua đêm; chàng đứng lên và đi cho tới khi nhìn thấy Giơ-vút tức là Giê-ru-sa-lem. Cùng đi với chàng có hai con lừa đã thắng yên, người tỳ thiếp và tên đầy tớ của chàng.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tội ác của dân Ghíp-a</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Khi họ đến gần Giơ-vút, thì lúc ấy, giờ đã quá muộn. Người đầy tớ nói với chủ: &#8220;Thưa ngài, chúng ta nên rẽ vào thành của người Giơ-vu-xi mà qua đêm tại đó.&#8221; <sup>12</sup> Người chủ trả lời: &#8220;Chúng ta sẽ không rẽ vào một thành nào của người xa lạ, vì những người đó không phải là con cái Ít-ra-en; chúng ta cứ đi cho tới Ghíp-a.&#8221; <sup>13</sup> Chàng còn nói với tên đầy tớ: &#8220;Ði! Chúng ta hãy tới một trong các nơi kia; chúng ta sẽ nghỉ đêm tại Ghíp-a hoặc Ra-ma.&#8221; <sup>14</sup> Vậy họ tiếp tục đi; khi họ tới sát Ghíp-a thuộc Ben-gia-min thì mặt trời lặn. <sup>15</sup> Họ liền ghé vào Ghíp-a để qua đêm. Chàng vào ngồi ở công trường thành phố, nhưng không ai mời họ về nhà nghỉ đêm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Chiều đến bỗng có một cụ già đi làm ruộng về. Cụ là người vùng núi Ép-ra-im, nhưng cư trú ở Ghíp-a; còn người địa phương thì là con cái Ben-gia-min. <sup>17</sup> Cụ già ngước mắt lên và thấy người lữ khách ở công trường thành phố, liền nói với người ấy: &#8220;Anh đi đâu, và từ đâu tới?&#8221; <sup>18</sup> Chàng trả lời: &#8220;Chúng tôi từ Bê-lem Giu-đa đi về thung lũng vùng núi Ép-ra-im, quê tôi ở đấy. Tôi đã đến Bê-lem Giu-đa và bây giờ đang trên đường trở về nhà. Thế nhưng chẳng người nào đón tiếp tôi cả. <sup>19</sup> Cỏ rơm cho lừa ăn, tôi có sẵn, cả bánh và rượu để tôi, nữ tỳ của ông và thằng bé đi theo tôi tớ của ông dùng, cũng đều có, không thiếu thứ gì.&#8221; <sup>20</sup> Cụ già nói: &#8220;Chúc anh bình an! Anh cần gì, cứ để tôi lo; chỉ xin anh đừng nghỉ đêm ở công trường.&#8221; <sup>21</sup> Vậy cụ đưa chàng vào nhà mình và vất rơm cho lừa ăn. Họ rửa chân rồi ăn uống.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ðang lúc họ ăn uống vui vẻ như vậy, thì này có những người dân trong thành, những kẻ vô lại, bao vây nhà ấy, vừa đập cửa dồn dập, vừa nói với cụ già là gia chủ: &#8220;Hãy đưa người đàn ông đã vào nhà ông ra đây cho chúng tôi chơi!&#8221; <sup>23</sup> Cụ chủ nhà ra gặp chúng và nói: &#8220;Này anh em, tôi van anh em đừng làm chuyện ác đức! Một khi người đàn ông này đã vào nhà tôi rồi, thì xin các anh đừng làm điều bỉ ổi. <sup>24</sup> Này tôi có đứa con gái còn trinh, và người tỳ thiếp của anh ta nữa. Tôi đưa họ ra cho các anh cưỡng hiếp và xử với họ thế nào tuỳ ý. Còn đối với người này thì đừng làm điều bỉ ổi ấy.&#8221; <sup>25</sup> Nhưng đám người đó không thèm nghe. Bấy giờ người kia dẫn tỳ thiếp của mình ra ngoài cho chúng chơi. Chúng cưỡng hiếp nàng suốt đêm cho tới sáng, và lúc rạng đông mới buông tha.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Gần sáng, khi người đàn bà trở về, thì nàng té xỉu ngay lối vào nhà cụ già, nơi chồng nàng đang trọ. Nàng nằm đấy cho tới sáng hẳn. <sup>27</sup> Sáng ngày ra chồng nàng dậy, mở cửa và chuẩn bị lên đường, thì này người đàn bà, tỳ thiếp của chàng nằm bên cửa nhà, hai tay vắt trên ngưỡng cửa. <sup>28</sup> Chàng gọi nàng: &#8220;Dậy đi! Chúng ta lên đường&#8221;, nhưng không một tiếng trả lời. Bấy giờ chàng xốc nàng lên lừa, rồi khởi hành về nhà. <sup>29</sup> Về tới nhà, chàng lấy dao đem chặt người tỳ thiếp ra từng mảnh, thành mười hai phần, rồi gởi đi khắp lãnh thổ Ít-ra-en. <sup>30</sup> Mọi người, ai thấy cũng đều nói: &#8220;Chưa xảy ra và chưa hề thấy như thế bao giờ, kể từ ngày con cái Ít-ra-en từ đất Ai-cập đi lên cho tới nay. Hãy suy nghĩ xem, hãy bàn luận và lên tiếng!&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Ít-ra-en trả thù tội ác Ghíp-a</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Tất cả cộng đồng con cái Ít-ra-en, từ Ðan tới Bơ-e Se-va và đất Ga-la-át, họp lại, muôn người như một, bên cạnh Ðức Chúa ở Mít-pa. <sup>2</sup> Các người đứng đầu toàn dân và các chi tộc Ít-ra-en, đều tham dự công hội của Dân Thiên Chúa, tất cả là 400.000 bộ binh biết tuốt gươm. <sup>3</sup> Con cái Ben-gia-min nghe tin rằng con cái Ít-ra-en đã lên Mít-pa. Con cái Ít-ra-en nói: &#8220;Hãy kể đi! Tội ác đó đã xảy ra thế nào?&#8221; <sup>4</sup> Bấy giờ người Lê-vi, chồng của người đàn bà đã bị giết, lên tiếng nói: &#8220;Tôi cùng với người tỳ thiếp đến Ghíp-a thuộc Ben-gia-min để nghỉ đêm. <sup>5</sup> Các thân hào Ghíp-a đã xông đến phá tôi, và suốt đêm bao vây nhà tôi ở, để hại tôi, vì họ định giết tôi. Còn người tỳ thiếp của tôi thì họ cưỡng hiếp cho đến chết. <sup>6</sup> Vậy tôi đã đem chặt người tỳ thiếp của tôi ra từng phần, rồi gởi đi khắp lãnh thổ thuộc gia nghiệp Ít-ra-en, bởi vì những người ấy đã làm một điều sỉ nhục và bỉ ổi trong Ít-ra-en. <sup>7</sup> Này đây, tất cả quý vị là con cái Ít-ra-en, hãy trao đổi ý kiến và quyết định tại đây.&#8221; <sup>8</sup> Toàn dân, muôn người như một, đứng lên nói: &#8220;Không ai được về lều, không ai được trở lại nhà! <sup>9</sup> Bây giờ, chúng ta sẽ làm thế này đối với Ghíp-a, là rút thăm xem ai sẽ lên tấn công nó! <sup>10</sup> Trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en, cứ 100 người thì lấy 10, 1.000 thì lấy 100, 10.000 thì lấy 1.000, để tải lương cho dân quân, là những người khi đến nơi sẽ xử với Ghíp-a thuộc Ben-gia-min, tương xứng với điều bỉ ổi nó đã làm tại Ít-ra-en.&#8221; <sup>11</sup> Như thế tất cả mọi người Ít-ra-en đã họp nhau muôn người như một, để chống lại thành ấy.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Ben-gia-min ngoan cố</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Các chi tộc Ít-ra-en sai người đi nói với toàn thể chi tộc Ben-gia-min: &#8220;Tội ác như vậy đã xảy ra nơi các người là thế nào? <sup>13</sup> Bây giờ hãy nộp những con người đó, những kẻ vô lại ở Ghíp-a, để chúng tôi xử tử chúng và khử trừ tội ác khỏi Ít-ra-en.&#8221; Nhưng con cái Ben-gia-min không muốn nghe lời con cái Ít-ra-en là anh em mình.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giao tranh đầu tiên</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Bấy giờ con cái Ben-gia-min từ các thành tập họp lại ở Ghíp-a để đi giao chiến với con cái Ít-ra-en. <sup>15</sup> Ngày hôm ấy, con cái Ben-gia-min từ các thành được kiểm tra là 26.000 người biết tuốt gươm, không kể dân cư ở Ghíp-a. <sup>16</sup> Trong tất cả đám dân đó có 700 tinh binh thuận tay trái; những người này đều có thể dùng ná bắn một hòn đá trúng một sợi tóc mà không sai trệch. <sup>17</sup> Con cái Ít-ra-en cũng được kiểm tra, tổng số là 400.000 người biết tuốt gươm, không kể Ben-gia-min; tất cả đều là chiến binh. <sup>18</sup> Họ chỗi dậy tiến lên Bết Ên để thỉnh vấn Thiên Chúa. Con cái Ít-ra-en hỏi: &#8220;Ai trong chúng con sẽ lên trước để giao chiến với con cái Ben-gia-min?&#8221; Ðức Chúa phán: &#8220;Giu-đa lên trước.&#8221; <sup>19</sup> Sáng sớm con cái Ít-ra-en tiến lên đóng trại tấn công Ghíp-a. <sup>20</sup> Người Ít-ra-en ra đi giao chiến với Ben-gia-min, và người Ít-ra-en dàn trận chống Ghíp-a. <sup>21</sup> Con cái Ben-gia-min từ Ghíp-a xông ra, và hôm ấy họ giết được 22 000 người Ít-ra-en nằm ngổn ngang trên mặt đất. <sup>22</sup> Nhưng đạo quân Ít-ra-en phục hồi được khí thế và lại dàn trận để chiến đấu tại chính nơi đã dàn trận hôm trước. <sup>23</sup> Sở dĩ như thế là vì con cái Ít-ra-en đã lên kêu khóc trước nhan Ðức Chúa cho đến chiều và thỉnh vấn Ðức Chúa rằng: &#8220;Con còn phải giao tranh chống con cái Ben-gia-min, anh em con nữa không?&#8221; Ðức Chúa trả lời: &#8220;Tiến lên đánh nó đi!&#8221; <sup>24</sup> Ngày thứ hai con cái Ít-ra-en tới gần con cái Ben-gia-min. <sup>25</sup> Nhưng ngày thứ hai này Ben-gia-min từ Ghíp-a cũng xông ra ứng chiến, và trong số con cái Ít-ra-en họ còn giết được 18.000 người nằm ngổn ngang trên mặt đất, toàn là những người biết tuốt gươm. <sup>26</sup> Bấy giờ tất cả con cái Ít-ra-en và toàn dân đã lên Bết Ên; họ ngồi khóc tại đây trước nhan Ðức Chúa. Hôm ấy họ ăn chay cho đến chiều. Rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an lên trước nhan Ðức Chúa. <sup>27</sup> Con cái Ít-ra-en đã thỉnh vấn Ðức Chúa &#8211; thời bấy giờ ở đấy có Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa, <sup>28</sup> và có ông Pin-khát con ông E-la-da, cháu ông A-ha-ron, túc trực trước Hòm Bia &#8211; họ hỏi rằng: &#8220;Con còn phải lâm trận chống con cái Ben-gia-min, anh em con nữa hay là thôi?&#8221; Ðức Chúa trả lời: &#8220;Các ngươi cứ lên, vì sáng mai Ta sẽ trao chúng vào tay (các) ngươi.&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ben-gia-min bại trận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Bấy giờ Ít-ra-en đặt quân phục kích bao vây Ghíp-a. <sup>30</sup> Ngày thứ ba, con cái Ít-ra-en tiến lên đánh con cái Ben-gia-min, và dàn trận tấn công Ghíp-a như nhữmg lần trước. <sup>31</sup> Con cái Ben-gia-min xông ra ứng chiến với đạo quân ấy và bị nhử ra xa thành. Như những lần trước, chúng bắt đầu giết một số người Ít-ra-en, chừng ba mươi mạng trong đám dân quân ấy, trên những con đường, ngả thì lên Bết Ên, ngả thì đi đến Ghíp-a, giữa đồng trống. <sup>32</sup> Con cái Ben-gia-min bảo nhau: &#8220;Bọn chúng lại bị ta đánh cho tháo chạy như lần trước&#8221;; nhưng con cái Ít-ra-en lại tự nhủ: &#8220;Trốn chạy đi! Ta sẽ nhử chúng ra xa thành, tới các con đường ấy.&#8221; <sup>33</sup> Mọi người Ít-ra-en từ vị trí của mình vùng lên và dàn trận tại Ba-an Ta-ma, đồng thời những người Ít-ra-en mai phục cũng từ vị trí của mình vùng lên ở phía tây Ghe-va. <sup>34</sup> Vậy 10.000 tinh binh được chọn từ khắp Ít-ra-en tiến đến ngay trước Ghíp-a. Giao tranh dữ dội xảy ra, mà người Ben-gia-min không hay biết tai hoạ đang ập xuống trên mình. <sup>35</sup> Ðức Chúa đánh cho Ben-gia-min tháo chạy trước Ít-ra-en, và hôm đó con cái Ít-ra-en đã giết được 25.100 người Ben-gia-min, toàn là những người biết tuốt gươm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Con cái Ben-gia-min thấy mình bị đánh bại, nhưng người Ít-ra-en nhường đất lại cho người Ben-gia-min, vì họ tin tưởng ở quân mai phục họ đã đặt bao vây Ghíp-a. <sup>37</sup> Quân mai phục tấn công chớp nhoáng Ghíp-a; họ xông ra và dùng gươm tàn sát cả thành. <sup>38</sup> Giữa người Ít-ra-en và quân mai phục đã có lời hẹn rằng quân mai phục sẽ đốt lửa cho khói bốc lên khỏi thành làm hiệu. <sup>39</sup> Người Ít-ra-en sẽ rút khỏi trận địa, khi người Ben-gia-min bắt đầu giết một số chừng ba mươi người Ít-ra-en, vì chúng nói: &#8220;Chắc chắn là nó hoàn toàn bị ta đánh bại như lần trước.&#8221; <sup>40</sup> Rồi một cột khói làm hiệu bắt đầu bốc lên khỏi thành. Người Ben-gia-min liền quay trở lại, thì này toàn thành như lửa bốc cháy ngút trời. <sup>41</sup> Bấy giờ người Ít-ra-en quay lại phản công, khiến người Ben-gia-min khiếp vía, vì thấy tai hoạ đang ập xuống trên mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Chúng quay đầu chạy về phía sa mạc để trốn người Ít-ra-en, nhưng trận chiến cũng lan tới chúng, và chúng bị những người từ các thành xông ra tiêu diệt giữa đường. <sup>43</sup> Họ vây chặt người Ben-gia-min, rượt bắt không ngừng và đè bẹp chúng cho đến khi trông thấy Ghíp-a, về hướng mặt trời mọc. <sup>44</sup> Phía Ben-gia-min có 18.000 người ngã gục, tất cả đều là dũng sĩ. <sup>45</sup> Còn những kẻ quay đầu chạy trốn vào sa mạc, về phía Tảng đá Rim-môn, thì người ta giết tỉa được 5.000 trên các nẻo đường; họ bám sát chúng cho tới Ghít-ôm và giết thêm được 2.000 nữa. <sup>46</sup> Những người Ben-gia-min đã ngã gục hôm ấy tính tất cả là 25.000 biết tuốt gươm, toàn là dũng sĩ. <sup>47</sup> Những kẻ quay đầu chạy trốn vào sa mạc tới được Tảng đá Rim-môn là 600 người; chúng ở tảng đá Rim-môn bốn tháng. <sup>48</sup> Người Ít-ra-en trở lại đánh con cái Ben-gia-min; họ dùng gươm tàn sát từ đàn ông trong thành cho đến súc vật và tất cả những gì họ gặp. Tới thành nào, họ cũng đều phóng hoả.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p align="center">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Ít-ra-en hối hận</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Người Ít-ra-en đã thề tại Mít-pa rằng: &#8220;Không ai trong chúng ta sẽ gả con gái mình cho người Ben-gia-min.&#8221; <sup>2</sup> Dân chúng đến Bết Ên và ở lại đó trước nhan Thiên Chúa cho đến chiều; họ cất tiếng khóc nức nở. <sup>3</sup> Họ nói: &#8220;Lạy Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, tại sao lại xảy ra chuyện này, là ngày nay Ít-ra-en mất đi một chi tộc?&#8221; <sup>4</sup> Sáng hôm sau, dân dậy sớm và lập bàn thờ ở đó, rồi dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an. <sup>5</sup> Con cái Ít-ra-en nói: &#8220;Trong tất cả các chi tộc Ít-ra-en, ai là người đã không lên dự công hội chầu Ðức Chúa?&#8221; vì ai đã không lên chầu Ðức Chúa ở Mít-pa, thì đã có lời thề long trọng chống lại kẻ ấy rằng: &#8220;Chắc chắn nó phải chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Thấy tội nghiệp cho Ben-gia-min anh em mình, con cái Ít-ra-en nói: &#8220;Hôm nay một chi tộc đã bị cắt đứt khỏi Ít-ra-en. <sup>7</sup> Chúng ta sẽ làm gì để tìm vợ cho những kẻ còn sống sót, vì chúng ta đã thề nhân danh Ðức Chúa là không gả con gái mình cho chúng?&#8221;</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các trinh nữ Gia-vết được trao cho người Ben-gia-min</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Họ lại hỏi: &#8220;Trong các chi tộc Ít-ra-en có ai đã không lên chầu Ðức Chúa ở Mít-pa?&#8221; Thì ra chẳng có ai thuộc Gia-vết thuộc Ga-la-át đã lên trại, dự công hội. <sup>9</sup> Quả thật khi người ta kiểm tra dân chúng, thì ở đấy không có ai là người thuộc dân cư Gia-vết thuộc Ga-la-át cả. <sup>10</sup> Bấy giờ cộng đồng ở đó sai 12.000 người trong số các dũng sĩ và truyền cho họ rằng: &#8220;Các anh hãy dùng gươm đi giết dân cư Gia-vết thuộc Ga-la-át, kể cả đàn bà con nít. <sup>11</sup> Ðây là điều các anh sẽ làm: tất cả đàn ông đàn bà đã biết chuyện vợ chồng, các anh sẽ tru hiến hết.&#8221; <sup>12</sup> Trong số dân cư Gia-vết thuộc Ga-la-át, họ tìm được bốn trăm thiếu nữ còn trinh, nghĩa là chưa ăn nằm với đàn ông, và đã đem các cô về trại Si-lô trong đất Ca-na-an. <sup>13</sup> Toàn thể cộng đồng sai người đi nói chuyện với con cái Ben-gia-min ở Tảng đá Rim-môn và đề nghị hoà hoãn với họ. <sup>14</sup> Bấy giờ người Ben-gia-min trở về và người ta trao cho họ những phụ nữ còn sống sót trong số các phụ nữ Gia-vết thuộc Ga-la-át, nhưng không tìm được đủ số cho họ.</span></p>
<p align="justify">
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bắt cóc các cô gái Si-lô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Dân chúng thấy tội nghiệp cho Ben-gia-min, vì Ðức Chúa đã làm cho các chi tộc Ít-ra-en bị một vết nứt rạn. <sup>16</sup> Bấy giờ các kỳ mục của cộng đồng nói: &#8220;Chúng ta sẽ làm gì để tìm vợ cho những kẻ còn sống sót, vì các phụ nữ Ben-gia-min đã bị tiêu diệt?&#8221; <sup>17</sup> Họ nói: &#8220;Ben-gia-min sẽ chiếm phần còn sót lại, để một chi tộc không bị xoá khỏi Ít-ra-en, <sup>18</sup> Thế mà chúng ta lại không thể gả con gái mình cho chúng được!&#8221; Sở dĩ như vậy vì con cái Ít-ra-en đã thề rằng: &#8220;Vô phúc cho ai gả con gái cho Ben-gia-min!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Nhưng họ lại nói: &#8220;Này hàng năm có lễ kính Ðức Chúa tại Si-lô, mạn bắc Bết Ên, phía đông con đường từ Bết Ên lên Si-khem và phía nam Lơ-vô-na. <sup>20</sup> Vậy họ truyền cho con cái Ben-gia-min: &#8220;Các anh vào các vườn nho mà ẩn nấp. <sup>21</sup> Khi thấy các cô gái Si-lô đi ra múa hát với nhau, thì các anh cũng đi ra khỏi vườn nho, mỗi người bắt một cô trong đám con gái Si-lô ấy, đem về làm vợ, rồi đi về đất Ben-gia-min. <sup>22</sup> Nếu cha các cô hoặc anh các cô có tới kỳ kèo với chúng tôi, thì chúng tôi sẽ nói với họ: &#8220;Xin thông cảm với chúng tôi mà hiểu cho họ, vì mỗi người chúng tôi đã không bắt một cô đem về làm vợ trong lúc đánh nhau, mà các anh cũng chẳng gả các cô ấy cho họ; nếu gả, thì các anh đã mắc lỗi rồi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Con cái Ben-gia-min đã làm như thế. Họ đã lấy vợ trong đám các cô múa hát bị bắt cóc, tương đương với số người của họ, và trở về phần gia nghiệp của mình. Họ xây thành và cư ngụ ở đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Còn con cái Ít-ra-en lúc bấy giờ cũng rời khỏi đó, ai nấy về chi tộc và thị tộc của mình: mỗi người rời khỏi đó mà về phần gia nghiệp của mình.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Thời đó Ít-ra-en không có vua. Ai muốn làm gì thì làm.</span></p>
<p align="justify">
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/446/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=446&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-th%e1%ba%a9m-phan-th%e1%bb%a7-lanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Yôsua (Gio-suê)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-yosua-gio-sue/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-yosua-gio-sue/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Jan 2012 15:43:55 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[II.1. Sách Yôsua (Gio-suê)]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=438</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Chiếm Ðất Hứa 1. Chuẩn Bị Mời gọi qua Ðất Hứa 1 Sau khi tôi trung Ðức Chúa là ông Mô-sê qua đời, Ðức Chúa phán với con ông Nun là ông Giô-suê, phụ tá của ông Mô-sê: 2 &#8220;Mô-sê, tôi trung của Ta, đã chết. Vậy bây giờ, ngươi [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=438&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Chiếm Ðất Hứa</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Chuẩn Bị</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mời gọi qua Ðất Hứa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau khi tôi trung Ðức Chúa là ông Mô-sê qua đời, Ðức Chúa phán với con ông Nun là ông Giô-suê, phụ tá của ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Mô-sê, tôi trung của Ta, đã chết. Vậy bây giờ, ngươi hãy trỗi dậy! Và cùng với tất cả dân này, qua sông Gio-đan, mà vào đất Ta ban cho chúng, tức là con cái Ít-ra-en. <sup>3</sup> Mọi nơi bàn chân các ngươi dẫm lên thì Ta đã ban cho các ngươi rồi, như Ta đã phán với Mô-sê. <sup>4</sup> Từ sa mạc và dãy Li-băng kia cho đến Sông Cả, nghĩa là sông Êu-phơ-rát, -tất cả xứ người Khết-, và cho đến Biển Lớn, phía mặt trời lặn: đó sẽ là lãnh thổ của các ngươi. <sup>5</sup> Mọi ngày đời ngươi, không ai sẽ đứng vững được trước mặt ngươi. Ta sẽ ở với ngươi như Ta đã ở với Mô-sê; Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi.</span></p>
<p align="justify"> <span id="more-438"></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trung tín với Lề Luật: điều kiện để được Thiên Chúa phù trợ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> &#8220;Mạnh bạo lên, can đảm lên! Vì chính ngươi sẽ cho dân này chiếm đất ấy làm gia nghiệp, đất mà Ta đã thề với cha ông chúng là Ta sẽ ban cho chúng. <sup>7</sup> Tuy nhiên, ngươi phải mạnh bạo và rất can đảm, để lo thi hành tất cả Lề Luật, mà Mô-sê tôi trung của Ta đã truyền dạy ngươi. Ðừng đi trệch bên phải bên trái, ngoài Lề Luật, để được thành công ở bất cứ nơi nào ngươi đi tới. <sup>8</sup> Chớ gì sách Luật này đừng rời khỏi miệng ngươi; và ngươi sẽ suy gẫm sách Luật đó ngày đêm, để lo thi hành tất cả những gì viết trong đó; vì như thế ngươi sẽ được thịnh đạt trên đường đời, vì như thế ngươi sẽ thành công. <sup>9</sup> Mạnh bạo lên, can đảm lên! Ðó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Ðừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các chi tộc bên kia sông Gio-đan tiếp tay</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ông Giô-suê truyền lệnh sau đây cho các ký lục trong dân: <sup>11</sup> &#8220;Các anh hãy rảo khắp trại và truyền cho dân: Hãy chuẩn bị lương thực, vì còn ba ngày nữa anh em sẽ qua sông Gio-đan kia để vào chiếm đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, cho anh em chiếm hữu.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Rồi ông Giô-suê nói với những người trong chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se: <sup>13</sup> &#8220;Anh em hãy nhớ điều ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã truyền cho anh em: Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, cho anh em được an cư lạc nghiệp khi ban cho anh em đất này. <sup>14</sup> Ðàn bà, con trẻ và các đàn vật của anh em sẽ ở lại trong phần đất ông Mô-sê đã ban cho anh em bên kia sông Gio-đan; còn anh em, tất cả các dũng sĩ, hãy võ trang đầy đủ mà qua trước anh em mình và trợ lực cho họ, <sup>15</sup> cho đến khi Ðức Chúa ban cho anh em cũng như anh em của anh em được an cư lạc nghiệp, cho đến khi chính họ cũng chiếm hữu phần đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ban cho họ. Bấy giờ anh em sẽ trở về phần đất mà anh em đã chiếm hữu. Anh em sẽ chiếm hữu phần đất mà ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã ban cho anh em bên kia sông Gio-đan, phía mặt trời mọc.&#8221; <sup>16</sup> Họ trả lời ông Giô-suê: &#8220;Mọi điều ngài truyền chúng tôi làm, chúng tôi sẽ làm; mọi nơi ngài sai chúng tôi đi, chúng tôi sẽ đi. <sup>17</sup> Chúng tôi đã nghe lời ông Mô-sê thế nào, thì chúng tôi cũng sẽ nghe lời ngài như vậy. Chỉ cầu mong Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngài, ở với ngài, như đã ở với ông Mô-sê! <sup>18</sup> Kẻ nào chống lại mệnh lệnh của ngài, không nghe bất cứ lời nào ngài truyền dạy, thì sẽ phải bị xử tử. Chỉ có điều là ngài phải mạnh bạo và can đảm!&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê sai người đi do thám Giê-ri-khô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Từ Sít-tim, ông Giô-suê, con ông Nun, bí mật sai hai người do thám và nói: &#8220;Hãy đi xem vùng đất và thành Giê-ri-khô.&#8221; Họ đã đi và vào một nhà một kỹ nữ tên là Ra-kháp; họ nằm lại đó. <sup>2</sup> Người ta nói với vua Giê-ri-khô: &#8220;Ðêm vừa rồi, có vài người trong số con cái Ít-ra-en đã vào đây để thăm dò vùng đất này.&#8221; <sup>3</sup> Vua Giê-ri-khô sai người đến nói với cô Ra-kháp: &#8220;Hãy dẫn ra đây những người đã đến với ngươi, đã vào nhà ngươi, vì họ đã đến thăm dò toàn vùng đất này.&#8221; <sup>4</sup> Nhưng người đàn bà đem hai người kia đi giấu, rồi nói: &#8220;Phải, những người ấy có đến với tôi, nhưng tôi không biết họ từ đâu đến. <sup>5</sup> Lúc chập tối, khi cửa thành sắp đóng, thì những người ấy đi ra. Tôi không biết họ đi đâu. Các ông hãy mau mau đuổi theo họ thì sẽ bắt kịp.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Rồi cô ta đem họ lên sân thượng và giấu họ dưới đống cây gai cô đã xếp ở đó. <sup>7</sup> Các người kia cứ đuổi theo họ trên con đường dẫn tới sông Gio-đan cho đến chỗ lội qua sông. Và người ta đóng cửa thành lại, sau khi những kẻ đuổi theo đã ra khỏi đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giao kèo giữa các người do thám và cô Ra-kháp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Họ chưa kịp nằm xuống, thì cô Ra-kháp lên gặp họ trên sân thượng. <sup>9</sup> Cô nói với họ: &#8220;Tôi biết Ðức Chúa đã ban cho các ông đất này, tôi biết vì các ông mà nỗi kinh hoàng ập xuống trên chúng tôi, và mọi dân cư trong xứ đều rụng rời hốt hoảng trước mặt các ông. <sup>10</sup> Vì chúng tôi nghe đồn là Ðức Chúa đã làm cạn Biển Sậy trước mặt các ông khi các ông ra khỏi Ai-cập; chúng tôi cũng nghe đồn về những gì các ông đã làm cho hai vua E-mô-ri là Xi-khôn và Ốc, mà các ông đã tru hiến ở bên kia sông Gio-đan. <sup>11</sup> Khi chúng tôi nghe đồn, thì tâm thần chúng tôi sợ hãi như muốn chảy tan ra, không ai còn nhuệ khí trước mặt các ông, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp. <sup>12</sup> Vậy bây giờ, xin các ông hãy nhân danh Ðức Chúa mà thề với tôi là: bởi tôi đã lấy tình mà đối xử với các ông, thì các ông, các ông cũng sẽ lấy tình mà đối xử với gia đình tôi. Các ông sẽ cho tôi một dấu chắc chắn, <sup>13</sup> đó là các ông sẽ để cho cha mẹ tôi, các anh chị em tôi và mọi người thân thuộc của họ được sống, các ông sẽ cứu chúng tôi khỏi chết.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Những người ấy nói với cô Ra-kháp: &#8220;Chúng tôi xin thề lấy mạng đền mạng, trừ phi các người tiết lộ chuyện này! Vậy khi nào Ðức Chúa ban đất này cho chúng tôi, chúng tôi sẽ lấy chữ tình chữ tín mà đối xử với cô.&#8221; <sup>15</sup> Bấy giờ, từ cửa sổ cô thòng dây cho họ xuống, vì nhà cô sát vách tường thành và cô ở ngay trong tường thành. <sup>16</sup> Cô nói với họ: &#8220;Các ông hãy đi về phía núi, kẻo những người đuổi theo bắt được các ông. Các ông cứ ẩn núp ở đấy ba ngày cho đến khi chúng trở về. Sau đó, các ông cứ đường mình mà đi.&#8221; <sup>17</sup> Họ nói với cô: &#8220;Ðây là cách chúng tôi sẽ giữ lời mà cô đã yêu cầu chúng tôi thề: <sup>18</sup> Khi nào chúng tôi vào xứ này, cô sẽ buộc dây chỉ điều này ở cửa sổ, nơi cô đã thả chúng tôi xuống, rồi cô sẽ tập họp trong nhà, bên cạnh cô: cha mẹ, các anh chị em và cả nhà cha cô. <sup>19</sup> Bấy giờ, ai bước qua cửa nhà cô mà ra ngoài, thì máu người ấy sẽ đổ xuống đầu người ấy, chúng tôi vô can. Nhưng người nào ở trong nhà với cô, thì máu người ấy sẽ đổ xuống đầu chúng tôi, nếu có ai tra tay hại người ấy. <sup>20</sup> Cô mà tiết lộ chuyện của chúng tôi, chúng tôi sẽ khỏi phải giữ lời mà cô đã yêu cầu chúng tôi thề.&#8221; <sup>21</sup> Cô ấy nói: &#8220;Mong được như lời các ông đã nói! &#8221; Rồi cô để họ đi, và họ ra đi. Cô buộc dây chỉ điều ở cửa sổ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các người do thám trở về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Họ lên đường và tiến về phía núi. Họ ở lại đó ba ngày cho đến khi những kẻ đuổi theo trở về. Những người này đã đi lùng họ trên cả con đường ấy mà không tìm được. <sup>23</sup> Hai người kia trở về: họ xuống núi, qua sông Gio-đan, rồi tới gặp ông Giô-suê, con ông Nun, và thuật lại cho ông mọi việc đã xảy ra cho họ. <sup>24</sup> Họ nói với ông Giô-suê: &#8220;Ðức Chúa đã nộp tất cả miền đất ấy vào tay chúng ta, và mọi dân cư ở đó đều rụng rời hốt hoảng trước mặt chúng ta.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Qua Sông Gio-Ðan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuẩn bị qua sông</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-suê dậy sớm và họ nhổ trại rời Sít-tim. Ông và toàn thể con cái Ít-ra-en tới tận sông Gio-đan. Họ đã nghỉ đêm ở đó trước khi qua sông. <sup>2</sup> Sau ba ngày, các ký lục đi khắp trại <sup>3</sup> và truyền lệnh này cho dân: &#8220;Khi thấy Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, và thấy các tư tế thuộc dòng dõi Lê-vi khiêng Hòm Bia, anh em phải rời chỗ và đi theo sau Hòm Bia, <sup>4b</sup> để biết phải đi đường nào, vì anh em chưa đi qua đường ấy bao giờ. <sup>4a</sup> Tuy nhiên, phải giữ một khoảng cách ước chừng một ngàn thước ở giữa anh em và Hòm Bia: đừng lại gần.&#8221; <sup>5</sup> Ông Giô-suê nói với dân: &#8220;Anh em hãy nên thánh, vì ngày mai Ðức Chúa sẽ thực hiện những kỳ công giữa anh em.&#8221; <sup>6</sup> Ông Giô-suê nói với các tư tế: &#8220;Hãy khiêng Hòm Bia Giao Ước dẫn đầu dân mà qua sông.&#8221; Họ khiêng Hòm Bia Giao Ước và đi trước dân.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những chỉ thị cuối cùng</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Hôm nay, Ta bắt đầu cho ngươi được nên cao trọng trước mắt toàn thể con cái Ít-ra-en, để chúng biết là Ta sẽ ở với ngươi như Ta đã ở với Mô-sê. <sup>8</sup> Còn ngươi, ngươi sẽ ra lệnh này cho các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước: khi đến bờ sông Gio-đan, các ngươi hãy đứng lại trong sông Gio-đan.&#8221; <sup>9</sup> Ông Giô-suê nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Anh em hãy tiến lại đây và nghe lời của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em.&#8221; <sup>10</sup> Rồi ông nói: &#8220;Dựa vào điều này, anh em sẽ biết là Thiên Chúa hằng sống ngự giữa anh em và Người sẽ hoàn toàn đuổi người Ca-na-an, người Khết, người Khi-vi, người Pơ-rít-di, người Ghia-ga-si, người E-mô-ri, người Giơ-vút, cho khuất mắt anh em. <sup>11</sup> Này đây, Hòm Bia Giao Ước của Vị Chúa Tể toàn cõi đất sắp dẫn đầu anh em mà qua sông Gio-đan. <sup>12</sup> Vậy bây giờ anh em hãy chọn mười hai người trong các chi tộc Ít-ra-en, mỗi chi tộc một người. <sup>13</sup> Và khi bàn chân các tư tế khiêng Hòm Bia của Ðức Chúa, Vị Chúa Tể toàn cõi đất, vừa đặt xuống nước sông Gio-đan, thì nước sông Gio-đan, nước mạn ngược chảy xuống, sẽ bị chặn lại và dừng lại thành một khối duy nhất.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Qua sông</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Khi dân rời lều để qua sông Gio-đan, thì các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước dẫn đầu dân. <sup>15</sup> Bấy giờ là mùa gặt; sông Gio-đan tràn ra hai bên bờ suốt mọi ngày. Lúc những người khiêng Hòm Bia vừa đến sông Gio-đan, và chân các tư tế khiêng Hòm Bia vừa nhúng vào nước ở ven bờ, <sup>16</sup> thì nước mạn ngược chảy xuống dừng lại, dựng đứng thành một khối duy nhất trong một khoảng rất dài, ở A-đam là thành ở cạnh Xác-than; còn nước chảy xuống biển A-ra-va, tức là Biển Muối, thì bị chặn hẳn lại, và dân đã qua sông, đối diện với Giê-ri-khô. <sup>17</sup> Các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa đứng yên tại chỗ, nơi đất khô cạn giữa lòng sông Gio-đan, trong khi toàn thể Ít-ra-en qua sông trên đất khô cạn, cho đến khi toàn dân đã qua hết.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mười hai bia kỷ niệm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi toàn dân đã qua sông Gio-đan hết, Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy chọn mười hai người trong dân, mỗi chi tộc một người, <sup>3</sup> và truyền lệnh này cho họ: từ nơi này, từ giữa lòng sông Gio-đan, nơi các tư tế đã đặt chân lên, anh em hãy lấy đi mười hai tảng đá, đem qua sông với anh em và đặt ở nơi anh em dừng lại nghỉ ngơi đêm nay.&#8221; <sup>4</sup> Ông Giô-suê gọi mười hai người ông đã chỉ định trong hàng con cái Ít-ra-en, mỗi chi tộc một người. <sup>5</sup> Ông bảo họ: &#8220;Hãy đến trước Hòm Bia Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, tận giữa lòng sông Gio-đan, và mỗi người vác một tảng đá trên vai, đúng theo số các chi tộc con cái Ít-ra-en,6 để làm dấu hiệu giữa anh em. Mai ngày khi con cái anh em hỏi: &#8220;Những tảng đá này có nghĩa gì đối với quý vị?, <sup>7</sup> anh em sẽ trả lời: &#8220;Là vì nước sông Gio-đan đã bị chặn lại trước Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa; khi Hòm Bia qua sông Gio-đan, nước sông Gio-đan đã bị chặn lại; và các tảng đá này là bia kỷ niệm đối với con cái Ít-ra-en cho đến muôn đời.&#8221; <sup>8</sup> Con cái Ít-ra-en làm đúng như ông Giô-suê đã truyền: Họ lấy đi mười hai tảng đá, từ giữa lòng sông Gio-đan, như Ðức Chúa đã phán với ông Giô-suê, đúng theo số các chi tộc con cái Ít-ra-en; họ đem theo qua sông đến nơi họ dừng lại, và đặt ở đó. <sup>9</sup> Rồi ông Giô-suê dựng mười hai tảng đá ở giữa lòng sông Gio-đan, nơi các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước đã đặt chân lên; các tảng đá ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sau khi qua sông</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Các tư tế khiêng Hòm Bia đứng giữa lòng sông Gio-đan, cho đến khi tất cả những điều Ðức Chúa đã truyền cho ông Giô-suê phải nói cho dân được thực hiện, theo đúng như tất cả những gì ông Mô-sê đã truyền lại cho ông Giô-suê; và dân đã vội vã qua sông. <sup>11</sup> Vậy khi toàn dân đã qua hết, Hòm Bia của Ðức Chúa cũng như các tư tế lại dẫn đầu dân. <sup>12</sup> Con cái ông Rưu-vên, con cái ông Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se, võ trang đầy đủ, dẫn đầu con cái Ít-ra-en, theo như ông Mô-sê đã nói với họ. <sup>13</sup> Khoảng bốn mươi ngàn người được võ trang để ra trận, đi qua trước nhan Ðức Chúa, để tiến đánh vùng thảo nguyên Giê-ri-khô. <sup>14</sup> Ngày ấy, Ðức Chúa đã cho ông Giô-suê nên cao trọng trước mắt toàn thể Ít-ra-en, và họ kính sợ ông như đã kính sợ ông Mô-sê, mọi ngày đời ông.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: <sup>16</sup> &#8220;Hãy truyền cho các tư tế khiêng Hòm Bia Chứng Ước lên khỏi sông Gio-đan.&#8221; <sup>17</sup> Và ông Giô-suê đã truyền cho các tư tế: &#8220;Hãy lên khỏi sông Gio-đan.&#8221; <sup>18</sup> Vậy, khi các tư tế khiêng Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa lên khỏi lòng sông Gio-đan, khi họ vừa nhấc chân đặt lên đất cạn, thì nước sông Gio-đan trở về chỗ cũ và lại chảy như trước, tràn ra cả hai bên bờ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tới Ghin-gan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Dân chúng lên khỏi sông Gio-đan ngày mồng mười tháng giêng và đóng trại ở Ghin-gan, phía đông Giê-ri-khô. <sup>20</sup> Ông Giô-suê dựng ở Ghin-gan mười hai tảng đá mà họ đã lấy từ sông Gio-đan, <sup>21</sup> rồi nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Mai ngày khi con cái anh em hỏi cha ông chúng: &#8220;Những tảng đá này có nghĩa gì?, <sup>22</sup> anh em sẽ bảo cho con cái anh em biết: &#8220;Ít-ra-en đã qua sông Gio-đan này ráo chân. <sup>23</sup> Vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã làm cạn sông Gio-đan trước mặt anh em cho đến khi anh em đã qua sông, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã làm tại Biển Sậy, khi Người làm cạn biển trước mặt chúng ta, cho đến khi chúng ta đã qua biển. <sup>24</sup> Như thế, mọi dân trên mặt đất sẽ biết rằng tay Ðức Chúa mạnh mẽ dường bao, và anh em sẽ kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết mọi ngày.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các dân miền tây sông Gio-đan kinh hãi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vậy, khi tất cả các vua E-mô-ri ở bên kia sông Gio-đan, về phía tây, cũng như mọi vua Ca-na-an ở vùng duyên hải, nghe tin Ðức Chúa làm cạn sông Gio-đan trước mặt con cái Ít-ra-en cho đến khi họ qua sông, thì tâm thần họ sợ hãi như muốn chảy tan ra, họ không còn nhuệ khí nữa trước mặt con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người Híp-ri chịu cắt bì ở Ghin-gan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Khi ấy, Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ngươi hãy làm những con dao bằng đá sắc để lại cắt bì một lần nữa cho con cái Ít-ra-en.&#8221; <sup>3</sup> Ông Giô-suê đã làm những con dao bằng đá và cắt bì cho con cái Ít-ra-en ở Gò Da Quy Ðầu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðây là lý do khiến ông Giô-suê làm việc cắt bì này: Toàn thể đám dân đàn ông con trai ra khỏi Ai-cập, những người tham chiến, đều đã chết dọc đường, trong sa mạc, sau khi ra khỏi Ai-cập; <sup>5</sup> tất cả đám dân đó, khi ra khỏi Ai-cập, đều đã chịu cắt bì; còn toàn thể đám dân sinh ở dọc đường, trong sa mạc, thì không. <sup>6</sup> Vì con cái Ít-ra-en đã đi trong sa mạc bốn mươi năm, cho đến khi tất cả đám dân đó, tức là những người ra khỏi Ai-cập mà đã tham chiến, đều bị tiêu diệt; họ đã không nghe lời Ðức Chúa, nên Ðức Chúa thề với họ là sẽ không cho họ thấy đất Người đã thề với cha ông họ là sẽ ban cho chúng ta, đất tràn trề sữa và mật. <sup>7</sup> Nhưng Người đã cho con cái họ sinh ra thay thế họ, và ông Giô-suê đã cắt bì cho chúng. Quả thế, chúng chưa được cắt bì, vì dọc đường người ta đã không cắt bì cho chúng. <sup>8</sup> Vậy, khi người ta đã cắt bì cho toàn thể dân chúng rồi, thì chúng ở yên tại chỗ trong trại cho đến khi lành. <sup>9</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Hôm nay Ta đã cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Ai-cập.&#8221; Vì thế, người ta đã gọi tên nơi ấy là Ghin-gan cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cử hành lễ Vượt Qua</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con cái Ít-ra-en đóng trại ở Ghin-gan và cử hành lễ Vượt Qua ngày mười bốn trong tháng, vào buổi chiều, trong vùng thảo nguyên Giê-ri-khô. <sup>11</sup> Hôm sau lễ Vượt Qua, họ đã dùng thổ sản trong xứ, tức là bánh không men và hạt lúa rang, vào đúng ngày đó. <sup>12</sup> Hôm sau, không còn man-na nữa, khi họ dùng thổ sản trong xứ; thế là con cái Ít-ra-en không còn có man-na nữa. Năm ấy, họ đã dùng hoa màu của đất Ca-na-an.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Ðánh Chiếm Giê-Ri-Khô</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thần hiện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Vậy, khi ở gần Giê-ri-khô, ông Giô-suê ngước mắt nhìn, thì này có người đứng đối diện với ông, tay cầm gươm trần. Ông Giô-suê đến gần người ấy và nói: &#8220;Ông về phe chúng tôi hay về phe địch?&#8221; <sup>14</sup> Người ấy nói: &#8220;Không, ta là tướng chỉ huy đạo binh của Ðức Chúa, bây giờ ta đến. ..&#8221; Ông Giô-suê sấp mặt xuống đất, sụp lạy và nói: &#8220;Ngài muốn dạy tôi tớ ngài điều gì?&#8221; <sup>15</sup> Vị tướng chỉ huy đạo binh của Ðức Chúa nói với ông Giô-suê: &#8220;Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh!&#8221; Và ông Giô-suê đã làm như vậy.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm Giê-ri-khô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Giê-ri-khô đóng kín cổng thành, phòng thủ chống lại con cái Ít-ra-en: nội bất xuất, ngoại bất nhập. <sup>2</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Xem đây! Ta nộp vào tay ngươi thành Giê-ri-khô, vua và các dũng sĩ của thành ấy. <sup>3</sup> Các ngươi, tất cả những người tham chiến, các ngươi sẽ đi vòng quanh thành, đi chung quanh thành một lần; (các) ngươi sẽ làm như vậy sáu ngày. <sup>4</sup> Bảy tư tế sẽ cầm bảy cái tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia. Ngày thứ bảy, các ngươi sẽ đi vòng quanh thành bảy lần, và các tư tế sẽ thổi tù và. <sup>5</sup> Khi tù và bằng sừng cừu rú lên, khi các ngươi nghe tiếng tù và, thì toàn dân lớn tiếng hò reo xung trận. Bấy giờ tường thành sẽ sụp đổ tại chỗ; dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Giô-suê, con ông Nun, triệu tập các tư tế và nói với họ: &#8220;Các ông hãy khiêng Hòm Bia Giao Ước, và bảy tư tế phải cầm bảy tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia của Ðức Chúa.&#8221; <sup>7</sup> Ông nói với dân: &#8220;Hãy tiến tới và đi vòng quanh thành; những người được võ trang hãy qua phía trước Hòm Bia của Ðức Chúa.&#8221; <sup>8</sup> Ðiều đó đã xảy ra như ông Giô-suê đã nói với dân. Bảy tư tế cầm bảy tù và bằng sừng cừu qua phía trước nhan Ðức Chúa, vừa đi vừa thổi; còn Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa thì đi sau họ. <sup>9</sup> Quân tiên phong đi trước các tư tế đang thổi tù và. Quân hậu vệ đi theo sau Hòm Bia. Ai nấy bước đi theo tiếng tù và.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Trước đó ông Giô-suê đã ra lệnh này cho dân: &#8220;Anh em đừng hò reo xung trận, đừng để ai nghe thấy tiếng anh em, đừng hé môi nói ra lời nào, cho đến ngày tôi bảo anh em: Hãy hò reo xung trận! Bấy giờ, anh em mới hò reo xung trận.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Hòm Bia Ðức Chúa đi vòng quanh thành, đi một vòng chung quanh, rồi ai nấy trở về trại và qua đêm tại đó. <sup>12</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-suê dậy sớm, và các tư tế khiêng Hòm Bia Ðức Chúa. <sup>13</sup> Bảy tư tế cầm bảy tù và bằng sừng cừu đi trước Hòm Bia Ðức Chúa, vừa đi vừa thổi; quân tiên phong đi trước họ, và quân hậu vệ theo sau Hòm Bia Ðức Chúa; ai nấy bước đi theo tiếng tù và.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ngày thứ hai, họ đi vòng quanh thành một lần, rồi trở về trại. Họ làm như vậy sáu ngày. <sup>15</sup> Ngày thứ bảy, họ dậy sớm khi hừng đông ló rạng, và đi vòng quanh thành bảy lần cùng theo một cách thức. Chỉ có ngày đó họ mới đi vòng quanh thành bảy lần. <sup>16</sup> Ðến lần thứ bảy, khi các tư tế thổi tù và, ông Giô-suê nói với dân: &#8220;Hãy hò reo xung trận, vì Ðức Chúa đã nộp thành cho anh em.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giê-ri-khô bị án tru hiến</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> &#8220;Thành và mọi sự trong thành sẽ bị án tru hiến để kính Ðức Chúa, chỉ có cô kỹ nữ Ra-kháp và mọi người ở với cô trong nhà là sẽ được sống, vì cô đã giấu các sứ giả chúng ta sai đi. <sup>18</sup> Tuy nhiên, anh em phải đề phòng án tru hiến, kẻo anh em bị án tru hiến vì lấy đồ vật nào trong số những gì bị án biệt hiến. Bằng không, anh em sẽ làm cho trại Ít-ra-en phải bị án tru hiến, và như thế anh em gây tai hoạ cho trại. <sup>19</sup> Tất cả vàng bạc, mọi đồ đồng, đồ sắt sẽ được thánh hiến cho Ðức Chúa, và được xung vào kho tàng của Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Bấy giờ, dân hò reo xung trận, và người ta rúc tù và. Vừa nghe tiếng tù và, dân lớn tiếng hò reo xung trận, và tường thành sụp đổ tại chỗ. Dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên đánh thành, và đã chiếm được. <sup>21</sup> Họ dùng lưỡi gươm mà thi hành án tru hiến mọi sự trong thành, từ đàn ông cho đến đàn bà, từ người trẻ cho đến người già, đến cả bò lừa và chiên cừu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nhà cô Ra-kháp thoát nạn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Giô-suê nói với hai người đã đi do thám trong xứ: &#8220;Hãy vào nhà người kỹ nữ, và đem người đàn bà ấy cũng như mọi người thân thuộc của cô ra khỏi đó, theo như anh em đã thề hứa với cô.&#8221; <sup>23</sup> Vậy các người thanh niên do thám vào nhà cô Ra-kháp, và đem cô ra khỏi đó cùng với cha mẹ, anh em cô và mọi người thân thuộc của cô; họ đem tất cả thị tộc của cô ra khỏi đó, và cho họ ở bên ngoài trại Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Rồi họ phóng hoả đốt thành cũng như tất cả những gì trong đó; ngoại trừ vàng bạc và những đồ đồng, đồ sắt, thì người ta nộp vào kho tàng nhà Ðức Chúa. <sup>25</sup> Nhưng cô kỹ nữ Ra-kháp cùng với gia đình cha cô và mọi người thân thuộc của cô, thì ông Giô-suê để cho sống. Cô ở giữa dân Ít-ra-en cho đến ngày nay, vì cô đã giấu sứ giả ông Giô-suê sai đi do thám Giê-ri-khô.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nguyền rủa những ai tái thiết Giê-ri-khô</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Thuở ấy, ông Giô-suê bắt phải thề rằng:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Trước nhan Ðức Chúa, khốn cho kẻ đứng lên</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tái thiết thành Giê-ri-khô này!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Kẻ nào đào móng dựng nền,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì con đầu lòng của nó phải chết;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">kẻ nào dựng cổng xây tường,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì con út của nó phải mạng vong!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ðức Chúa ở với ông Giô-suê, và danh tiếng đồn ra khắp xứ.</span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;"> Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tội không thi hành án biệt hiến</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nhưng con cái Ít-ra-en đã can tội không thi hành án biệt hiến: ông A-khan, con ông Các-mi, cháu ông Dáp-đi, chắt ông De-rác, thuộc chi tộc Giu-đa, đã lấy đồ vật trong số những thứ bị án biệt hiến. Nên Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thất bại ở thành Ai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Từ Giê-ri-khô, ông Giô-suê sai người đến thành Ai ở gần Bết A-ven, về phía đông Bết Ên. Ông nói với họ: &#8220;Hãy lên do thám xứ ấy!&#8221; Họ lên do thám thành Ai. <sup>3</sup> Họ trở về với ông Giô-suê và nói: &#8220;Ðừng đưa cả dân lên! Chỉ cần khoảng hai hoặc ba ngàn người lên mà đánh thành Ai. Ðừng làm khổ toàn dân trong vụ này, vì bọn kia không đông mấy!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vậy có chừng ba ngàn người trong dân đã lên đó, nhưng họ đã chạy trốn trước mặt người thành Ai. <sup>5</sup> Người thành Ai đã giết khoảng ba mươi sáu người của họ. Người thành Ai đuổi theo họ từ đàng trước cổng thành đến Sơ-va-rim, và đánh bại họ ở chỗ dốc. Tâm thần của dân sợ hãi như muốn chảy tan ra như nước.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê cầu nguyện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Giô-suê xé áo mình ra, và cùng với các kỳ mục Ít-ra-en sấp mặt xuống đất trước Hòm Bia Ðức Chúa, cho đến chiều. Họ rắc bụi lên đầu. <sup>7</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Ôi! Lạy Chúa là Ðức Chúa, sao Ngài lại đem dân này qua sông Gio-đan mà nộp chúng con vào tay người E-mô-ri để huỷ diệt chúng con? Giá chúng con được định cư bên kia sông Gio-đan, thì có hơn không? <sup>8</sup> Xin đoái thương, lạy Chúa, con biết nói gì đây, sau khi Ít-ra-en phải quay lưng chạy trốn các địch thù? <sup>9</sup> Người Ca-na-an và mọi dân cư trong xứ sẽ nghe biết tin này. Họ sẽ quay lại chống chúng con và xoá tên chúng con khỏi mặt đất. Khi đó, Ngài sẽ làm gì để chứng tỏ danh Ngài vĩ đại?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðức Chúa trả lời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ðứng dậy đi! Sao ngươi cứ sấp mặt xuống đất như vậy? <sup>11</sup> Ít-ra-en đã phạm tội, hơn nữa, chúng đã vi phạm giao ước mà Ta đã truyền cho chúng phải giữ; chúng đã dám lấy cả đồ vật bị án biệt hiến, chúng đã dám lấy trộm, giấu đi và bỏ vào đồ đoàn của chúng! <sup>12</sup> Vì thế, con cái Ít-ra-en sẽ không thể đương đầu với địch thù của chúng. Chúng sẽ quay lưng chạy trốn các địch thù, vì chúng đã trở nên những kẻ mang án tru hiến. Ta sẽ không ở với các ngươi nữa, nếu các ngươi không loại khỏi các ngươi những đồ vật bị án biệt hiến. <sup>13</sup> Ðứng dậy đi! Hãy làm cho dân được nên thánh. Ngươi sẽ nói: Anh em hãy lo cho mình được nên thánh để chuẩn bị cho ngày mai, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Hỡi Ít-ra-en, giữa các ngươi có một đồ vật bị án biệt hiến. (Các) ngươi sẽ không thể đương đầu với địch thù của (các) ngươi, bao lâu các ngươi không cất khỏi các ngươi đồ vật ấy. <sup>14</sup> Sáng mai, các ngươi sẽ tiến đến theo từng chi tộc. Chi tộc nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến theo từng thị tộc. Thị tộc nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến theo từng gia đình. Gia đình nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến từng người một. <sup>15</sup> Kẻ nào bị chỉ định bởi việc bắt thăm vì có liên quan đến án biệt hiến, thì sẽ bị thiêu cùng với tất cả đồ vật của nó; vì nó đã vi phạm giao ước của Ðức Chúa, và vì nó đã làm một điều ô nhục trong Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tìm được thủ phạm và ra hình phạt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-suê dậy sớm và cho dân Ít-ra-en tiến đến theo chi tộc: chi tộc Giu-đa bắt trúng thăm. <sup>17</sup> Ông cho các thị tộc Giu-đa tiến đến, và thị tộc De-rác bắt trúng thăm; ông cho thị tộc De-rác tiến đến theo từng gia đình; và gia đình Dáp-đi bắt trúng thăm. <sup>18</sup> Ông cho gia đình Dáp-đi tiến đến từng người một, và A-khan, con ông Các-mi, cháu ông Dáp-đi, chắt ông De-rác, thuộc chi tộc Giu-đa, bắt trúng thăm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Giô-suê bảo A-khan: &#8220;Này ngươi, hãy tôn vinh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, và hãy suy tôn Người! Hãy thú thật với ta những gì ngươi đã làm, đừng giấu giếm gì cả.&#8221; <sup>20</sup> A-khan trả lời ông Giô-suê: &#8220;Quả thật, con đã đắc tội với Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đây là điều con đã làm: <sup>21</sup> Trong số chiến lợi phẩm, con trông thấy một chiếc áo khoác đẹp miền Sin-a, hai ký bạc và một thỏi vàng cân nặng hơn nửa ký, vì lòng tham, con đã lấy; các vật ấy được chôn dưới đất, ở giữa lều của con, và bạc thì ở bên dưới.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Giô-suê sai người chạy tới lều A-khan; quả thật chiếc áo khoác được chôn trong lều, còn bạc thì ở dưới. <sup>23</sup> Họ lấy tất cả ra khỏi lều, mang về cho ông Giô-suê và toàn thể con cái Ít-ra-en, rồi đổ ra trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Khi ấy, ông Giô-suê đem A-khan, con ông De-rác đi, cùng với bạc, áo khoác, nén vàng, cũng như con trai, con gái, bò lừa, chiên dê, lều trại và tất cả những gì của nó. Toàn thể Ít-ra-en cùng đi với nó. Người ta đem chúng lên cánh đồng A-kho.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ông Giô-suê bảo: &#8220;Sao ngươi lại gây hoạ cho chúng ta? Xin Ðức Chúa giáng hoạ cho ngươi hôm nay!&#8221; Toàn thể Ít-ra-en ném đá A-khan. Họ ném đá và thiêu những gì còn lại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Rồi người ta chất một đống đá lớn trên A-khan. Ðống đá ấy vẫn còn cho đến ngày nay. Bấy giờ, Ðức Chúa nguôi cơn thịnh nộ. Vì thế, người ta gọi nơi này là &#8220;cánh đồng A-kho&#8221; cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;"> Chương 07 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tội không thi hành án biệt hiến</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nhưng con cái Ít-ra-en đã can tội không thi hành án biệt hiến: ông A-khan, con ông Các-mi, cháu ông Dáp-đi, chắt ông De-rác, thuộc chi tộc Giu-đa, đã lấy đồ vật trong số những thứ bị án biệt hiến. Nên Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thất bại ở thành Ai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Từ Giê-ri-khô, ông Giô-suê sai người đến thành Ai ở gần Bết A-ven, về phía đông Bết Ên. Ông nói với họ: &#8220;Hãy lên do thám xứ ấy!&#8221; Họ lên do thám thành Ai. <sup>3</sup> Họ trở về với ông Giô-suê và nói: &#8220;Ðừng đưa cả dân lên! Chỉ cần khoảng hai hoặc ba ngàn người lên mà đánh thành Ai. Ðừng làm khổ toàn dân trong vụ này, vì bọn kia không đông mấy!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Vậy có chừng ba ngàn người trong dân đã lên đó, nhưng họ đã chạy trốn trước mặt người thành Ai. <sup>5</sup> Người thành Ai đã giết khoảng ba mươi sáu người của họ. Người thành Ai đuổi theo họ từ đàng trước cổng thành đến Sơ-va-rim, và đánh bại họ ở chỗ dốc. Tâm thần của dân sợ hãi như muốn chảy tan ra như nước.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê cầu nguyện</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Giô-suê xé áo mình ra, và cùng với các kỳ mục Ít-ra-en sấp mặt xuống đất trước Hòm Bia Ðức Chúa, cho đến chiều. Họ rắc bụi lên đầu. <sup>7</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Ôi! Lạy Chúa là Ðức Chúa, sao Ngài lại đem dân này qua sông Gio-đan mà nộp chúng con vào tay người E-mô-ri để huỷ diệt chúng con? Giá chúng con được định cư bên kia sông Gio-đan, thì có hơn không? <sup>8</sup> Xin đoái thương, lạy Chúa, con biết nói gì đây, sau khi Ít-ra-en phải quay lưng chạy trốn các địch thù? <sup>9</sup> Người Ca-na-an và mọi dân cư trong xứ sẽ nghe biết tin này. Họ sẽ quay lại chống chúng con và xoá tên chúng con khỏi mặt đất. Khi đó, Ngài sẽ làm gì để chứng tỏ danh Ngài vĩ đại?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðức Chúa trả lời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ðứng dậy đi! Sao ngươi cứ sấp mặt xuống đất như vậy? <sup>11</sup> Ít-ra-en đã phạm tội, hơn nữa, chúng đã vi phạm giao ước mà Ta đã truyền cho chúng phải giữ; chúng đã dám lấy cả đồ vật bị án biệt hiến, chúng đã dám lấy trộm, giấu đi và bỏ vào đồ đoàn của chúng! <sup>12</sup> Vì thế, con cái Ít-ra-en sẽ không thể đương đầu với địch thù của chúng. Chúng sẽ quay lưng chạy trốn các địch thù, vì chúng đã trở nên những kẻ mang án tru hiến. Ta sẽ không ở với các ngươi nữa, nếu các ngươi không loại khỏi các ngươi những đồ vật bị án biệt hiến. <sup>13</sup> Ðứng dậy đi! Hãy làm cho dân được nên thánh. Ngươi sẽ nói: Anh em hãy lo cho mình được nên thánh để chuẩn bị cho ngày mai, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Hỡi Ít-ra-en, giữa các ngươi có một đồ vật bị án biệt hiến. (Các) ngươi sẽ không thể đương đầu với địch thù của (các) ngươi, bao lâu các ngươi không cất khỏi các ngươi đồ vật ấy. <sup>14</sup> Sáng mai, các ngươi sẽ tiến đến theo từng chi tộc. Chi tộc nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến theo từng thị tộc. Thị tộc nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến theo từng gia đình. Gia đình nào Ðức Chúa đã dùng thăm mà chỉ định, sẽ tiến đến từng người một. <sup>15</sup> Kẻ nào bị chỉ định bởi việc bắt thăm vì có liên quan đến án biệt hiến, thì sẽ bị thiêu cùng với tất cả đồ vật của nó; vì nó đã vi phạm giao ước của Ðức Chúa, và vì nó đã làm một điều ô nhục trong Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tìm được thủ phạm và ra hình phạt</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-suê dậy sớm và cho dân Ít-ra-en tiến đến theo chi tộc: chi tộc Giu-đa bắt trúng thăm. <sup>17</sup> Ông cho các thị tộc Giu-đa tiến đến, và thị tộc De-rác bắt trúng thăm; ông cho thị tộc De-rác tiến đến theo từng gia đình; và gia đình Dáp-đi bắt trúng thăm. <sup>18</sup> Ông cho gia đình Dáp-đi tiến đến từng người một, và A-khan, con ông Các-mi, cháu ông Dáp-đi, chắt ông De-rác, thuộc chi tộc Giu-đa, bắt trúng thăm.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Giô-suê bảo A-khan: &#8220;Này ngươi, hãy tôn vinh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, và hãy suy tôn Người! Hãy thú thật với ta những gì ngươi đã làm, đừng giấu giếm gì cả.&#8221; <sup>20</sup> A-khan trả lời ông Giô-suê: &#8220;Quả thật, con đã đắc tội với Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đây là điều con đã làm: <sup>21</sup> Trong số chiến lợi phẩm, con trông thấy một chiếc áo khoác đẹp miền Sin-a, hai ký bạc và một thỏi vàng cân nặng hơn nửa ký, vì lòng tham, con đã lấy; các vật ấy được chôn dưới đất, ở giữa lều của con, và bạc thì ở bên dưới.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Giô-suê sai người chạy tới lều A-khan; quả thật chiếc áo khoác được chôn trong lều, còn bạc thì ở dưới. <sup>23</sup> Họ lấy tất cả ra khỏi lều, mang về cho ông Giô-suê và toàn thể con cái Ít-ra-en, rồi đổ ra trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Khi ấy, ông Giô-suê đem A-khan, con ông De-rác đi, cùng với bạc, áo khoác, nén vàng, cũng như con trai, con gái, bò lừa, chiên dê, lều trại và tất cả những gì của nó. Toàn thể Ít-ra-en cùng đi với nó. Người ta đem chúng lên cánh đồng A-kho.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ông Giô-suê bảo: &#8220;Sao ngươi lại gây hoạ cho chúng ta? Xin Ðức Chúa giáng hoạ cho ngươi hôm nay!&#8221; Toàn thể Ít-ra-en ném đá A-khan. Họ ném đá và thiêu những gì còn lại.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Rồi người ta chất một đống đá lớn trên A-khan. Ðống đá ấy vẫn còn cho đến ngày nay. Bấy giờ, Ðức Chúa nguôi cơn thịnh nộ. Vì thế, người ta gọi nơi này là &#8220;cánh đồng A-kho&#8221; cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Ðánh Chiếm Thành Ai</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa truyền lệnh cho ông Giô-suê</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ðừng hãi, đừng sợ! Hãy đem theo ngươi mọi chiến sĩ. Ðứng dậy đi, tiến lên đánh thành Ai. Xem đây, Ta nộp vào tay ngươi vua thành Ai, dân, thành và xứ của vua ấy. <sup>2</sup> Ngươi sẽ đối xử với thành Ai và vua thành ấy như đã đối xử với Giê-ri-khô và vua thành ấy. Các ngươi chỉ được chiếm cho mình chiến lợi phẩm và thú vật. Ngươi hãy đặt quân mai phục phía sau thành để tấn công.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mưu kế của ông Giô-suê</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ông Giô-suê trỗi dậy, cùng với mọi chiến sĩ lên đánh thành Ai. Ông chọn ba mươi ngàn dũng sĩ, và đang đêm sai họ đi. <sup>4</sup> Ông ra lệnh này cho họ: &#8220;Xem đây! Anh em sẽ mai phục phía sau thành để tấn công, nhưng đừng ở quá xa, và tất cả anh em hãy sẵn sàng. <sup>5</sup> Còn tôi và toàn dân ở với tôi, chúng tôi sẽ tiến lại gần thành. Khi chúng ra nghênh chiến với chúng ta như lần đầu, chúng tôi sẽ chạy trốn trước mặt chúng. <sup>6</sup> Chúng sẽ chạy ra đuổi theo chúng tôi, cho đến khi chúng tôi nhử chúng ra xa thành, vì chúng sẽ nói: &#8220;Họ chạy trốn trước mặt chúng ta như lần đầu! Chúng tôi sẽ chạy trốn trước mặt họ; <sup>7</sup> còn anh em, anh em sẽ đứng lên, rời chỗ mai phục và chiếm thành. Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ nộp thành vào tay anh em. <sup>8</sup> Vậy sau khi đoạt được thành, anh em sẽ phóng hoả đốt thành. Anh em phải làm theo lời Ðức Chúa. Hãy coi! Ðó là mệnh lệnh tôi truyền cho anh em.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Giô-suê sai họ đi; họ đi đến chỗ mai phục và núp ở giữa Bết Ên và Ai, về phía tây của thành, còn ông Giô-suê thì qua đêm ở giữa dân. <sup>10</sup> Sáng hôm sau, ông Giô-suê dậy sớm, duyệt lại hàng ngũ của dân. Ông và các kỳ mục Ít-ra-en tiến lên, đi trước dân để tấn công thành Ai. <sup>11</sup> Mọi chiến sĩ ở với ông thì đi lên, tiến tới. Ðến trước mặt thành Ai, họ đóng trại ở phía bắc thành, giữa họ và thành có một thung lũng. <sup>12</sup> Ông lấy chừng năm ngàn người, cho họ mai phục giữa Bết Ên và Ai, phía tây thành. <sup>13</sup> Khi dân đã dàn trận ở phía bắc thành, và đặt hậu quân ở phía tây, thì đêm ấy ông Giô-suê đi ra giữa cánh đồng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc đánh chiếm thành Ai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Vua thành Ai thấy thế, thì sáng hôm sau, vua và toàn dân trong thành vội vàng dậy sớm, ra nghênh chiến với Ít-ra-en ở chỗ đã định, đối diện với A-ra-va. Nhưng ông không biết là có quân mai phục đang chờ ông đằng sau thành. <sup>15</sup> Ông Giô-suê và toàn dân Ít-ra-en để cho quân địch đánh, và họ tháo chạy về phía sa mạc. <sup>16</sup> Toàn dân trong thành tập họp lại, đuổi theo. Chúng đuổi theo ông Giô-suê và bị nhử ra xa thành. <sup>17</sup> Không một người nào trong thành Ai và Bết Ên mà không chạy ra rượt theo Ít-ra-en, chúng để thành bỏ ngỏ mà đuổi theo Ít-ra-en. <sup>18</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Hãy giơ ngọn lao ngươi đang cầm trong tay hướng về thành Ai, vì Ta sẽ nộp thành ấy vào tay ngươi.&#8221; Ông Giô-suê giơ ngọn lao đang cầm trong tay về phía thành. <sup>19</sup> Ông vừa giơ tay lên thì quân mai phục vội vàng trỗi dậy, rời khỏi chỗ núp. Họ chạy vào và chiếm thành rồi vội vàng phóng hoả đốt thành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Người thành Ai quay lại, nhìn thấy khói từ thành bốc lên trời. Chúng không còn sức chạy trốn đàng nào nữa, vì những người Ít-ra-en đang chạy trốn vào sa mạc quay lại đánh những kẻ đuổi theo họ. <sup>21</sup> Thấy quân mai phục chiếm được thành và thấy khói từ thành bốc lên, ông Giô-suê và toàn thể Ít-ra-en trở lại đánh người thành Ai. <sup>22</sup> Những người khác ra khỏi thành đón đường chúng, khiến chúng lọt vào giữa Ít-ra-en, bị chận cả hai đầu. Ít-ra-en giết chúng, không để sót một tên, không để thoát một mống. <sup>23</sup> Vua thành Ai bị bắt sống và bị điệu tới ông Giô-suê. <sup>24</sup> Khi Ít-ra-en đã giết sạch dân thành Ai, kẻ ở ngoài đồng, cũng như kẻ ở trong sa mạc là nơi chúng đuổi theo họ, khi tất cả, cho đến tên cuối cùng, đã ngã gục dưới lưỡi gươm, thì toàn thể Ít-ra-en trở về thành Ai và dùng lưỡi gươm giết chúng. <sup>25</sup> Số những kẻ ngã gục trong ngày đó, đàn ông cũng như đàn bà, tất cả lên tới mười hai ngàn, mọi người đều là dân thành Ai.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Án tru diệt và cuộc tàn phá thành Ai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ông Giô-suê cứ giơ tay cầm lao, không hạ xuống cho đến khi ông thi hành án tru diệt tất cả thành Ai. <sup>27</sup> Người Ít-ra-en chỉ chiếm cho mình thú vật và chiến lợi phẩm của thành ấy, theo lệnh Ðức Chúa đã truyền cho ông Giô-suê.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ông Giô-suê đã đốt thành Ai, khiến nó mãi mãi là một nơi điêu tàn, một chốn hoang vu vẫn còn đến ngày nay. <sup>29</sup> Ông cho treo cổ vua thành Ai trên cây cho đến chiều. Nhưng khi mặt trời lặn, ông ra lệnh hạ xác xuống khỏi cây và quăng ở cửa thành. Người ta chất trên y một đống đá lớn vẫn còn cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">5. Dâng Hy Lễ Và Ðọc Sách Luật Trên Núi Ê-Van</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bàn thờ bằng đá nguyên vẹn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Bấy giờ, ông Giô-suê dựng bàn thờ kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, trên núi Ê-van, <sup>31</sup> theo lệnh ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã truyền cho con cái Ít-ra-en, như đã chép trong Sách Luật Mô-sê: đó là một bàn thờ bằng đá nguyên vẹn, chưa có đồ sắt chạm tới. Trên đó, người ta dâng lễ toàn thiêu kính Ðức Chúa và dâng lễ kỳ an.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðọc Sách Luật</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Giô-suê cho khắc bản sao Luật Mô-sê trên những tảng đá; ông Mô-sê đã viết Luật đó trước mặt con cái Ít-ra-en. <sup>33</sup> Toàn thể Ít-ra-en, các bậc kỳ mục, kinh sư và thẩm phán đều đứng hai bên Hòm Bia, đối diện với các tư tế Lê-vi khiêng Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, người ngoại kiều cũng như người bản xứ, một nửa đứng trước núi Gơ-ri-dim, một nửa đứng trước núi Ê-van, để theo lệnh ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, dân Ít-ra-en được chúc phúc trước. <sup>34</sup> Sau đó, ông Giô-suê đọc mọi lời của Lề Luật, &#8211; những lời chúc phúc và những lời nguyền rủa -, theo như mọi điều đã ghi trong Sách Luật. <sup>35</sup> Không có lời nào ông Mô-sê đã truyền viết ra, mà ông Giô-suê lại không đọc trước mặt toàn thể cộng đồng Ít-ra-en, gồm cả đàn bà, trẻ con và ngoại kiều cùng đi chung với họ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">6. Hiệp Ước Giữa Ít-Ra-En Và Người Ghíp-Ôn</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Liên minh chống Ít-ra-en</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nghe tin ấy, tất cả các vua ở bên kia sông Gio-đan, trên miền núi, trong miền Sơ-phê-la và ở vùng ven Biển Lớn cho đến tận Li-băng: các vua Khết, E-mô-ri, Ca-na-an, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút, <sup>2</sup> hợp nhau để cùng chiến đấu chống lại ông Giô-suê và Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mưu của người Ghíp-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Người Ghíp-ôn nghe biết những gì ông Giô-suê đã làm cho Giê-ri-khô và Ai, <sup>4</sup> thì cũng dùng mưu. Chúng lên đường, mang theo lương thực, và cho lừa chở những chiếc bị cũ, những bầu rượu bằng da cũ, thủng và được vá lại, <sup>5</sup> chân mang dép cũ được khâu lại, mình mặc quần áo cũ; tất cả bánh dự trữ đều khô cứng, nát vụn.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Chúng đi gặp ông Giô-suê ở trại Ghin-gan; chúng nói với ông và người Ít-ra-en: &#8220;Chúng tôi từ nơi xa đến, vậy bây giờ xin các ông ký hiệp ước với chúng tôi.&#8221; <sup>7</sup> Người Ít-ra-en mới nói với người Khi-vi: &#8220;Biết đâu (các) ông lại chẳng sống ngay giữa chúng tôi, thì (chúng) tôi ký hiệp ước với các ông làm gì?&#8221; <sup>8</sup> Chúng nói với ông Giô-suê: &#8220;Chúng tôi là tôi tớ của ông.&#8221; Ông Giô-suê nói: &#8220;Các ông là ai, và từ đâu đến?&#8221; <sup>9</sup> Chúng đáp: &#8220;Nghe biết danh tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, các tôi tớ của ông đã từ một nước rất xa đến đây. Vì chúng tôi đã nghe nói về Người, về tất cả những gì Người đã làm bên Ai-cập, <sup>10</sup> và về tất cả những gì Người đã giáng cho hai vua người E-mô-ri ở bên kia sông Gio-đan, nghĩa là cho Xi-khôn, vua Khét-bôn, và Ốc, vua Ba-san, ở Át-ta-rốt. <sup>11</sup> Các bậc kỳ mục của chúng tôi và mọi người dân trong nước đã nói với chúng tôi: &#8220;Các anh hãy mang theo lương thực đi đường mà đi đón họ; hãy nói với họ: Chúng tôi là tôi tớ của các ông; vậy bây giờ xin các ông ký hiệp ước với chúng tôi. <sup>12</sup> Bánh của chúng tôi đây này: khi chúng tôi đem ra khỏi nhà làm lương thực, ngày chúng tôi ra đi để đến với các ông, nó còn nóng hổi, mà bây giờ nó đã khô cứng, nát vụn! <sup>13</sup> Những bầu rượu kia, khi chúng tôi đổ đầy rượu vào, thì hãy còn mới, mà nay đã thủng; quần áo và giày dép của chúng tôi đây đã cũ vì đường sá xa xôi.&#8221; <sup>14</sup> Người Ít-ra-en nhận một phần lương thực dự trữ ấy mà không thỉnh ý Ðức Chúa qua lời sấm. <sup>15</sup> Ông Giô-suê để chúng được bình an, và ký hiệp ước bảo đảm tính mạng của chúng. Và những người lãnh đạo cộng đồng thề ước với chúng.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ba ngày sau khi ký hiệp ước với chúng, người Ít-ra-en nghe biết chúng là người láng giềng và sống giữa họ. <sup>17</sup> Con cái Ít-ra-en rời nơi đó mà vào thành của chúng ngày thứ ba; thành của chúng là Ghíp-ôn, Cơ-phi-ra, Bơ-ê-rốt, Kia-giát Giơ-a-rim. <sup>18</sup> Con cái Ít-ra-en không giết chúng, vì các người lãnh đạo cộng đồng đã thề ước với chúng nhân danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en; nhưng toàn thể cộng đồng đã kêu trách những người lãnh đạo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy chế cho người Ghíp-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Mọi người lãnh đạo nói với toàn thể cộng đồng: &#8220;Chúng tôi đã nhân danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, mà thề; nên bây giờ chúng ta không được đụng tới chúng. <sup>20</sup> Chúng ta sẽ đối xử với chúng như thế này: Chúng ta sẽ để cho chúng sống, và cơn thịnh nộ sẽ không giáng xuống chúng ta, vì chúng ta đã thề ước với chúng như vậy.&#8221; <sup>21</sup> Những người lãnh đạo nói tiếp: &#8220;Cứ để chúng sống, nhưng chúng phải chặt củi, múc nước cho toàn thể cộng đồng.&#8221; Những người lãnh đạo đã nói với chúng như thế. <sup>22</sup> Ông Giô-suê triệu tập chúng lại và nói: &#8220;Tại sao các người đã lừa dối chúng tôi mà nói: &#8220;Chúng tôi ở rất xa các ông&#8221;, trong khi các người sống giữa chúng tôi? <sup>23</sup> Bây giờ, các người là những kẻ bị nguyền rủa, tất cả các người sẽ mãi mãi làm nô lệ, làm người chặt củi, múc nước cho Nhà của Thiên Chúa tôi.&#8221; <sup>24</sup> Chúng trả lời ông Giô-suê: &#8220;Người ta đã kể đi kể lại cho các tôi tớ ngài đây lệnh mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, đã truyền cho ông Mô-sê, tôi trung của Người, là trao cho các ông tất cả xứ sở, và tiêu diệt trước mặt các ông toàn thể dân cư trong xứ. Chúng tôi đã sợ cho tính mạng của chúng tôi, chúng tôi rất sợ các ông, nên chúng tôi đã làm điều ấy. <sup>25</sup> Vậy bây giờ chúng tôi đang ở trong tay ông, ông cứ đối xử với chúng tôi như ông nghĩ thế nào là hay là phải!&#8221; <sup>26</sup> Ông đã đối xử với chúng như thế này: ông đã cứu chúng khỏi tay con cái Ít-ra-en, và họ đã không giết chúng. <sup>27</sup> Nhưng ngày ấy ông Giô-suê bắt chúng chặt củi, múc nước để phục vụ cộng đồng và bàn thờ của Ðức Chúa cho đến ngày nay, ở nơi Người sẽ chọn.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">7. Liên Minh Năm Vua E-Mô-Ri.</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Ðánh Chiếm Miền Nam Pa-Lét-Tin.</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Năm vua đánh Ghíp-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> A-đô-ni Xe-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, nghe tin ông Giô-suê đã chiếm thành Ai, đã tru hiến thành này, đã đối xử với thành Ai và vua thành này như với Giê-ri-khô và vua thành ấy. Vua cũng nghe tin dân thành Ghíp-ôn đã cầu hoà với Ít-ra-en và đang sống giữa Ít-ra-en. <sup>2</sup> Khi đó người ta hết sức sợ hãi, bởi vì Ghíp-ôn là một thành lớn như một kinh thành. Quả thế, thành đó lớn hơn thành Ai, và mọi người trong thành đều là những tay anh hùng. <sup>3</sup> A-đô-ni Xe-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, sai người đến nói với Hô-ham, vua Khép-rôn, với Pia-am, vua Giác-mút, với Gia-phia, vua La-khít, và với Ðơ-via, vua Éc-lon: <sup>4</sup> &#8220;Xin quý vị lên với tôi và cứu viện cho tôi, để chúng ta cùng đánh Ghíp-ôn, vì Ghíp-ôn đã cầu hoà với Giô-suê và con cái Ít-ra-en.&#8221; <sup>5</sup> Năm vua E-mô-ri là vua Giê-ru-sa-lem, vua Khép-rôn, vua Giác-mút, vua La-khít, vua Éc-lon, đem quân liên minh với nhau và cùng đi lên. Họ bao vây Ghíp-ôn và tấn công thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê đến cứu viện Ghíp-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Dân thành Ghíp-ôn đến trại Ghin-gan nói với ông Giô-suê: &#8220;Xin ngài đừng từ chối tiếp tay cho các tôi tớ ngài. Xin ngài sớm lên với chúng tôi, giải thoát chúng tôi, cứu viện chúng tôi, vì tất cả các vua E-mô-ri ở miền núi đều hợp nhau chống lại chúng tôi.&#8221; <sup>7</sup> Ông Giô-suê rời Ghin-gan mà đi lên, cùng với tất cả chiến sĩ và dũng sĩ. <sup>8</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ðừng sợ chúng, vì Ta đã nộp chúng vào tay ngươi, không ai trong bọn chúng sẽ đứng vững trước mặt ngươi.&#8221; <sup>9</sup> Sau khi từ Ghin-gan đi lên suốt cả một đêm, ông Giô-suê bất thình lình đến nơi chúng đóng quân.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ơn trên phù hộ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ðức Chúa làm cho chúng tán loạn trước mặt Ít-ra-en. Và Ít-ra-en đã làm cho chúng đại bại ở Ghíp-ôn. Họ đuổi theo chúng lên phía đèo Bết Khô-rôn, và đánh giết chúng mãi cho đến A-dê-ca, cho đến Mác-kê-đa. <sup>11</sup> Khi chúng chạy trốn trước mặt Ít-ra-en đến chân đèo Bết Khô-rôn, thì từ trời, Ðức Chúa cho rơi những hòn đá lớn xuống trên chúng mãi cho đến A-dê-ca, khiến chúng phải chết. Chúng chết vì cơn mưa đá nhiều hơn là vì gươm con cái Ít-ra-en giết. <sup>12</sup> Bấy giờ, trong ngày Ðức Chúa nộp người E-mô-ri cho con cái Ít-ra-en, ông Giô-suê thưa chuyện với Ðức Chúa. Trước mặt con cái Ít-ra-en, ông nói:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên thành Ghíp-ôn;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hỡi mặt trăng, hãy dừng lại trên thung lũng Ai-gia-lôn!&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Mặt trời liền dừng lại, mặt trăng lập tức đứng lại, cho đến khi dân đã trị tội các địch thù.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Trước đó và từ đó về sau, không có hôm nào như hôm ấy, ÐỨC CHÚA nghe lời một người phàm, vì Ðức Chúa chiến đấu cho Ít-ra-en. <sup>15</sup> Ông Giô-suê và toàn dân Ít-ra-en trở về trại ở Ghin-gan.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Năm vua trốn trong hang Mác-kê-đa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Năm vua đó tẩu thoát và trốn vào hang Mác-kê-đa. <sup>17</sup> Người ta báo tin cho ông Giô-suê rằng: &#8220;Ðã tìm thấy năm vua trốn trong hang Mác-kê-đa.&#8221; <sup>18</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Hãy lăn những tảng đá lớn để lấp cửa hang, và đặt người ở đó canh giữ chúng. <sup>19</sup> Còn anh em, đừng đứng lại, hãy đuổi theo kẻ thù, chặn đường triệt thoái, đừng cho chúng vào lại các thành của chúng, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã nộp chúng vào tay anh em.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Sau khi ông Giô-suê và con cái Ít-ra-en làm cho chúng hoàn toàn đại bại đến mức tận tuyệt &#8211; trừ ít người trốn thoát vào được thành kiên cố của chúng -, <sup>21</sup> thì toàn dân mới an toàn trở về trại với ông Giô-suê ở Mác-kê-đa; không một ai dám hé môi nói phạm đến con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Mở cửa hang, đem năm vua ấy ra đây cho tôi.&#8221; <sup>23</sup> Họ đã làm như thế: họ đem năm vua ấy ra khỏi hang cho ông. Ðó là vua Giê-ru-sa-lem, vua Khép-rôn, vua Giác-mút, vua La-khít, vua Éc-lon. <sup>24</sup> Khi họ đã đem các vua ấy ra cho ông Giô-suê, thì ông triệu tập tất cả những người Ít-ra-en lại, và nói với những tướng lãnh các chiến sĩ tháp tùng ông: &#8220;Tiến lại gần đây, đặt chân lên cổ các vua này.&#8221; Họ tiến lại gần và đặt chân họ lên cổ chúng. <sup>25</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Ðừng hãi, đừng sợ; mạnh bạo lên, can đảm lên! Vì Ðức Chúa sẽ xử như thế này với mọi địch thù mà anh em sẽ phải nghênh chiến.&#8221; <sup>26</sup> Sau đó, ông Giô-suê cho đánh và giết chết chúng, rồi treo lên năm ngọn cây. Chúng bị treo trên cây cho đến chiều.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Khi mặt trời lặn, ông Giô-suê truyền hạ chúng xuống khỏi cây. Người ta quăng chúng vào hang, nơi chúng đã trốn, và người ta đặt những tảng đá lớn nơi cửa hang. Những tảng đá ấy còn mãi cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm các thành miền nam Ca-na-an</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ngày hôm ấy, ông Giô-suê chiếm được Mác-kê-đa và dùng lưỡi gươm chém giết dân trong thành cũng như vua của chúng. Ông tru hiến chúng cũng như mọi sinh vật trong đó, không để một mạng nào sống sót. Ông đã xử với vua Mác-kê-đa như đã xử với vua Giê-ri-khô.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Rồi ông Giô-suê cùng với toàn thể Ít-ra-en rời Mác-kê-đa mà qua Líp-na. Ông giao chiến với Líp-na. <sup>30</sup> Ðức Chúa cũng đã nộp Líp-na và cả vua thành ấy vào tay Ít-ra-en. Ít-ra-en đã dùng lưỡi gươm chém giết dân trong thành cũng như mọi sinh vật trong đó, không để một mạng nào sống sót. Ông đã xử với vua thành đó như đã xử với vua thành Giê-ri-khô.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ông Giô-suê cùng với toàn thể Ít-ra-en rời Líp-na mà qua La-khít. Ông vây hãm và tấn công thành. <sup>32</sup> Ðức Chúa nộp La-khít vào tay Ít-ra-en. Ít-ra-en chiếm thành đó vào ngày thứ hai, và dùng lưỡi gươm chém giết dân trong thành cũng như mọi sinh vật trong đó, y như đã xử với Líp-na. <sup>33</sup> Bấy giờ, Hô-ram, vua Ghe-dê, lên cứu viện cho La-khít, nhưng ông Giô-suê đánh bại nó cũng như dân của nó, đến nỗi không để một mạng nào sống sót. <sup>34</sup> Ông Giô-suê cùng với toàn thể Ít-ra-en rời La-khít mà qua Éc-lon. Họ vây hãm và tấn công thành. <sup>35</sup> Ngày ấy, họ chiếm thành và dùng lưỡi gươm chém giết dân trong thành. Ngày ấy, ông tru hiến mọi sinh vật trong đó, y như đã xử với La-khít.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Ông Giô-suê cùng với toàn thể Ít-ra-en rời Éc-lon mà lên Khép-rôn. Họ tấn công Khép-rôn. <sup>37</sup> Họ chiếm thành và dùng lưỡi gươm chém giết dân trong thành, cũng như vua của thành đó, mọi thị trấn phụ thuộc và mọi sinh vật trong đó. Ông không để một mạng nào sống sót, y như đã xử với Éc-lon. Ông tru hiến thành ấy cũng như mọi sinh vật trong đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Ông Giô-suê cùng với toàn thể Ít-ra-en quay sang Ðơ-via và tấn công thành đó. <sup>39</sup> Ông chiếm được thành Ðơ-via, bắt được vua, và chiếm mọi thị trấn phụ thuộc của thành ấy. Họ đã dùng lưỡi gươm chém giết chúng và tru hiến mọi sinh vật trong đó. Ông không để một mạng nào sống sót. Ông Giô-suê đã xử với thành Khép-rôn, với Líp-na và vua của các thành ấy thế nào, thì cũng xử với Ðơ-via và vua của thành ấy như vậy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tổng kết về các cuộc chinh phục miền nam</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Ông Giô-suê đánh chiếm toàn xứ: miền núi, miền Ne-ghép, miền Sơ-phê-la, các Sườn Núi, và giết tất cả các vua. Ông không để một mạng nào sống sót. Ông tru hiến tất cả những gì có sinh khí, theo mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en. <sup>41</sup> Ông Giô-suê đánh chúng từ Ca-đê Bác-nê-a cho đến Ga-da, cũng như toàn xứ Gô-sen cho đến Ghíp-ôn. <sup>42</sup> Ông Giô-suê đã giết tất cả các vua đó, và chiếm đất của chúng, chỉ trong một trận đánh, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, đã chiến đấu cho Ít-ra-en. <sup>43</sup> Ông Giô-suê và toàn thể Ít-ra-en trở về trại, ở Ghin-gan.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">8. Chinh Phục Miền Bắc Pa-Lét-Tin</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các vua miền bắc liên minh với nhau</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi nghe tin đó, Gia-vin, vua Kha-xo, sai người đến với Giô-váp, vua Ma-đôn, với Sim-rôn, vua Ác-sáp, <sup>2</sup> với các vua ở phía bắc trong miền núi và miền A-ra-va phía nam Kin-na-rốt, trong miền Sơ-phê-la và trên mạn ngược Ðo, ở phía tây, <sup>3</sup> với người Ca-na-an ở phía đông và phía tây, với người E-mô-ri, Khết, Pơ-rít-di, Giơ-vút trên miền núi và Khi-vi ở dưới chân Khéc-môn, trong xứ Mít-pa. <sup>4</sup> Chúng ra đi, chúng và tất cả các binh sĩ của chúng, một đám dân đông đảo, nhiều như cát ngoài bãi biển, cùng với vô số ngựa xe.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến thắng ở Mê-rôm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Tất cả các vua đó liên minh với nhau thành một khối, kéo nhau đến đóng trại gần bờ suối ở Mê-rôm, để giao chiến với Ít-ra-en. <sup>6</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: &#8220;Ðừng sợ chúng, vì ngày mai cũng vào giờ này, Ta sẽ nộp thây của tất cả bọn chúng cho Ít-ra-en; ngươi sẽ chặt nhượng chân ngựa và phóng hoả đốt chiến xa của chúng.&#8221; <sup>7</sup> Ông Giô-suê và mọi chiến sĩ bất thình lình ập tới gần chúng ở bờ suối Mê-rôm và xông vào đánh. <sup>8</sup> Ðức Chúa nộp chúng vào tay Ít-ra-en. Dân Ít-ra-en đánh chúng và đuổi theo chúng cho đến Xi-đôn Ðại đô, cho đến Mít-rơ-phốt Ma-gim, và cho đến thung lũng Mít-pê, ở phía đông, họ đánh chúng tới mức không để một mạng nào sống sót. <sup>9</sup> Ông Giô-suê xử với chúng như Ðức Chúa đã phán với ông: Ông đã chặt nhượng chân ngựa và phóng hoả đốt chiến xa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm Kha-xo và các thành khác ở phía bắc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Thuở ấy, ông Giô-suê trở về, chiếm Kha-xo và dùng gươm giết vua thành đó, vì trước kia Kha-xo là thủ đô của các vương quốc đó. <sup>11</sup> Họ dùng lưỡi gươm chém giết mọi sinh vật trong thành, tru hiến chúng; không còn một sinh vật nào sót lại; và ông đã phóng hoả đốt Kha-xo.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Giô-suê chiếm mọi thành của các vua đó và dùng lưỡi gươm chém giết tất cả các vua của những thành đó. Ông tru hiến chúng, như ông Mô-sê tôi trung của Ðức Chúa đã truyền.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nhưng Ít-ra-en không đốt thành nào xây dựng trên gò phế tích; chỉ có ông Giô-suê đốt Kha-xo mà thôi. <sup>14</sup> Con cái Ít-ra-en chiếm cho mình mọi chiến lợi phẩm của các thành ấy và thú vật; nhưng họ dùng lưỡi gươm chém giết mọi người, đến mức tiêu diệt hết, không để một sinh vật nào sống sót.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê thi hành mệnh lệnh của ông Mô-sê</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Những gì Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê, tôi trung của Người, thì ông Mô-sê truyền lại cho ông Giô-suê, và ông Giô-suê đã làm như vậy. Ông không bỏ sót một điều gì Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tổng kết về các cuộc chinh phục miền bắc</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Thế là ông Giô-suê đã chiếm toàn xứ đó: miền núi, tất cả miền Ne-ghép, tất cả đất Gô-sen, miền Sơ-phê-la, miền A-ra-va, miền núi Ít-ra-en và đồng bằng của miền đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Từ núi Trọc đi lên Xê-ia cho đến Ba-an Gát trong thung lũng Li-băng dưới chân núi Khéc-môn, ông bắt được các vua của chúng, cho đánh và giết chết. <sup>18</sup> Trong nhiều ngày, ông Giô-suê giao chiến với tất cả các vua đó. <sup>19</sup> Không một thành nào làm hoà với con cái Ít-ra-en, ngoại trừ người Khi-vi cư ngụ ở Ghíp-ôn. Nhờ chiến đấu, con cái Ít-ra-en đã lấy được mọi thành. <sup>20</sup> Quả thế, Ðức Chúa đã quyết định làm cho dân ấy cứng lòng mà nghênh chiến với Ít-ra-en, để Ít-ra-en tru hiến chúng, không ân xá cho chúng, và làm cho chúng phải bị tiêu diệt, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðánh đuổi người A-nác</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Thuở ấy, ông Giô-suê đến đánh đuổi người A-nác khỏi miền núi: Khép-rôn, Ðơ-via, A-náp, khỏi tất cả miền núi Giu-đa và Ít-ra-en. Ông Giô-suê tru hiến chúng và các thành của chúng. <sup>22</sup> Không còn sót lại một người A-nác nào nữa trong đất con cái Ít-ra-en, ngoại trừ ở Ga-da, Gát và Át-đốt. <sup>23</sup> Ông Giô-suê chiếm trọn đất ấy y như Ðức Chúa đã phán với ông Mô-sê. Ông Giô-suê đã ban đất ấy làm gia nghiệp cho Ít-ra-en, để các chi tộc chia nhau.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và xứ sở được sống yên hàn, hết nạn chiến tranh.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">9. Tổng Kết Về Cuộc Chiến Thắng</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Các Vua Ở Hai Bên Sông Gio-Ðan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các vua bại trận ở phía đông sông Gio-đan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là các vua trong xứ đã bị con cái Ít-ra-en đánh bại và chiếm đất, bên kia sông Gio-đan, phía mặt trời mọc, từ suối Ác-nôn đến núi Khéc-môn, và tất cả miền A-ra-va ở phía đông: <sup>2</sup> Xi-khôn, vua E-mô-ri, đóng đô tại Khét-bôn. Vua này cai trị vùng đất từ A-rô-e trên bờ suối Ác-nôn, kể cả lòng suối, một nửa Ga-la-át, cho đến suối Giáp-bốc, ranh giới của con cái Am-mon; <sup>3</sup> miền A-ra-va cho đến phía đông biển Kin-ne-rét, và cho đến phía đông biển A-ra-va, -tức là Biển Muối, theo hướng Bết Ha Giơ-si-mốt, nằm ở phía nam chân núi Pít-ga.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Rồi Ốc, vua Ba-san, một người còn sống sót của dân Ra-pha, đóng đô tại Át-ta-rốt và Ét-re-i. <sup>5</sup> Vua này cai trị miền núi Khéc-môn, Xan-kha và toàn miền Ba-san cho đến ranh giới của người Gơ-sua và Ma-a-kha, và một nửa Ga-la-át cho đến ranh giới của Xi-khôn, vua Khét-bôn. <sup>6</sup> Ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, và con cái Ít-ra-en đánh bại chúng. Ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã cho những người thuộc các chi tộc Rưu-vên, Gát và một nửa chi tộc Mơ-na-se được chiếm đất của chúng làm sở hữu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các vua bại trận ở phía tây sông Gio-đan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Và sau đây là các vua trong xứ đã bị ông Giô-suê và con cái Ít-ra-en đánh bại bên kia sông Gio-đan, ở phía tây, từ Ba-an Gát trong thung lũng Li-băng cho đến núi Trọc đứng trên đường đi Xê-ia, và ông Giô-suê đã cho các chi tộc Ít-ra-en được chiếm làm sở hữu để chia nhau: <sup>8</sup> trên miền núi, trong miền Sơ-phê-la, tại A-ra-va, ở các Sườn Núi, trong sa mạc vùng Ne-ghép, nơi các người Khết, E-mô-ri, Ca-na-an, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vua Giê-ri-khô, một; vua Ai, bên cạnh Bết Ên, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> vua Giê-ru-sa-lem, một; vua Khép-rôn, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> vua Giác-mút, một; vua La-khít, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> vua Éc-lon, một; vua Ghe-de, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> vua Ðơ-via, một; vua Ghe-đe, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> vua Khoóc-ma, một; vua A-rát, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> vua Líp-na, một; vua A-đu-lam, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> vua Mác-kê-đa, một; vua Bết Ên, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> vua Táp-pu-ác, một; vua Khê-phe, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> vua A-phếch, một; vua La-sa-rôn, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> vua Ma-đôn, một; vua Kha-xo, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> vua Sim-rôn Mơ-rôn, một; vua Ác-sáp, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> vua Ta-nác, một; vua Mơ-ghít-đô, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> vua Ke-đét, một; vua Gióc-nơ-am núi Các-men, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> vua Ðo ở mạn ngược Ðo, một; vua Gô-gim ở Ghin-gan, một,</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> vua Tia-xa, một; số tất cả các vua là ba mươi mốt.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">II. Phân Chia Ðất Ðai Cho Các Chi Tộc</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Mệnh Lệnh Của Thiên Chúa</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những vùng đất còn phải chiếm</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi ông Giô-suê về già, tuổi đã cao, Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ngươi đã già nua tuổi tác, mà đất đai còn phải chiếm thì lại quá nhiều. <sup>2</sup> Ðây là đất còn lại:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Mọi địa hạt người Phi-li-tinh, tất cả vùng dân Gơ-sua, <sup>3</sup> từ Si-kho đối diện với Ai-cập, cho đến ranh giới Éc-rôn ở phía bắc, cũng được coi là thuộc về Ca-na-an; vùng đất của năm thủ lãnh Phi-li-tinh: Ga-da, Át-đốt, Át-cơ-lôn, Gát và Éc-rôn; rồi vùng đất của người A-vim, <sup>4</sup> ở phía nam; trọn vùng đất người Ca-na-an và Mơ-a-ra của người Xi-đôn cho đến A-phếch, đến ranh giới của người E-mô-ri; <sup>5</sup> vùng đất của người Gơ-van và tất cả Li-băng phía mặt trời mọc, từ Ba-an Gát ở chân núi Khéc-môn cho đến lối vào Cửa Ải Kha-mát.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Tất cả dân miền núi từ Li-băng đến Mít-rơ-phốt Ma-gim, mọi người Xi-đôn, chính Ta sẽ xua đuổi chúng cho khuất mắt con cái Ít-ra-en. Ngươi chỉ có việc cho Ít-ra-en bắt thăm để được đất làm gia nghiệp như Ta đã truyền cho ngươi. <sup>7</sup> Và bây giờ, ngươi hãy chia đất này làm gia nghiệp cho chín chi tộc và nửa chi tộc Mơ-na-se.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Các Chi Tộc Bên Kia Sông Gio-Ðan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nhìn tổng quát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Cùng với nửa chi tộc Mơ-na-se còn lại, chi tộc Rưu-vên và chi tộc Gát đã nhận phần gia nghiệp mà ông Mô-sê đã ban cho họ bên kia sông Gio-đan, phía đông, như ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã ban cho họ: <sup>9</sup> từ A-rô-e trên bờ suối Ác-nôn và thành nằm giữa thung lũng, toàn vùng cao nguyên Mê-đơ-va cho đến Ði-vôn; <sup>10</sup> mọi thành của Xi-khôn, vua dân E-mô-ri, trị vì ở Khét-bôn, cho đến ranh giới của con cái Am-mon, <sup>11</sup> Ga-la-át và lãnh thổ của người Gơ-sua và người Ma-a-kha, tất cả núi Khéc-môn và toàn miền Ba-san cho đến Xan-kha; <sup>12</sup> ở Ba-san, tất cả vương quốc của Ốc, là vua trị vì ở Át-ta-rốt và Ét-re-i, và là người còn sống sót của dân Ra-pha. Ông Mô-sê đã đánh bại và xua đuổi chúng đi. <sup>13</sup> Nhưng con cái Ít-ra-en không xua đuổi được người Gơ-sua và người Ma-a-kha, khiến chúng còn sinh sống giữa Ít-ra-en cho đến ngày nay. <sup>14</sup> Chỉ có chi tộc Lê-vi là không được nhận phần gia nghiệp: các hoả tế dâng Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, là gia nghiệp của chi tộc đó, như lời Người đã phán với họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Rưu-vên</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông Mô-sê đã ban một phần đất cho chi tộc con cái ông Rưu-vên, theo các thị tộc của họ. <sup>16</sup> Lãnh thổ của họ trải rộng từ A-rô-e, trên bờ suối Ác-nôn, với thành nằm giữa thung lũng, cũng như toàn vùng cao nguyên, cho đến Mê-đơ-va, <sup>17</sup> Khét-bôn và mọi thành vùng cao nguyên: Ði-vôn, Ba-mốt Ba-an, Bết Ba-an Mơ-ôn, <sup>18</sup> Gia-hát, Cơ-đê-mốt, Mê-pha-át, <sup>19</sup> Kia-gia-tha-gim, Xíp-ma, Xe-rét Ha-sa-kha trên ngọn đồi nằm giữa đồng bằng, <sup>20</sup> Bết Pơ-o, các sườn núi Pít-ga, Bết Ha Giơ-si-mốt, <sup>21</sup> mọi thành vùng cao nguyên và toàn vương quốc của Xi-khôn, vua E-mô-ri, đang trị vì ở Khét-bôn. Ông Mô-sê đã đánh bại vua này, cũng như các thủ lãnh Ma-đi-an, E-vi, Re-kem, Xua, Khua và Re-va, là các chư hầu của Xi-khôn ở trong vùng đất đó. <sup>22</sup> Còn thầy bói Bi-lơ-am, con ông Bơ-o, thì con cái Ít-ra-en đã lấy gươm giết chết, cùng một lượt với những người bại trận. <sup>23</sup> Vậy lãnh thổ con cái ông Rưu-vên là sông Gio-đan và vùng phụ cận. Các thành và làng mạc của những thành ấy là gia nghiệp con cái ông Rưu-vên theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Gát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ông Mô-sê đã ban một phần đất cho chi tộc Gát, cho con cái ông Gát, theo các thị tộc của họ. <sup>25</sup> Lãnh thổ của họ gồm có: Gia-de và tất cả các thành miền Ga-la-át, nửa phần đất của con cái Am-mon cho đến A-rô-e, đối diện với Ráp-ba, <sup>26</sup> từ Khét-bôn cho đến Ra-mát Ha Mít-pê và Bơ-tô-nim, từ Ma-kha-na-gim cho đến lãnh thổ Lít-via, <sup>27</sup> và các thành trong thung lũng: Bết Ha-ram, Bết Nim-ra, Xúc-cốt, Xa-phôn, phần còn lại thuộc vương quốc của Xi-khôn, vua Khét-bôn, lấy sông Gio-đan làm ranh giới cho đến hết biển hồ Kin-ne-rét, bên kia sông Gio-đan, về phía đông. <sup>28</sup> Các thành và làng mạc của những thành ấy là gia nghiệp con cái ông Gát, theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nửa chi tộc Mơ-na-se</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ông Mô-sê đã ban một phần đất cho nửa chi tộc Mơ-na-se; đó là phần dành cho nửa chi tộc Mơ-na-se, theo các thị tộc của họ. <sup>30</sup> Lãnh thổ của họ gồm có: từ Ma-kha-na-gim, toàn miền Ba-san, toàn vương quốc của Ốc, vua Ba-san, mọi trại của Gia-ia ở miền Ba-san, tức là sáu mươi thành. <sup>31</sup> Nửa miền Ga-la-át, Át-ta-rốt và Ét-re-i, những thành trong vương quốc của vua Ốc ở Ba-san; các thành ấy là phần của con cái ông Ma-khia, con ông Mơ-na-se, thực ra là một nửa số con cái ông Ma-khia, theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ðó là phần ông Mô-sê ban làm gia nghiệp, trong vùng thảo nguyên Mô-áp, bên kia sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, về phía đông. <sup>33</sup> Nhưng ông Mô-sê không cho chi tộc Lê-vi được hưởng gia nghiệp. Chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, là gia nghiệp của họ, như lời Người đã phán với họ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Ba Chi Tộc Lớn Ở Phía Tây Sông Gio-Ðan</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nhập đề</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là phần gia nghiệp con cái Ít-ra-en đã lãnh nhận ở xứ Ca-na-an, phần gia nghiệp mà tư tế E-la-da, ông Giô-suê con ông Nun, và những người đứng đầu gia tộc của các chi tộc con cái Ít-ra-en, đã chia cho họ. <sup>2</sup> Chín chi tộc và một nửa chi tộc đã bắt thăm và lãnh được gia nghiệp, theo mệnh lệnh của Ðức Chúa, qua trung gian của ông Mô-sê. <sup>3</sup> Thật vậy, ông Mô-sê đã ban gia nghiệp cho hai chi tộc và một nửa chi tộc ở bên kia sông Gio-đan; nhưng ông đã không ban cho các người Lê-vi phần gia nghiệp giữa các chi tộc. <sup>4</sup> Ðó là vì con cái ông Giu-se chia làm hai chi tộc: Mơ-na-se và Ép-ra-im; còn các người Lê-vi thì không nhận được vùng đất trong xứ, ngoại trừ các thành để ở, cùng với đồng cỏ cho súc vật và của cải thuộc về họ. <sup>5</sup> Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê thế nào, thì con cái Ít-ra-en làm như vậy: họ đã phân chia đất đai.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần đất của ông Ca-lếp</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Con cái ông Giu-đa đến gần ông Giô-suê ở Ghin-gan. Ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, người Cơ-nát, nói với ông: &#8220;Ông biết lời Ðức Chúa đã phán với ông Mô-sê, người của Thiên Chúa, về tôi và về ông ở Ca-đê Bác-nê-a. <sup>7</sup> Tôi được bốn mươi tuổi khi ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, từ Ca-đê Bác-nê-a, sai tôi đi do thám xứ này, và tôi đã thật lòng báo cáo cho ông ấy. <sup>8</sup> Những người anh em cùng lên với tôi đã làm cho tâm thần của dân sợ hãi như muốn chảy tan ra. Nhưng tôi đã trọn tình trọn nghĩa với Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi. <sup>9</sup> Ngày ấy, ông Mô-sê đã thề rằng: &#8220;Ðất mà chân anh dẫm lên chắc chắn sẽ trở thành gia nghiệp của anh, của con cái anh cho đến muôn đời, vì anh đã trọn tình trọn nghĩa với Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi. <sup>10</sup> Và bây giờ, này Ðức Chúa đã để tôi sống như lời Người đã phán cách đây bốn mươi lăm năm, kể từ khi Ðức Chúa nói lời đó với ông Mô-sê, thuở Ít-ra-en còn đi trong sa mạc. Bây giờ, hôm nay đây tôi đã được tám mươi lăm tuổi. <sup>11</sup> Ngày hôm nay, tôi vẫn còn khoẻ như ngày ông Mô-sê sai tôi đi. Sức lực tôi xưa thế nào, bây giờ cũng vậy, để chiến đấu hay đi lại hoạt động. <sup>12</sup> Vậy giờ đây, xin cho tôi núi này, núi Ðức Chúa đã nói đến trong ngày ấy, vì ông đã nghe nói trong ngày ấy, là ở đấy có người A-nác và những thành trì kiên cố lớn lao. Nếu Ðức Chúa ở với tôi, tôi sẽ xua đuổi chúng, như Ðức Chúa đã phán.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Giô-suê chúc phúc cho ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, và tặng Khép-rôn cho ông làm gia nghiệp cho đến ngày nay. <sup>14</sup> Vì thế, Khép-rôn đã thành gia nghiệp của ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, người Cơ-nát, vì ông đã trọn tình trọn nghĩa với Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ngày trước, tên của Khép-rôn là Kia-giát Ác-ba. Ác-ba là người cao lớn nhất trong dân A-nác.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và xứ sở được sống yên hàn, hết nạn chiến tranh.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Giu-đa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Phần chi tộc con cái Giu-đa bắt thăm được, để chia cho các thị tộc của họ, nằm ở vùng giáp giới Ê-đôm trong sa mạc Xin, về phía nam, mãi tận cùng phía nam. <sup>2</sup> Ranh giới phía nam khởi sự từ cuối Biển Muối, chỗ biển ăn sâu vào phía nam, <sup>3</sup> đi về phía nam dốc Ác-ráp-bim, băng qua Xin, trở lên phía nam Ca-đê Bác-nê-a, rồi đi qua Khét-rôn, lên Át-đa và quay sang Các-ca, <sup>4</sup> sau đó băng qua Át-môn, tới Suối Ai-cập, và dừng lại ở biển. &#8220;Ðó sẽ là ranh giới phía nam của các ngươi.&#8221; <sup>5</sup> Ranh giới phía đông là Biển Muối cho đến cửa sông Gio-đan. Ranh giới phía bắc bắt đầu từ chỗ Biển Muối tiếp giáp với cửa sông Gio-đan, <sup>6</sup> đi lên Bết Khoóc-la, băng qua phía bắc Bết Ha A-ra-va, rồi lại đi lên tảng đá Bô-han, Bô-han là con ông Rưu-vên, <sup>7</sup> rồi đi lên Ðơ-via, từ cánh đồng A-kho, và ở phía bắc quay về Ghin-gan đối diện với dốc A-đum-mim nằm ở phía nam Suối, sau đó qua vùng nước Ên Se-mét, và đi tới Ên Rô-ghên, <sup>8</sup> kế đó lại đi lên thung lũng Ben Hin-nôm cho tới sườn đồi phía nam Giơ-vút, tức là Giê-ru-sa-lem. Ranh giới đó lên tận đỉnh núi đối diện với thung lũng Hin-nôm về phía tây, ở cực bắc cánh đồng Ra-pha, <sup>9</sup> sau đó, từ đỉnh núi, lượn về phía mạch nước Nép-tô-ác và đi về các thành vùng núi Ép-rôn, rồi lượn về phía Ba-a-la, tức là Kia-giát Giơ-a-rim. <sup>10</sup> Từ Ba-a-la, ranh giới đó quay sang phía tây đến núi Xê-ia, đi dọc theo sườn núi Giơ-a-rim phía bắc, tức là Cơ-xa-lôn, xuống tới Bết Se-mét và băng qua Tim-na, <sup>11</sup> rồi đi về sườn núi Éc-rôn phía bắc, sau đó lượn về phía Sích-ca-rôn, băng qua núi Ba-a-la, đến tận Giáp-nơ-ên và dừng lại ở biển.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ranh giới phía tây là Biển Lớn và miền duyên hải. Ðó là ranh giới chung quanh phần đất con cái Giu-đa, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con cái ông Ca-lếp chiếm đất Khép-rôn</strong> (Tl 1 :10 -15)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người ta chia cho ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne một phần đất ở giữa con cái ông Giu-đa, theo mệnh lệnh Ðức Chúa ban cho ông Giô-suê: Kia-giát Ác-ba, tức là Khép-rôn, &#8211; Ác-ba là cha ông A-nác. <sup>14</sup> Ông Ca-lếp đã đuổi ra khỏi đó ba người con của ông A-nác: Sê-sai, A-khi-man và Tan-mai là con cháu ông A-nác. <sup>15</sup> Từ đó, ông lên đánh dân cư thành Ðơ-via. Tên của Ðơ-via trước kia là Kia-giát Xê-phe. <sup>16</sup> Ông Ca-lếp nói: &#8220;Ai đánh và chiếm được Kia-giát Xê-phe, thì tôi sẽ gả Ác-xa con gái tôi cho người ấy.&#8221; <sup>17</sup> Ót-ni-ên con ông Cơ-nát em ông Ca-lếp, đã chiếm được thành, và ông Ca-lếp đã gả Ác-xa con gái mình cho Ót-ni-ên. <sup>18</sup> Khi cô ta đến, Ót-ni-ên liền xúi cô xin cha một thửa ruộng. Cô xuống lừa, và ông Ca-lếp hỏi cô: &#8220;Chuyện gì thế con?&#8221; <sup>19</sup> Cô thưa: &#8220;Xin cha cho con một món quà. Vì cha đã cho con đất Ne-ghép, thì xin cũng cho con cả suối nước nữa.&#8221; Và ông đã cho cô suối trên suối dưới.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðó là gia nghiệp của chi tộc con cái ông Giu-đa, theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Danh sách các thành của chi tộc Giu-đa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Các thành ở cuối phần đất của chi tộc con cái Giu-đa, ở vùng giáp giới Ê-đôm trong miền Ne-ghép, là:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ki-na, Ði-mô-na, Át-a-đa, <sup>23</sup> Ke-đét, Kha-xo, Gít-nan, <sup>24</sup> Díp, Te-lem, Bơ-a-lốt, <sup>25</sup> Kha-xo Kha-đát-ta, Cơ-ri-giốt, Khét-rôn tức là Kha-xo, <sup>26</sup> A-mam, Sơ-ma, Mô-la-đa, <sup>27</sup> Khát-xa Gát-đa, Khét-môn, Bết Pe-lét, <sup>28</sup> Khát-xa Su-an, Bơ-e Se-va, Bít-giốt-gia, <sup>29</sup> Ba-a-la, I-gim, E-xem, <sup>30</sup> En-tô-lát, Cơ-xin, Khoóc-ma, <sup>31</sup> Xích-lắc, Mát-man-na, Xan-xan-na, <sup>32</sup> Lơ-va-ốt, Sin-khim, A-gin, và Rim-môn: đó là hai mươi chín thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Trong vùng Sơ-phê-la, thì có:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Da-nô-ác, Ên Gan-nim, Táp-pu-ác, Ha Ê-nam, <sup>35</sup> Giác-mút, A-đu-lam, Xô-khô, A-dê-ca, <sup>36</sup> Sa-a-ra-gim, A-đi-tha-gim, Ha Gơ-đê-ra và Gơ-đê-rô-tha-gim: đó là mười bốn thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Xơ-nan, Kha-đa-xa, Mích-đan Gát, <sup>38</sup> Ði-lơ-an, Ha Mít-pê, Gióc-thơ-ên, <sup>39</sup> La-khít, Bót-cát, Éc-lon, <sup>40</sup> Cáp-bôn, Lác-mát, Kít-lít, <sup>41</sup> Gơ-đê-rốt, Bết Ða-gôn, Na-a-ma, Mác-kê-đa: đó là mười sáu thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Líp-na, E-the, A-san, <sup>43</sup> Gíp-tác, Át-na, Nơ-xíp, <sup>44</sup> Cơ-i-la, Ác-díp, Ma-rê-sa: đó là chín thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> Éc-rôn với các thành phụ thuộc và làng mạc của các thành ấy, <sup>46</sup> từ Éc-rôn cho đến biển, tất cả những vùng bên cạnh Át-đốt và các làng mạc; <sup>47</sup> Át-đốt, các thành phụ thuộc và làng mạc của thành đó; Ga-da, các thành phụ thuộc và làng mạc của thành đó, cho đến Suối Ai-cập, Biển Lớn làm ranh giới.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Trong vùng núi thì có:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Ðan-na, Kia-giát Xan-na, tức là Ðơ-via, <sup>50</sup> A-náp, Ét-tơ-mô-a, A-nim, <sup>51</sup> Gô-sen, Khô-lôn và Ghi-lô: đó là mười một thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> A-ráp, Ðu-ma, Ét-an, <sup>53</sup> Gia-num, Bết Táp-pu-ác, A-phê-ca, <sup>54</sup> Khum-ta, Kia-giát Ác-ba, tức là Khép-rôn, Xi-o: đó là chín thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>55</sup> Ma-ôn, Các-men, Díp, Giút-ta, <sup>56</sup> Gít-rơ-en, Gióc-đơ-am, Da-nô-ác, <sup>57</sup> Ha-ca-gin, Ghíp-a và Tim-na: đó là mười thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>58</sup> Khan-khun, Bết Xua, Gơ-đo, <sup>59</sup> Ma-a-rát, Bết A-nốt và En-tơ-côn: đó là sáu thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Tơ-cô-a, Ép-ra-tha tức là Bê-lem, Pơ-o, Ê-tham, Cu-lon, Ta-tam, Xo-rét, Ke-rem, Ga-lim, Be-the và Ma-na: đó là mười một thành và làng mạc của các thành ấy.)</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>60</sup> Kia-giát Ba-an tức là Kia-giát Giơ-a-rim, Ha Ráp-ba: đó là hai thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>61</sup> Trong sa mạc thì có:</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Bết Ha A-ra-va, Mít-đin, Xơ-kha-kha, <sup>62</sup> Níp-san, Thành Muối và Ên Ghe-đi: đó là sáu thành và làng mạc của các thành ấy.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>63</sup> Nhưng con cái ông Giu-đa đã không thể xua đuổi được người Giơ-vút ở tại Giê-ru-sa-lem. Người Giơ-vút ở với con cái ông Giu-đa, tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con cái ông Giu-se</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Phần con cái ông Giu-se bắt thăm được khởi đầu từ sông Gio-đan đối diện với Giê-ri-khô, đến vùng nước Giê-ri-khô, về phía đông, băng qua sa mạc từ Giê-ri-khô lên đến núi Bết Ên, <sup>2</sup> rồi từ Bết Ên, tới Lút và đi về phía ranh giới của người Ác-ki ở A-ta-rốt, <sup>3</sup> sau đó xuống phía tây, hướng tới ranh giới của người Giáp-lết, cho đến ranh giới Bết Khô-rôn Hạ và đến Ghe-de, rồi dừng lại ở biển. <sup>4</sup> Ðó là gia nghiệp của hai con ông Giu-se là Mơ-na-se và Ép-ra-im.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Ép-ra-im</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ranh giới con cái Ép-ra-im theo các thị tộc của họ, ranh giới phần gia nghiệp của họ phía đông là từ Át-rốt Át-đa cho đến Bết Khô-rôn Thượng. <sup>6</sup> Ranh giới đó đi tới biển, phía bắc có Mích-mơ-thát, phía đông hướng về Ta-a-nát Si-lô, rồi băng qua đó, đi về phía đông Gia-nô-ác. <sup>7</sup> Từ Gia-nô-ác, ranh giới đó đi xuống A-ta-rốt và Na-a-ra, gặp Giê-ri-khô, và đi tới sông Gio-đan. <sup>8</sup> Từ Táp-pu-ác, ranh giới đó tiến về suối Ca-na ở mạn tây, rồi dừng lại ở biển. Ðó là gia nghiệp của chi tộc con cái Ép-ra-im, theo các thị tộc của họ, <sup>9</sup> ngoài ra còn có những thành dành cho con cái Ép-ra-im nằm giữa gia nghiệp con cái Mơ-na-se: tất cả những thành và làng mạc của các thành ấy. <sup>10</sup> Nhưng họ đã không xua đuổi được người Ca-na-an ở tại Ghe-de. Người Ca-na-an ở lại giữa Ép-ra-im cho đến ngày nay, nhưng phải lo làm việc khổ sai.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Mơ-na-se</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vì ông Mơ-na-se là con đầu lòng ông Giu-se nên phần chi tộc Mơ-na-se bắt thăm được thì thuộc về ông Ma-khia, con đầu lòng ông Mơ-na-se, và là cha ông Ga-la-át; vì là một chiến sĩ, ông đã nhận được miền Ga-la-át và Ba-san. <sup>2</sup> Rồi đến phần các con khác của ông Mơ-na-se, chia theo các thị tộc của họ: con cái ông A-vi-e-de, con cái ông Khê-léc, con cái ông Át-ri-ên, con cái ông Se-khem, con cái ông Khê-phe, con cái ông Sơ-mi-đa. Ðó là các con trai, con cái ông Mơ-na-se, cháu ông Giu-se, theo các thị tộc của họ. <sup>3</sup> Ông Xơ-lóp-khát, con ông Khê-phe, cháu ông Ga-la-át, chắt ông Ma-khia, chít ông Mơ-na-se, không có con trai mà chỉ có con gái, đây là tên các cô: Mác-la, Nô-a, Khoóc-la, Min-ca và Tia-xa. <sup>4</sup> Các cô đến gặp tư tế E-la-da, ông Giô-suê, con ông Nun, và đến gặp các thủ lãnh, rồi thưa: &#8220;Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê phải cho chúng tôi một phần gia nghiệp ở giữa anh em chúng tôi.&#8221; Theo mệnh lệnh của Ðức Chúa, người ta trao cho các cô một phần gia nghiệp ở giữa các anh em của cha các cô. <sup>5</sup> Vậy ông Mơ-na-se bắt trúng thăm, nhận được mười phần đất, không kể miền Ga-la-át và Ba-san ở bên kia sông Gio-đan. <sup>6</sup> Thật thế, các con gái thuộc chi tộc Mơ-na-se nhận được một phần gia nghiệp ở giữa các con trai trong chi tộc. Còn miền Ga-la-át thì thuộc về những con trai khác trong chi tộc Mơ-na-se.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ranh giới của chi tộc Mơ-na-se, giáp giới phần đất A-se, bắt đầu từ Mích-mơ-thát đối diện với Si-khem, rồi đi về phía nam tới chỗ dân Ên Táp-pu-ác ở. <sup>8</sup> Xứ Táp-pu-ác thuộc về Mơ-na-se, nhưng thành Táp-pu-ác nằm ở ranh giới Mơ-na-se thì thuộc về con cái Ép-ra-im. <sup>9</sup> Sau đó, ranh giới ấy đi xuống phía suối Ca-na; phía nam suối có những thành thuộc về Ép-ra-im, các thành này nằm giữa các thành của Mơ-na-se. Ranh giới của Mơ-na-se thì ở phía bắc suối và dừng lại ở biển. <sup>10</sup> Phía nam thuộc về Ép-ra-im; còn phía bắc thuộc về Mơ-na-se có biển làm ranh giới, bắc giáp A-se và đông giáp Ít-xa-kha. <sup>11</sup> Trong phần đất của Ít-xa-kha và A-se, chi tộc Mơ-na-se còn có Bết San và các thành phụ thuộc, Gíp-lơ-am và các thành phụ thuộc; chi tộc đó cũng có các dân cư thành Ðo và các thành phụ thuộc, các dân cư thành Ên Ðo và các thành phụ thuộc, các dân cư thành Ta-nác và các thành phụ thuộc, các dân cư thành Mơ-ghít-đô và các thành phụ thuộc, và một phần ba thành Ne-phét. <sup>12</sup> Nhưng con cái ông Mơ-na-se đã không thể chiếm được các thành đó, và người Ca-na-an quyết ở lại trong xứ. <sup>13</sup> Tuy nhiên, khi trở nên hùng mạnh, con cái Ít-ra-en bắt người Ca-na-an phải lo làm việc khổ sai, nhưng không thể đuổi chúng đi được.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con cái ông Giu-se khiếu nại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Con cái ông Giu-se nói với ông Giô-suê: &#8220;Tại sao ông cho (chúng) tôi chỉ được bắt thăm có một lần, chỉ được một phần đất làm gia nghiệp, trong khi (chúng) tôi là một dân đông đảo? Cho đến bây giờ, Ðức Chúa vẫn ban phúc lành cho (chúng) tôi.&#8221;<sup>15</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Nếu anh (em) là một dân đông đảo, thì hãy lên rừng, và tại đó, đốn cây mà ở trong xứ người Pơ-rít-di và Ra-pha, vì núi Ép-ra-im quá nhỏ đối với anh (em).&#8221; <sup>16</sup> Con cái ông Giu-se nói: &#8220;Ở núi không có đủ chỗ cho chúng tôi; vả lại, mọi người Ca-na-an ở đồng bằng, cũng như người Ca-na-an ở Bết San và ở các thành phụ thuộc, và người Ca-na-an ở cánh đồng Gít-rơ-en đều có xe sắt.&#8221; <sup>17</sup> Ông Giô-suê nói với nhà Giu-se, với Ép-ra-im và Mơ-na-se: &#8220;Anh em là một dân đông đảo và hùng mạnh. Anh (em) không chỉ bắt thăm được một phần đất mà thôi. <sup>18</sup> Anh (em) sẽ nhận được một ngọn núi, đó là một khu rừng và anh (em) sẽ đốn cây đi; anh (em) sẽ kiểm soát được các lối ra vào, bởi vì anh (em) sẽ đuổi người Ca-na-an đi, mặc dầu chúng có xe (sắt) và mạnh mẽ.</span></p>
<p align="justify"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;"> Chương 18 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Bảy Chi Tộc Khác</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chia đất cho bảy chi tộc khác</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en tụ họp ở Si-lô, nơi họ đặt Lều Hội Ngộ. Xứ sở phải khuất phục họ. <sup>2</sup> Trong số con cái Ít-ra-en, chỉ còn bảy chi tộc chưa nhận phần gia nghiệp của họ. <sup>3</sup> Ông Giô-suê nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Cho đến bao giờ anh em còn lơ là không đi chiếm xứ mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, đã ban cho anh em? <sup>4</sup> Anh em hãy chỉ định ba người trong mỗi chi tộc. Tôi sẽ sai họ đi, họ sẽ lên đường rảo khắp xứ và phác hoạ địa hình để chia phần gia nghiệp, rồi trở lại với tôi. <sup>5</sup> Họ sẽ phân chia xứ sở làm bảy vùng đất. Giu-đa sẽ ở lại trong lãnh thổ của mình ở phía nam, còn nhà Giu-se sẽ ở lại trong lãnh thổ của mình ở phía bắc. <sup>6</sup> Anh em sẽ phác hoạ địa hình xứ sở đã chia làm bảy vùng đất, rồi đem lại đây cho tôi. Chính tại đây, tôi sẽ cho anh em bắt thăm trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta. <sup>7</sup> Các người thuộc chi tộc Lê-vi sẽ không có phần ở giữa anh em, vì chức tư tế Ðức Chúa ban cho họ làm phần gia nghiệp của họ. Còn Gát và Rưu-vên và nửa chi tộc Mơ-na-se thì đã nhận phần gia nghiệp của họ ở bên kia sông Gio-đan, bên phía đông, phần gia nghiệp mà ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã cho họ.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Những người đó trỗi dậy và đi. Ông Giô-suê đã truyền cho những người đi phác hoạ địa hình của xứ và nói: &#8220;Anh em hãy đi rảo khắp xứ và phác hoạ địa hình, rồi trở lại với tôi. Chính tại đây tôi sẽ cho anh em bắt thăm trước nhan Ðức Chúa, tại Si-lô.&#8221; <sup>9</sup> Những người ấy đi khắp nơi trong xứ, phác hoạ địa hình, phân chia các thành trong xứ làm bảy vùng đất và ghi vào sổ, rồi trở về với ông Giô-suê ở trại Si-lô. <sup>10</sup> Ông Giô-suê cho họ bắt thăm tại Si-lô, trước nhan Ðức Chúa, và ở đó ông Giô-suê chia đất đai cho con cái Ít-ra-en, theo các phần đã phân phối.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Ben-gia-min</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Trước hết, chi tộc con cái Ben-gia-min, theo các thị tộc của họ, bắt thăm được một phần đất. Phần đất họ bắt thăm được nằm giữa phần đất con cái Giu-đa và con cái Giu-se. <sup>12</sup> Ranh giới phía bắc khởi đầu từ sông Gio-đan, đi lên sườn phía bắc Giê-ri-khô, rồi lên núi về phía tây và dừng lại ở sa mạc Bết A-ven. <sup>13</sup> Từ đó, ranh giới ấy đi về phía Lút, ở sườn phía nam, tức là Bết Ên, rồi xuống Át-rốt Át-đa, trên ngọn núi ở phía nam Bết Khô-rôn Hạ. <sup>14</sup> Sau đó, ranh giới lượn vòng và quay sang phía tây, hướng về phía nam từ núi đối diện với Bết Khô-rôn ở phía nam, rồi dừng lại ở Kia-giát Ba-an, tức là Kia-giát Giơ-a-rim, thành của con cái Giu-đa. Ðó là phía tây. <sup>15</sup> Về phía nam, từ tận cùng Kia-giát Giơ-a-rim, ranh giới tiến về phía tây, tới mạch nước Nép-tô-ác. <sup>16</sup> Ranh giới đi xuống cho đến hết ngọn núi đối diện với thung lũng Ben Hin-nôm nằm trong cánh đồng Ra-pha ở phía bắc, rồi đi xuống thung lũng Hin-nôm, bên sườn Giơ-vút ở phía nam, và đi xuống Ên Rô-ghên. <sup>17</sup> Sau đó, ranh giới lượn về phía bắc và tới Ên Se-mét, rồi tiến về Gơ-li-lót đối điện với dốc A-đum-mim, đi xuống tảng đá Bô-han, Bô-han là con ông Rưu-vên. <sup>18</sup> Ranh giới lại đi qua sườn phía bắc đối diện với A-ra-va và đi xuống A-ra-va. <sup>19</sup> Rồi ranh giới đi qua sườn bắc Bết Khoóc-la, dừng lại ở chỗ Biển Muối về phía bắc tiếp giáp với cửa sông Gio-đan về phía nam. Ðó là ranh giới phía nam. <sup>20</sup> Sông Gio-đan làm thành ranh giới phía đông. Ðó là phần gia nghiệp của con cái Ben-gia-min với ranh giới chung quanh, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thành của chi tộc Ben-gia-min</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Các thành của chi tộc con cái Ben-gia-min, theo các thị tộc của họ, là như sau: Giê-ri-khô, Bết Khoóc-la, Ê-méc Cơ-xít, <sup>22</sup> Bết Ha A-ra-va, Xơ-ma-ra-gim, <sup>23</sup> Bết Ên A-vim, Pa-ra, Óp-ra, <sup>24</sup> Cơ-pha Ha Am-mô-ni, Óp-ni, Ghe-va, &#8211; đó là mười hai thành và làng mạc của các thành ấy &#8211; <sup>25</sup> Ghíp-ôn, Ra-ma, Bơ-ê-rốt, <sup>26</sup> Ha Mít-pê, Cơ-phi-ra, Mốt-xa, <sup>27</sup> Re-kem, Giếc-pơ-ên, Ta-ra-la, <sup>28</sup> Xê-la Ha-e-lép, Giơ-vút, tức là Giê-ru-sa-lem, Ghíp-át, Kia-giát &#8211; đó là mười bốn thành và làng mạc của các thành ấy -. Ðó là phần gia nghiệp của con cái Ben-gia-min, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Si-mê-ôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Si-mê-ôn và chi tộc con cái Si-mê-ôn, tính theo các thị tộc của họ, bắt thăm được phần thứ hai; phần gia nghiệp của họ nằm giữa phần gia nghiệp con cái Giu-đa. <sup>2</sup> Phần gia nghiệp của họ gồm có: Bơ-e Se-va, Se-va, Mô-la-đa, <sup>3</sup> Khát-xa Su-an, Ba-la, E-xem, <sup>4</sup> En-tô-lát, Bơ-thun, Khoóc-ma, <sup>5</sup> Xích-lắc, Bết Ha Mác-ca-vốt, Kha-xa Xu-xa, <sup>6</sup> Bết Lơ-va-ốt, Sa-ru-khen, &#8211; đó là mười ba thành và làng mạc của các thành ấy -, <sup>7</sup> A-gin, Rim-môn, E-the, A-san, &#8211; đó là bốn thành và làng mạc của các thành ấy -, <sup>8</sup> Cũng như mọi làng mạc chung quanh các thành đó cho đến Ba-a-lát Bơ-e và Ra-mát Ne-ghép. Ðó là phần gia nghiệp của chi tộc con cái Si-mê-ôn, chia theo các thị tộc của họ. <sup>9</sup> Phần gia nghiệp của con cái Si-mê-ôn lấy từ phần đất của con cái Giu-đa, vì vùng đất này quá lớn đối với con cái Giu-đa, nên con cái Si-mê-ôn nhận phần gia nghiệp ngay giữa gia nghiệp của con cái Giu-đa.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Dơ-vu-lun</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con cái Dơ-vu-lun, theo các thị tộc của họ, bắt thăm được phần đất thứ ba. Ranh giới phần gia nghiệp của họ đi đến tận Xa-rít, <sup>11</sup> đi lên về phía tây, theo hướng Mác-a-la, gặp Ðáp-be-sét, rồi gặp suối đối diện với Gióc-nơ-am. <sup>12</sup> Từ Xa-rít, ranh giới đó trở về hướng đông, phía mặt trời mọc, cho đến ranh giới Kít-lốt Ta-bo, tiến về Ða-vơ-rát và lên Gia-phia. <sup>13</sup> Từ đó, ranh giới qua hướng đông, phía mặt trời mọc, ở Gát Khê-phe, ở Ít-ta Ca-xin, đi tới Rim-môn và lượn về Nê-a. <sup>14</sup> Rồi ranh giới quay sang phía bắc Khan-na-thôn và dừng lại ở thung lũng Gíp-tác Ên. <sup>15</sup> Ngoài ra, còn có Cát-tát, Na-ha-lan, Sim-rôn, Gít-a-la và Bê-lem: đó là mười hai thành và làng mạc của các thành ấy. <sup>16</sup> Các thành ấy và làng mạc của các thành ấy là phần gia nghiệp của con cái Dơ-vu-lun, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Ít-xa-kha</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Ít-xa-kha và con cái ông, theo các thị tộc của họ bắt thăm được phần đất thứ tư. <sup>18</sup> Lãnh thổ của họ gồm có: Gít-rơ-en, Cơ-xu-lốt, Su-nêm, <sup>19</sup> Kha-pha-ra-gim, Si-ôn, A-na-kha-rát, <sup>20</sup> Ha Ráp-bít, Kít-giôn, E-vét, <sup>21</sup> Re-mét, Ên Gan-nim, Ên Khát-đa, Bết Pát-xết. <sup>22</sup> Ranh giới gặp Ta-bo, Sa-kha-xi-ma và Bết Se-mét, rồi dừng lại ở sông Gio-đan: đó là mười sáu thành và làng mạc của các thành ấy. <sup>23</sup> Các thành ấy và làng mạc của các thành ấy là phần gia nghiệp của chi tộc con cái Ít-xa-kha, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc A-se</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Chi tộc con cái A-se, theo các thị tộc của họ, bắt thăm được phần đất thứ năm. <sup>25</sup> Lãnh thổ của họ gồm có: Khen-cát, Kha-li, Be-ten, Ác-sáp, <sup>26</sup> A-lam-me-léc, Am-át, Mi-sơ-an. Ranh giới đó gặp Các-men về phía tây và gặp Si-kho Líp-nát, <sup>27</sup> rồi lui về phía mặt trời mọc đến Bết Ða-gôn, gặp phần đất của Dơ-vu-lun và thung lũng Gíp-tác Ên ở phía bắc, Bết Ha Ê-méc và Nơ-i-ên; ranh giới đó tiến về Ca-vun ở phía trái, <sup>28</sup> tới Ép-rôn, Rơ-khốp, Kham-môn, Ca-na, cho đến Xi-đôn Ðại Ðô. <sup>29</sup> Rồi ranh giới đó quay về Ra-ma, cho đến Tia, một thành luỹ kiên cố, sau đó lại quay về Khô-xa và dừng lại ở Biển, ở Mê-khe-ven, Ác-díp, <sup>30</sup> Um-ma, A-phếch và Rơ-khốp: đó là hai mươi thành và các làng mạc của các thành ấy. <sup>31</sup> Các thành ấy và làng mạc của các thành ấy là phần gia nghiệp của chi tộc con cái A-se, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Náp-ta-li</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Con cái Náp-ta-li, theo các thị tộc của họ, bắt thăm được phần đất thứ sáu. <sup>33</sup> Ranh giới của họ khởi đầu từ Khê-lép, từ cây Sồi ở Xa-a-nan-nim, đi qua A-đa-mi Ha Ne-kép và Giáp-nơ-ên cho đến Lắc-cum, và dừng lại ở sông Gio-đan. <sup>34</sup> Rồi ranh giới đó quay về phía tây, đi qua Át-nốt Ta-vô, và từ đó đi tới Khu-cốc, gặp phần đất của Dơ-vu-lun ở phía nam, gặp phần đất của A-se ở phía tây và sông Gio-đan ở phía mặt trời mọc. <sup>35</sup> Các thành luỹ kiên cố là: Hát-xít-đim, Xe, Kham-mát, Rắc-cát, Kin-ne-rét, <sup>36</sup> A-đa-ma, Ra-ma, Kha-xo, <sup>37</sup> Ke-đét, Ét-re-i, Ên Kha-xo, <sup>38</sup> Giếc-ôn, Mích-đan Ên, Kho-rem, Bết A-nát, Bết Se-mét: đó là mười chín thành và làng mạc của các thành ấy. <sup>39</sup> Các thành ấy và các làng mạc của các thành ấy là phần gia nghiệp của chi tộc con cái Náp-ta-li, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Ðan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Chi tộc con cái Ðan, theo các thị tộc của họ, bắt thăm được phần đất thứ bảy. <sup>41</sup> Lãnh thổ của phần gia nghiệp họ gồm có: Xo-rơ-a, Ét-ta-ôn, Ia Se-mét, <sup>42</sup> Sa-a-láp-bin, Ai-gia-lôn, Gít-la, <sup>43</sup> Ê-lôn, Tim-na, Éc-rôn, <sup>44</sup> En-tơ-kê, Ghíp-bơ-thôn, Ba-a-lát, <sup>45</sup> Giơ-hút, Bơ-nê Bơ-rắc, Gát Rim-môn, <sup>46</sup> vùng nước Giác-côn, Rắc-côn, cùng với lãnh thổ đối diện với Gia-phô. <sup>47</sup> Nhưng con cái Ðan vượt quá lãnh thổ của họ. Quả thế, con cái Ðan tiến lên đánh Le-sem, chiếm thành này và dùng lưỡi gươm giết chết cả thành. Họ chiếm thành và ở tại đó. Họ gọi Le-sem là Ðan, lấy tên Ðan, cha của họ, mà đặt cho thành đó.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Các thành ấy và làng mạc của các thành ấy là phần gia nghiệp của chi tộc con cái Ðan, chia theo các thị tộc của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Khi đã chia xong đất đai theo ranh giới thành những phần gia nghiệp, con cái Ít-ra-en tặng ông Giô-suê, con ông Nun, một phần gia nghiệp giữa họ. <sup>50</sup> Theo mệnh lệnh của Ðức Chúa, họ tặng ông thành mà ông đã xin, là Tim-nát Xe-rác, trong vùng núi Ép-ra-im: ông xây lại thành và ở tại đó.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">5. Kết Luận Về Việc Phân Chia Ðất Ðai</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>51</sup> Ðó là các phần gia nghiệp mà tư tế E-la-da, ông Giô-suê, con ông Nun, và các thủ lãnh gia tộc của các chi tộc con cái Ít-ra-en đã dùng cách bắt thăm mà chia cho họ ở Si-lô, trước nhan Ðức Chúa, tại cửa Lều Hội Ngộ. Như thế, họ đã làm xong việc phân chia đất đai.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">6. Các Thành Ðặc Biệt</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thành trú ẩn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Giô-suê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Các ngươi hãy chỉ định cho mình những thành trú ẩn, như Ta đã dùng Mô-sê làm trung gian mà phán với các ngươi. <sup>3</sup> Một kẻ sát nhân đã làm thiệt mạng một người vì vô ý, vì lầm lẫn, sẽ có thể đến đó nương náu; những thành ấy sẽ là nơi các ngươi trú ẩn để thoát khỏi tay người đòi nợ máu. <sup>4</sup> Kẻ sát nhân sẽ tới một trong các thành ấy mà nương náu, đứng ở lối vào cổng thành và trình cho các kỳ mục trong thành nghe sự việc của mình; những người này sẽ nhận nó vào thành ở với họ, và chỉ cho nó một nơi cư ngụ giữa họ. <sup>5</sup> Nếu người đòi nợ máu lùng bắt kẻ sát nhân, thì họ sẽ không nộp nó vào tay người ấy, vì kẻ sát nhân đã làm thiệt mạng người thân cận do lầm lẫn, chứ không phải vì trước kia đã có hận thù với người này. <sup>6</sup> Kẻ sát nhân sẽ ở trong thành này cho đến khi ra trước cộng đồng để chịu xét xử, hay cho đến khi thượng tế đương chức qua đời. Khi đó kẻ sát nhân có thể trở về thành, về nhà của nó, về thành nó đã bỏ trốn.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Người ta đã thánh hiến Ke-đét ở Ga-li-lê trong miền núi Náp-ta-li, Si-khem trong miền núi Ép-ra-im, và Kia-giát Ác-ba, tức là Khép-rôn trong miền núi Giu-đa. <sup>8</sup> Và bên kia sông Gio-đan đối diện với Giê-ri-khô, về phía đông, người ta chọn Be-xe thuộc chi tộc Rưu-vên trong sa mạc, trên vùng cao nguyên, chọn Ra-mốt thuộc chi tộc Gát, trong vùng Ga-la-át, và Gô-lan thuộc chi tộc Mơ-na-se trong vùng Ba-san. <sup>9</sup> Ðó là những thành chỉ định cho mọi con cái Ít-ra-en và người ngoại kiều ở giữa họ, để phàm ai đã vô ý làm thiệt mạng người nào, thì có thể tới đó nương náu và khỏi phải chết do tay người đòi nợ máu, cho đến khi ra trước mặt cộng đồng.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thành của người Lê-vi</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Những người đứng đầu các gia tộc Lê-vi tới gặp tư tế E-la-da, ông Giô-suê con ông Nun, và những người đứng đầu gia tộc của các chi tộc con cái Ít-ra-en, <sup>2</sup> Si-lô trong đất Ca-na-an, và thưa rằng: &#8220;Ðức Chúa đã dùng ông Mô-sê làm trung gian mà truyền phải cấp cho chúng tôi những thành để ở, những đồng cỏ cho thú vật của chúng tôi.&#8221; <sup>3</sup> heo lệnh của Ðức Chúa, con cái Ít-ra-en đã lấy một phần gia nghiệp của họ mà cho những người Lê-vi các thành sau đây và đồng cỏ phụ thuộc. <sup>4</sup> ác thị tộc người Cơ-hát bắt thăm được phần của mình: con cái tư tế A-ha-ron, trong số những người Lê-vi, được mười ba thành thuộc các chi tộc Giu-đa, Si-mê-ôn và Ben-gia-min. <sup>5</sup> Còn những người con khác của ông Cơ-hát thì bắt thăm được mười thành thuộc những thị tộc của các chi tộc Ép-ra-im, Ðan và một nửa chi tộc Mơ-na-se. <sup>6</sup> Các con ông Ghéc-sôn bắt thăm được mười ba thành thuộc những thị tộc của các chi tộc Ít-xa-kha, A-se, Náp-ta-li và một nửa chi tộc Mơ-na-se ở Ba-san. <sup>7</sup> Các con ông Mơ-ra-ri, theo các thị tộc của họ, được mười hai thành thuộc chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát và chi tộc Dơ-vu-lun.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Con cái Ít-ra-en đã dùng cách bắt thăm mà cấp cho các người Lê-vi những thành này cùng với các đồng cỏ, như Ðức Chúa đã truyền qua trung gian ông Mô-sê.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho người Cơ-hát</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Con cái Ít-ra-en đã lấy của chi tộc con cái Giu-đa và chi tộc con cái Si-mê-ôn mà cấp cho các người Lê-vi những thành được chỉ đích danh sau đây. <sup>10</sup> Ðó là phần của con cái A-ha-ron thuộc các thị tộc Cơ-hát, trong hàng con cái Lê-vi, vì họ đã bắt thăm được phần đầu tiên. <sup>11</sup> Người ta cấp cho họ Kia-giát Ác-ba, tức là Khép-rôn, -Ác-ba là cha ông A-nác-, trong miền núi Giu-đa và các đồng cỏ chung quanh. <sup>12</sup> Còn đồng ruộng và làng mạc phụ thuộc, thì người ta cấp cho ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, làm sở hữu. <sup>13</sup> Người ta cấp cho con cái tư tế A-ha-ron thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Khép-rôn với các đồng cỏ, cũng như Líp-na với các đồng cỏ, <sup>14</sup> Giát-tia với các đồng cỏ, Ét-tơ-mô-a với các đồng cỏ, <sup>15</sup> Khô-lôn với các đồng cỏ, Ðơ-via với các đồng cỏ, <sup>16</sup> A-gin với các đồng cỏ, Giút-ta với các đồng cỏ, Bết Se-mét với các đồng cỏ: đó là chín thành thuộc hai chi tộc ấy. <sup>17</sup> Người ta lấy của chi tộc Ben-gia-min mà cấp cho họ bốn thành: Ghíp-ôn với các đồng cỏ, Ghe-va với các đồng cỏ, <sup>18</sup> A-na-thốt với các đồng cỏ, An-môn với các đồng cỏ. <sup>19</sup> Tổng số các thành của các tư tế con cái ông A-ha-ron là mười ba thành với các đồng cỏ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Còn các thị tộc con cái Cơ-hát, những người Lê-vi còn lại trong số con cái Cơ-hát, thì bắt thăm được các thành thuộc chi tộc Ép-ra-im. <sup>21</sup> Người ta cấp cho họ thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Si-khem với các đồng cỏ, trong vùng núi Ép-ra-im, Ghe-de với các đồng cỏ, <sup>22</sup> Kíp-xa-gim với các đồng cỏ, Bết Khô-rôn với các đồng cỏ: bốn thành. <sup>23</sup> Người ta lấy của chi tộc Ðan mà cấp cho họ bốn thành: En-tơ-kê với các đồng cỏ, Ghíp-bơ-thôn với các đồng cỏ, <sup>24</sup> Ai-gia-lôn với các đồng cỏ, Gát Rim-môn với các đồng cỏ. <sup>25</sup> Người ta lấy của một nửa chi tộc Mơ-na-se mà cấp cho họ hai thành: Ta-nác với các đồng cỏ, Gíp-lơ-am với các đồng cỏ. <sup>26</sup> Tổng số là mười thành với các đồng cỏ cho các thị tộc còn lại của con cái Cơ-hát.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho các con ông Ghéc-sôn</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Phần dành cho các con ông Ghéc-sôn, thuộc các thị tộc Lê-vi, lấy của một nửa chi tộc Mơ-na-se thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Gô-lan ở Ba-san với các đồng cỏ, cũng như Bơ-ét-tơ-ra với các đồng cỏ: hai thành. <sup>28</sup> Người ta lấy của chi tộc Ít-xa-kha mà cấp cho họ bốn thành: Kít-giôn với các đồng cỏ, Ða-vơ-rát với các đồng cỏ, <sup>29</sup> Giác-mút với các đồng cỏ, Ên Gan-nim với các đồng cỏ. <sup>30</sup> Người ta lấy của chi tộc A-se mà cấp cho họ bốn thành: Mi-sơ-an với các đồng cỏ, Áp-đôn với các đồng cỏ, <sup>31</sup> Khen-cát với các đồng cỏ, Rơ-khốp với các đồng cỏ. <sup>32</sup> Người ta lấy của chi tộc Náp-ta-li mà cấp cho họ ba thành: thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Ke-đét ở Ga-li-lê với các đồng cỏ, Kham-mốt Ðo với các đồng cỏ, Các-tan với các đồng cỏ. <sup>33</sup> Tổng số các thành của người Ghéc-sôn theo các thị tộc của họ là mười ba thành với các đồng cỏ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho các con ông Mơ-ra-ri</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Phần dành cho các thị tộc con cái Mơ-ra-ri, các người Lê-vi còn lại, thì người ta lấy của chi tộc Dơ-vu-lun bốn thành: Gióc-nơ-am với các đồng cỏ, Các-ta với các đồng cỏ, <sup>35</sup> Ðim-na với các đồng cỏ, Na-ha-lan với các đồng cỏ. <sup>36</sup> Ở bên kia sông Gio-đan, người ta lấy của chi tộc Rưu-vên mà cấp cho họ bốn thành: thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Be-xe trong sa-mạc, trên vùng cao nguyên, với các đồng cỏ, Gia-hát với các đồng cỏ, <sup>37</sup> Cơ-đê-mốt với các đồng cỏ, Mê-pha-át với các đồng cỏ. <sup>38</sup> Người ta lấy của chi tộc Gát mà cấp cho họ tất cả là bốn thành: thành trú ẩn cho kẻ sát nhân, là Ra-mốt tại Ga-la-át với các đồng cỏ, Ma-kha-na-gim với các đồng cỏ, <sup>39</sup> Khét-bôn với các đồng cỏ, Gia-de với các đồng cỏ. <sup>40</sup> Tổng số các thành dành cho con cái Mơ-ra-ri theo các thị tộc của họ, cho các thị tộc Lê-vi còn lại, các thành họ bắt thăm được, là mười hai thành.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Tổng số các thành của người Lê-vi ở giữa các sở hữu của con cái Ít-ra-en là bốn mươi tám thành và đồng cỏ phụ thuộc. <sup>42</sup> Mỗi thành trong số các thành đó gồm có nội thành và đồng cỏ chung quanh. Tất cả mọi thành đó đều như thế.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">7. Tổng Kết Về Việc Phân Chia Ðất Ðai</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận về việc phân chia đất đai</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Ðức Chúa đã ban cho Ít-ra-en toàn miền đất mà Người đã thề là sẽ ban cho cha ông họ. Họ đã chiếm được đất ấy và ở tại đó. <sup>44</sup> Ðức Chúa cho họ được thảnh thơi mọi bề, đúng như Người đã thề với cha ông họ. Trong số mọi địch thù, không ai chống nổi họ. Ðức Chúa đã nộp mọi địch thù vào tay họ. <sup>45</sup> Trong mọi lời tốt lành Ðức Chúa đã phán với nhà Ít-ra-en, không một lời nào ra vô hiệu: mọi lời đều ứng nghiệm.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Cuối Ðời Ông Giô-Suê</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">1. Các Chi Tộc Bên Kia Sông Gio-Ðan Trở Về.</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Vấn Ðề Bàn Thờ Của Họ.</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðưa quân của các chi tộc bên kia sông Gio-đan trở về</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bấy giờ, ông Giô-suê triệu tập những người thuộc các chi tộc Rưu-vên, Gát và một nửa chi tộc Mơ-na-se lại <sup>2</sup> và nói: &#8220;Anh em đã tuân giữ tất cả những gì ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã truyền cho anh em, và anh em đã nghe lời tôi mỗi khi tôi ra lệnh truyền cho anh em. <sup>3</sup> Cho đến nay, đã nhiều ngày rồi, anh em đã không bỏ rơi anh em mình, và anh em đã cẩn thận giữ mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. <sup>4</sup> Giờ đây, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã ban cho anh em của anh em được an cư lạc nghiệp, như Người đã phán với họ. Vậy bây giờ anh em hãy quay lại và đi về lều trại của anh em, trong phần đất thuộc quyền sở hữu của anh em, mà ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã ban cho anh em bên kia sông Gio-đan. <sup>5</sup> Tuy nhiên, anh em hãy hết sức cẩn thận thi hành mệnh lệnh và Lề Luật mà ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, đã truyền cho anh em: đó là yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo mọi đường lối của Người, giữ các mệnh lệnh của Người, gắn bó với Người và phụng sự Người hết lòng, hết linh hồn anh em.&#8221; <sup>6</sup> Ông Giô-suê chúc phúc cho họ và tiễn họ về lều trại của họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ông Mô-sê đã cấp cho nửa chi tộc Mơ-na-se một phần đất ở Ba-san; ông Giô-suê cấp cho nửa chi tộc kia một phần đất khác ở giữa anh em của họ bên kia sông Gio-đan, về phía tây. Khi tiễn chân họ trở về lều trại của họ, ông Giô-suê cũng chúc phúc cho họ <sup>8</sup> và nói: &#8220;Anh em hãy trở về lều trại mình với những tài sản lớn, với đoàn súc vật hết sức đông đúc, với bạc, vàng, đồng và sắt, với quần áo nhiều vô kể. Anh em hãy chia cho anh em mình chiến lợi phẩm lấy được của địch thù.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xây bàn thờ trên bờ sông Gio-đan</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se, từ giã con cái Ít-ra-en ở Si-lô, trong đất Ca-na-an, mà lên đường trở về xứ Ga-la-át trong phần đất thuộc quyền sở hữu của họ, đất họ đã chiếm làm của riêng, theo lệnh của Ðức Chúa mà ông Mô-sê đã truyền lại. <sup>10</sup> Khi đến vùng sông Gio-đan thuộc đất Ca-na-an, con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se xây ở đó một bàn thờ bên bờ sông Gio-đan, một bàn thờ trông đồ sộ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nghe tin đó, con cái Ít-ra-en nói: &#8220;Này con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se đã xây bàn thờ đối diện với đất Ca-na-an, trong vùng sông Gio-đan, quay về phía con cái Ít-ra-en.&#8221; <sup>12</sup> Nghe tin đó, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en tụ họp ở Si-lô để tiến lên đánh họ.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con cái Ít-ra-en trách móc các chi tộc ở phía tây</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Con cái Ít-ra-en cử người đến gặp con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se ở xứ Ga-la-át. Ðó là ông Pin-khát, con của tư tế E-la-da <sup>14</sup> và mười thủ lãnh cùng đi với ông, mỗi gia tộc trong mọi chi tộc Ít-ra-en một thủ lãnh. Mỗi người đều đứng đầu gia tộc trong hàng ngũ Ít-ra-en. <sup>15</sup> Khi đến với con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se ở miền Ga-la-át, họ nói rằng: <sup>16</sup> &#8220;Toàn thể cộng đồng của Ðức Chúa đã nói thế này: Hôm nay anh em đã đắc tội với Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, và phản bội Người, khi xây cho mình một bàn thờ. Hôm nay anh em đã nổi lên chống lại Người. Sao lại có chuyện bất trung như vậy?</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Chúng ta đã phạm tội ở Pơ-o, như vậy chưa đủ sao? Cho đến ngày nay, chúng ta chưa gột rửa được hết tội đó, mặc dầu tai ương đã giáng xuống cộng đồng của Ðức Chúa, <sup>18</sup> mà hôm nay anh em lại phản bội Ðức Chúa! Nếu hôm nay anh em nổi loạn chống Ðức Chúa, thì ngày mai Người sẽ nổi cơn thịnh nộ với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Nếu phần đất thuộc quyền sở hữu của anh em là đất ô uế, anh em hãy qua bên vùng đất thuộc quyền sở hữu của Ðức Chúa, nơi đặt Nhà Tạm của Ðức Chúa. Anh em hãy kiếm đất làm sở hữu ở giữa chúng tôi. Nhưng chớ nổi lên chống Ðức Chúa, cũng đừng nổi lên chống chúng tôi, mà xây một bàn thờ nào khác ngoài bàn thờ của Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta. <sup>20</sup> Khi A-khan, con cháu ông De-rác, phạm tội bất trung lúc thi hành lệnh án biệt hiến, thì cơn thịnh nộ đã chẳng giáng xuống toàn thể cộng đồng Ít-ra-en, chứ không phải chỉ một mình hắn đã mất mạng vì tội mình đó sao?&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các chi tộc bên kia sông Gio-đan tự biện hộ</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Con cái Rưu-vên, con cái Gát và nửa chi tộc Mơ-na-se trả lời cho những người đứng đầu hàng ngũ Ít-ra-en rằng: <sup>22</sup> &#8220;Ðức Chúa, Thần các thần, Ðức Chúa, Thần các thần, chính Người biết, và Ít-ra-en cũng phải biết: Nếu đó là một cuộc nổi loạn hay là một tội bất trung đối với Ðức Chúa, thì xin Người đừng cứu chúng tôi hôm nay. <sup>23</sup> Nếu chúng tôi xây một bàn thờ để phản bội Ðức Chúa, mà dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, hay là dâng hy lễ kỳ an, thì xin chính Ðức Chúa hỏi tội! <sup>24</sup> Nhưng không phải thế! Chúng tôi đã hành động như vậy, vì lo âu trước một sự việc có thể xảy ra. Chúng tôi đã tự nhủ: Mai ngày, con cái anh em có thể nói với con cái chúng tôi: Các anh có liên quan gì với Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en? <sup>25</sup> Ðức Chúa đã đặt một ranh giới giữa chúng tôi và các anh là con cái Rưu-vên và con cái Gát: đó là sông Gio-đan. Các anh chẳng được chung phần với Ðức Chúa! Như thế, con cái anh em sẽ làm cho con cái chúng tôi không còn kính sợ Ðức Chúa nữa!</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Vì vậy, chúng tôi tự nhủ: Ta hãy lo xây cho mình một bàn thờ, không phải để dâng lễ toàn thiêu hoặc hy lễ, <sup>27</sup> nhưng để làm bằng chứng giữa chúng tôi và anh em, giữa dòng dõi đôi bên, rằng chúng tôi chỉ lo việc phụng thờ Ðức Chúa, với các lễ toàn thiêu, hy lễ và lễ kỳ an của chúng tôi, khi ở trước nhan Người. Như thế, mai ngày con cái anh em sẽ không thể nói với con cái chúng tôi: Các anh chẳng được chung phần với Ðức Chúa. <sup>28</sup> Chúng tôi tự nhủ: Giả sử mai ngày họ nói như thế với chúng tôi, với chúng tôi hay dòng dõi chúng tôi, thì chúng tôi sẽ nói: Hãy coi bàn thờ này, cha ông chúng tôi đã xây rập theo mẫu bàn thờ kính Ðức Chúa, không phải để dâng lễ toàn thiêu hoặc hy lễ, mà là để làm bằng chứng giữa chúng tôi và các anh. <sup>29</sup> Chúng tôi không hề có ý muốn nổi lên chống Ðức Chúa và phản bội Người hôm nay, khi xây một bàn thờ khác để dâng lễ toàn thiêu, lễ phẩm và hy lễ, ngoài bàn thờ kính Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở trước Nhà Tạm của Người.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hai bên thoả hiệp với nhau</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Sau khi nghe con cái Rưu-vên, con cái Gát và con cái Mơ-na-se nói những lời ấy, tư tế Pin-khát, các thủ lãnh của cộng đồng và những người đứng đầu hàng ngũ Ít-ra-en cùng đi với ông, lấy làm vừa ý. <sup>31</sup> Ông Pin-khát, con của tư tế E-la-da, nói với con cái Rưu-vên, con cái Gát và con cái Mơ-na-se: &#8220;Hôm nay, chúng tôi biết là Ðức Chúa ngự giữa chúng ta, vì anh em đã không phạm tội bất trung đó đối với Ðức Chúa; vì thế, anh em đã cứu con cái Ít-ra-en khỏi tay Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Pin-khát, con của tư tế E-la-da, và các thủ lãnh từ giã con cái Rưu-vên, và con cái Gát ở xứ Ga-la-át, mà trở về với con cái Ít-ra-en ở đất Ca-na-an, và kể lại cho họ nghe sự việc. <sup>33</sup> Con cái Ít-ra-en lấy làm vừa ý về sự việc đó. Con cái Ít-ra-en chúc tụng Thiên Chúa và không còn nói đến chuyện tiến lên đánh con cái Rưu-vên và con cái Gát, để tàn phá vùng đất họ ở. <sup>34</sup> Con cái Rưu-vên và con cái Gát gọi bàn thờ là &#8220;Bằng chứng&#8221;, vì, theo họ nói, &#8220;bàn thờ làm chứng giữa chúng ta rằng Ðức Chúa là Thiên Chúa.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">2. Diễn Từ Cuối Cùng Của Ông Giô-Suê</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê tóm kết công trình của mình</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Lâu ngày sau khi Ðức Chúa ban cho Ít-ra-en được thảnh thơi mọi bề, không còn thù địch nào nữa, và khi ông Giô-suê đã già, tuổi đã cao, <sup>2</sup> thì ông triệu tập toàn thể Ít-ra-en, các kỳ mục, những người đứng đầu, các thủ lãnh và ký lục, rồi nói: &#8220;Tôi đã già nua tuổi tác. <sup>3</sup> Phần anh em, anh em đã chứng kiến mọi sự mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, giáng xuống trên mọi dân đó vì anh em, bởi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã chiến đấu cho anh em. <sup>4</sup> Anh em xem! Tôi đã cho các chi tộc của anh em bắt thăm được đất của các dân còn sót lại đó làm gia nghiệp, cũng như của mọi dân tôi đã quét sạch, từ sông Gio-đan cho đến Biển Lớn, phía mặt trời lặn. <sup>5</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ đẩy lui chúng cho khuất mắt anh em, sẽ trục xuất chúng đi cho khuất mắt anh em. Anh em sẽ chiếm lấy đất đai của chúng, theo như lời Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã phán.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phải sống thế nào giữa các dân ngoại</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Vậy anh em phải thật cương quyết tuân giữ và thực hành tất cả những gì ghi trong Sách Luật Mô-sê, không đi trệch bên phải bên trái, <sup>7</sup> không lui tới với những dân ấy, những dân còn sót lại giữa anh em. Anh em đừng kêu tên các thần của chúng, đừng lấy tên các thần ấy mà thề. Ðừng phụng thờ chúng, đừng sụp xuống lạy chúng. <sup>8</sup> Trái lại, anh em sẽ chỉ gắn bó với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã làm cho đến ngày nay. <sup>9</sup> Ðức Chúa đã trục xuất những dân lớn mạnh cho khuất mắt anh em, và không ai đã đứng vững trước mặt anh em cho đến ngày nay. <sup>10</sup> Chỉ một người trong anh em mà đuổi được cả ngàn người, vì chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, chiến đấu cho anh em, theo lời Người đã phán với anh em. <sup>11</sup> Anh em phải hết sức chú tâm yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nhưng nếu anh em phản bội Ðức Chúa và gắn bó với những dân còn sót lại đang ở với anh em đó, nếu anh em kết duyên kết nghĩa với chúng, nếu anh em lui tới với chúng và chúng lui tới với anh em, <sup>13</sup> thì hãy biết chắc rằng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ không còn tiếp tục trục xuất các dân đó cho khuất mắt anh em: chúng sẽ thành dò lưới và cạm bẫy hại anh em, thành roi quất vào sườn và gai đâm vào mắt, cho đến khi anh em biến khỏi mảnh đất tốt này mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã ban cho anh em.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Hôm nay đây tôi bước vào đoạn đường mà mọi người trên đời này phải đi qua. Anh em hãy nhìn nhận với tất cả tấm lòng và tâm hồn, là trong mọi lời tốt lành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã phán với anh em, không một lời nào đã ra vô hiệu: mọi sự đã ứng nghiệm cho anh em; không một lời nào đã ra vô hiệu.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Như mọi lời tốt lành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã phán hứa cho anh em đều ứng nghiệm, thì Ðức Chúa cũng sẽ làm cho mọi lời nguyền rủa anh em được ứng nghiệm, cho đến khi anh em bị tiêu diệt khiến anh em không còn trên mảnh đất tốt này mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã ban cho anh em.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nếu anh em vi phạm giao ước mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em phải giữ, để đi phụng thờ các thần khác và sụp xuống lạy chúng, thì Ðức Chúa sẽ bừng bừng nổi cơn thịnh nộ chống lại anh em, và anh em sẽ mau chóng biến khỏi đất tốt lành Người đã ban cho anh em.&#8221;</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">3. Ðại Hội Si-Khem</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Giô-suê quy tụ ở Si-khem mọi chi tộc Ít-ra-en và triệu tập các kỳ mục Ít-ra-en, các thủ lãnh, thẩm phán và ký lục. Họ đứng trước nhan Thiên Chúa. <sup>2</sup> Ông Giô-suê nói với toàn dân: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: &#8220;Thuở xưa, khi còn ở bên kia Sông Cả, cha ông các ngươi, cho đến Te-rác là cha của Áp-ra-ham và của Na-kho, đã phụng thờ các thần khác. <sup>3</sup> Ta đã đem cha các ngươi là Áp-ra-ham từ bên kia Sông Cả mà dẫn đi khắp đất Ca-na-an. Ta đã cho dòng dõi nó nên đông đúc và ban I-xa-ác cho nó. <sup>4</sup> Ta đã ban Gia-cóp và Ê-xau cho I-xa-ác. Ta cho Ê-xau chiếm hữu núi Xê-ia. Còn Gia-cóp và các con thì xuống Ai-cập. <sup>5</sup> Ta đã sai Mô-sê và A-ha-ron đi; Ta đã dùng những việc Ta làm ở Ai-cập mà đánh phạt nước ấy, rồi Ta đã đưa các ngươi ra khỏi đó. <sup>6</sup> Ta đã đưa cha ông các ngươi ra khỏi Ai-cập và các ngươi đã tới biển. Người Ai-cập, với chiến xa và kỵ binh, đuổi theo cha ông các ngươi cho đến Biển Sậy. <sup>7</sup> Họ kêu lên Ðức Chúa; Người cho sương mù sa xuống giữa các ngươi và người Ai-cập, Người cho biển ập xuống vùi lấp chúng đi. Mắt các ngươi đã chứng kiến những việc Ta đã làm ở Ai-cập. Các ngươi đã ở lại lâu ngày trong sa mạc. <sup>8</sup> Ta đã đem các ngươi vào đất người E-mô-ri. Chúng ở bên kia sông Gio-đan. Chúng đã giao chiến với các ngươi, nhưng Ta đã nộp chúng vào tay các ngươi. Các ngươi đã chiếm đất của chúng, và Ta đã tiêu diệt chúng trước mắt các ngươi. <sup>9</sup> Rồi Ba-lác, con của Xíp-po, vua Mô-áp, đã đứng lên giao chiến với Ít-ra-en. Ba-lác đã cho mời Bi-lơ-am, con của Bơ-o, đến nguyền rủa các ngươi. <sup>10</sup> Nhưng Ta đã không muốn nghe Bi-lơ-am. Nó đã phải chúc phúc cho các ngươi, và Ta đã giải thoát các ngươi khỏi tay Ba-lác.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Các ngươi đã qua sông Gio-đan và tới Giê-ri-khô. Những người làm chủ Giê-ri-khô giao chiến với các ngươi: đó là người E-mô-ri, Pơ-rít-di, Ca-na-an, Khết, Ghia-ga-si, Khi-vi và Giơ-vút. Nhưng Ta đã nộp chúng vào tay các ngươi. <sup>12</sup> Ta đã thả ong bầu bay đi trước các ngươi; chúng đuổi hai vua E-mô-ri đi cho khuất mắt các ngươi; chính ong bầu chứ không phải cung kiếm của (các) ngươi đã đuổi chúng. <sup>13</sup> Ta ban cho các ngươi đất (các) ngươi đã không vất vả khai phá, những thành các ngươi đã không xây mà được ở, những vườn nho và vườn ô-liu các ngươi đã không trồng mà được ăn.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en chọn Ðức Chúa</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> &#8220;Bây giờ anh em hãy kính sợ Ðức Chúa, hãy chân thành và trung tín phụng thờ Người. Anh em hãy vất bỏ các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả và ở Ai-cập, và hãy phụng thờ Ðức Chúa. <sup>15</sup> Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Ðức Chúa, thì hôm nay anh em cứ tuỳ ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Dân đáp lại: &#8220;Chúng tôi không hề có ý lìa bỏ Ðức Chúa để phụng thờ các thần khác! <sup>17</sup> Vì chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, đã đem chúng tôi cùng với cha ông chúng tôi lên từ đất Ai-cập, từ nhà nô lệ, đã làm trước mắt chúng tôi những dấu lạ lớn lao đó, đã gìn giữ chúng tôi trên suốt con đường chúng tôi đi, giữa mọi dân tộc chúng tôi đã đi ngang qua. <sup>18</sup> Ðức Chúa đã đuổi cho khuất mắt chúng tôi mọi dân tộc cũng như người E-mô-ri ở trong xứ. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Ðức Chúa, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ông Giô-suê nói với dân: &#8220;Anh em sẽ không thể phụng thờ Ðức Chúa, vì Người là Thiên Chúa thánh thiện, Thiên Chúa ghen tương; Người sẽ không dung thứ tội phản nghịch cũng như tội lỗi của anh em đâu. <sup>20</sup> Nếu anh em lìa bỏ Ðức Chúa để phụng thờ các thần ngoại, Người sẽ quay lại chống anh em, giáng hoạ xuống anh em và tiêu diệt anh em, dù trước đây Người đã giáng phúc cho anh em.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Dân nói với ông Giô-suê: &#8220;Không đâu, chúng tôi quyết phụng thờ Ðức Chúa!&#8221; <sup>22</sup> Ông Giô-suê nói với dân: &#8220;Anh em hãy cam đoan với chính mình là anh em đã chọn Ðức Chúa để phụng thờ.&#8221; Họ nói: &#8220;Xin cam đoan!&#8221; <sup>23</sup> Ông Giô-suê nói: &#8220;Bây giờ, anh em hãy vứt bỏ các thần ngoại đang ở với anh em, và hướng lòng về Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en.&#8221; <sup>24</sup> Dân nói với ông Giô-suê: &#8220;Chúng tôi sẽ phụng thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi, và chúng tôi sẽ nghe lời Người.&#8221;</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giao ước Si-khem</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Trong ngày ấy, ông Giô-suê thay mặt dân kết giao ước, ông đưa ra quy luật và điều luật ở Si-khem. <sup>26</sup> Ông Giô-suê viết những lời đó trong Sách Luật của Thiên Chúa. Ông lấy một tảng đá lớn và dựng ở đó, dưới cây sồi trong nơi thánh của Ðức Chúa. <sup>27</sup> Ông Giô-suê nói với toàn dân: &#8220;Ðây, tảng đá này sẽ làm chứng về những điều chúng ta đã cam đoan, vì nó đã nghe mọi lời Ðức Chúa phán với chúng ta. Nó sẽ làm chứng về những điều anh em đã cam đoan, kẻo anh em chối bỏ Thiên Chúa của anh em.&#8221; <sup>28</sup> Ông Giô-suê giải tán dân chúng, ai nấy trở về phần đất họ đã nhận làm gia nghiệp.</span></p>
<p align="center"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">4. Phụ Lục</span></strong></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê qua đời</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Sau những biến cố đó, tôi trung của Ðức Chúa là ông Giô-suê, con ông Nun, từ trần, thọ một trăm mười tuổi. <sup>30</sup> Người ta chôn cất ông tại thửa đất ông đã nhận được làm gia nghiệp ở Tim-nát Xe-rác, trong vùng núi Ép-ra-im; phía bắc núi Ga-át. <sup>31</sup> Ít-ra-en đã phụng thờ Ðức Chúa suốt thời gian ông Giô-suê và các kỳ mục đến sau ông còn sống; những người này biết tất cả công trình Ðức Chúa đã thực hiện cho Ít-ra-en.</span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hài cốt ông Giu-se. Tư tế E-la-da qua đời.</strong></span></p>
<p align="justify"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Hài cốt ông Giu-se mà con cái Ít-ra-en đã đem lên từ Ai-cập, thì được chôn cất ở Si-khem, trong thửa ruộng ông Gia-cóp đã mua của con ông Kha-mo, cha ông Si-khem, với giá một trăm đồng bạc; đó là phần gia nghiệp của con cái ông Giu-se. <sup>33</sup> Còn ông E-la-da, con ông A-ha-ron, sau khi chết thì được chôn cất trên ngọn đồi của con ông là ông Pin-khát; đồi này đã được cấp cho ông Pin-khát trong miền núi Ép-ra-im.</span></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/438/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=438&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2012/01/12/sach-yosua-gio-sue/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Thứ Luật (Ðệ Nhị Luật)</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/02/23/sach-th%e1%bb%a9-lu%e1%ba%adt-d%e1%bb%87-nh%e1%bb%8b-lu%e1%ba%adt/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/02/23/sach-th%e1%bb%a9-lu%e1%ba%adt-d%e1%bb%87-nh%e1%bb%8b-lu%e1%ba%adt/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 23 Feb 2011 20:41:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[I.5. Sách Thứ Luật (Ðệ Nhị Luật)]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=431</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Những Diễn Từ Mở Ðầu Diễn Từ Thứ Nhất Của Ông Mô-Sê Khung cảnh thời gian và không gian 1 Ðây là những lời ông Mô-sê nói với toàn thể Ít-ra-en, ở bên kia sông Gio-đan, trong sa mạc, trong thung lũng A-ra-va, đối diện với Xúp, giữa Pa-ran, Tô-phen, [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=431&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Những Diễn Từ Mở Ðầu</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Diễn Từ Thứ Nhất Của Ông Mô-Sê</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Khung cảnh thời gian và không gian</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là những lời ông Mô-sê nói với toàn thể Ít-ra-en, ở bên kia sông Gio-đan, trong sa mạc, trong thung lũng A-ra-va, đối diện với Xúp, giữa Pa-ran, Tô-phen, La-van, Kha-xê-rốt và Ði Da-háp. <sup>2</sup> Từ núi Khô-rếp đến Ca-đê Bác-nê-a, qua đường núi Xê-ia, là mười một ngày đường. <sup>3</sup> Năm thứ bốn mươi, tháng thứ mười một, ngày thứ nhất trong tháng, ông Mô-sê nói với con cái Ít-ra-en, chiếu theo tất cả những gì Ðức Chúa đã truyền cho ông nói với họ. <sup>4</sup> Ông đã đánh bại Xi-khôn, vua người E-mô-ri, đóng đô ở Khét-bôn, và tại Ét-re-i, đã đánh bại Ốc, vua miền Ba-san, đóng đô ở Át-ta-rốt. <sup>5</sup> Sau đó, ở bên kia sông Gio-đan, trong đất Mô-áp, ông Mô-sê bắt đầu trình bày luật sau đây. Ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span id="more-431"></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những chỉ thị cuối cùng ở núi Khô-rếp</strong> (Xh 18: 13 -27)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta, đã phán với chúng ta tại núi Khô-rếp như sau: &#8220;Các ngươi ở núi này đã lâu rồi. <sup>7</sup> Hãy chuyển hướng và lên đường, đi tới núi người E-mô-ri, và tới các dân chung quanh, ở thung lũng A-ra-va, ở miền núi, miền Sơ-phê-la, miền Ne-ghép, miền duyên hải, tới đất người Ca-na-an, núi Li-băng, cho đến Sông Cả, là sông Êu-phơ-rát. <sup>8</sup> Ðây, Ta trao đất đó cho các ngươi, hãy vào và chiếm hữu đất mà Ðức Chúa đã thề với cha ông các ngươi, là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho họ và dòng dõi họ sau này.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Thời ấy, tôi đã nói với anh em: &#8220;Một mình tôi không thể gánh vác anh em được. <sup>10</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã làm cho anh em nên đông đúc, và hôm nay, coi đó: anh em nhiều như sao trên trời. <sup>11</sup> Nguyện Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, tăng số anh em lên gấp ngàn lần và chúc phúc cho anh em như Người đã phán với anh em! <sup>12</sup> Làm sao một mình tôi gánh được những phiền hà, yêu sách, tranh tụng của anh em? <sup>13</sup> Mỗi chi tộc của anh em hãy đề cử những người khôn ngoan, thông minh và từng trải, và tôi sẽ đặt họ làm đầu anh em.&#8221; <sup>14</sup> Anh em đã trả lời tôi rằng: &#8220;Ðiều ông đề nghị làm, hay đó!&#8221; <sup>15</sup> Tôi đã chọn những người đứng đầu các chi tộc của anh em, là những người khôn ngoan, từng trải, và đặt họ làm đầu anh em, làm người chỉ huy một ngàn, chỉ huy một trăm, chỉ huy năm mươi, chỉ huy mười người, và làm ký lục cho mỗi chi tộc của anh em. <sup>16</sup> Thời ấy, tôi đã truyền cho các thẩm phán của anh em rằng: &#8220;Các ông hãy nghe những điều anh em đồng bào các ông kiện tụng, và hãy xử công minh giữa một người đồng bào với một người đồng bào, hoặc với một ngoại kiều ở với người ấy. <sup>17</sup> Các ông đừng thiên vị ai trong khi xét xử: hãy nghe người nhỏ cũng như người lớn, đừng sợ ai, vì xét xử là việc của Thiên Chúa. Có vụ nào khó quá đối với các ông, thì các ông hãy trình bày với tôi, tôi sẽ nghe vụ đó.&#8221; <sup>18</sup> Thời ấy, tôi đã truyền cho anh em mọi điều anh em phải làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ở Ca-đê, dân không chịu tin vào Ðức Chúa</strong> (Ðn 13: 1-33)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Chúng ta đã lên đường từ Khô-rếp và đã đi qua sa mạc mênh mông khủng khiếp ấy mà anh em đã thấy, trên đường tới miền núi của người E-mô-ri, như Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã truyền cho chúng ta, và chúng ta đã đến Ca-đê Bác-nê-a. <sup>20</sup> Tôi đã nói với anh em: &#8220;Anh em đã tới miền núi của người E-mô-ri, miền núi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ban cho chúng ta. <sup>21</sup> Coi đó: Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã trao đất này cho anh (em); hãy lên và chiếm hữu, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh (em), đã phán với anh (em). Ðừng sợ, đừng hãi.&#8221; <sup>22</sup> Tất cả anh em đã đến gặp tôi và nói: &#8220;Chúng ta hãy phái người đi trước chúng ta để thăm dò đất cho chúng ta; họ sẽ báo cáo cho chúng ta về con đường chúng ta phải đi qua và về các thành chúng ta sẽ đến.&#8221; <sup>23</sup> Lời ấy vừa lòng tôi, và tôi đã chọn giữa anh em mười hai người, mỗi chi tộc một người. <sup>24</sup> Họ đã chuyển hướng và lên núi. Khi tới thung lũng Ét-côn, họ đã do thám thung lũng ấy. <sup>25</sup> Tay họ đã lấy hoa trái miền ấy và đưa xuống cho chúng ta. Họ đã báo cáo cho chúng ta, và nói: &#8220;Miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ban cho chúng ta, tốt tươi thật!&#8221; <sup>26</sup> Nhưng anh em đã không muốn lên và đã cưỡng lệnh Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. <sup>27</sup> Anh em đã lẩm bẩm trong lều trại và nói: &#8220;Chính vì Ðức Chúa ghét chúng ta mà Người đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai-cập, để trao chúng ta vào tay người E-mô-ri và tiêu diệt chúng ta. <sup>28</sup> Chúng ta sắp lên chỗ nào đây? Anh em chúng ta đã làm cho chúng ta nản lòng khi nói rằng: &#8220;Dân đó lớn và cao hơn chúng ta. Các thành thì lớn, tường luỹ ngất trời. Chúng tôi cũng thấy ở đó con cái A-nác nữa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Tôi đã bảo anh em: &#8220;Ðừng run khiếp, đừng sợ chúng! <sup>30</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Ðấng đi phía trước anh em, sẽ chiến đấu cho anh em, đúng như Người đã làm cho anh em tại Ai-cập trước mắt anh em, <sup>31</sup> và trong sa mạc, nơi anh (em) thấy Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mang anh (em) như một người mang con mình, suốt con đường anh em đã đi cho tới khi anh em đến nơi này.&#8221;32 Nhưng trong việc ấy anh em đã không tin vào Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, <sup>33</sup> Ðấng đi phía trước anh em trên đường để tìm chỗ cho anh em cắm lều; ban đêm, Người ở trong lửa để cho anh em thấy đường anh em đi, và ban ngày, Người ở trong đám mây.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Huấn thị của Ðức Chúa tại Ca-đê </strong>(Ðn 14: 20-45)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ðức Chúa đã nghe thấy giọng nói của anh em, Người nổi giận và thề rằng: <sup>35</sup> &#8220;Không một người nào thuộc thế hệ gian ác này sẽ được thấy miền đất tốt tươi Ta đã thề sẽ ban cho cha ông các ngươi, <sup>36</sup> ngoại trừ Ca-lếp, con của Giơ-phun-ne: nó sẽ được thấy đất ấy, và đất nó đã giẫm lên, Ta sẽ ban cho nó và các con nó, bởi vì nó đã một lòng theo Ðức Chúa.&#8221; <sup>37</sup> Vì anh em, Ðức Chúa cũng nổi cơn thịnh nộ cả với tôi, Người phán: &#8220;Cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không được vào đó! <sup>38</sup> Giô-suê, con của Nun, kẻ chầu chực trước mặt ngươi, sẽ được vào đó. Hãy làm cho nó nên mạnh mẽ, vì chính nó sẽ cho Ít-ra-en hưởng đất ấy làm gia nghiệp. <sup>39</sup> Về phần con cái các ngươi mà các ngươi nói: &#8220;Chúng sẽ bị giặc bắt&#8221;, và con trai các ngươi, những đứa hôm nay chưa biết phân biệt tốt xấu, chúng sẽ được vào đó. Ta sẽ ban cho chúng đất ấy và chúng sẽ chiếm hữu. <sup>40</sup> Còn các ngươi hãy chuyển hướng và lên đường đi sa mạc, theo hướng Biển Sậy.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Anh em đã trả lời và nói với tôi: &#8220;Chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa, chúng tôi sẽ lên và sẽ chiến đấu theo tất cả những gì Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, đã truyền cho chúng tôi.&#8221; Mỗi người trong anh em đã đeo võ khí và tưởng lên núi là việc dễ dàng. <sup>42</sup> Ðức Chúa đã phán với tôi: &#8220;Hãy bảo chúng: các ngươi đừng lên, đừng chiến đấu, vì Ta không ở giữa các ngươi. Ðừng để quân địch đánh bại các ngươi!&#8221; <sup>43</sup> Tôi đã bảo anh em mà anh em không nghe, anh em đã cưỡng lệnh Ðức Chúa, đã cả gan lên núi. <sup>44</sup> Người E-mô-ri ở miền núi ấy ra đánh anh em, đuổi anh em như ong đuổi, và đánh tan anh em tại Xê-ia đến tận Khoóc-ma. <sup>45</sup> Khi trở về, anh em đã khóc lóc trước mặt Ðức Chúa, nhưng Ðức Chúa đã không nghe tiếng anh em và không để tai nghe anh em. <sup>46</sup> Chính vì vậy mà anh em đã phải ở lại Ca-đê như thế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Từ Ca-đê đến thung lũng Ác-nôn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Chúng ta đã chuyển hướng và lên đường đi sa mạc, theo hướng Biển Sậy, như Ðức Chúa đã phán với tôi, và chúng ta đã đi vòng quanh miền núi Xê-ia lâu ngày. <sup>2</sup> Ðức Chúa phán với tôi rằng: <sup>3</sup> &#8220;Các ngươi đi vòng quanh núi này đã lâu rồi, hãy chuyển hướng về phía bắc. <sup>4</sup> Ngươi hãy truyền cho dân rằng: Các ngươi sắp đi qua lãnh thổ của anh em các ngươi là con cái Ê-xau, những người ở Xê-ia. Chúng sẽ sợ các ngươi, nhưng các ngươi phải rất ý tứ: <sup>5</sup> Ðừng khiêu khích chúng, vì Ta sẽ không cho các ngươi một phần đất nào của chúng, dù là chỗ đặt bàn chân: Ta đã ban núi Xê-ia cho Ê-xau làm sở hữu. <sup>6</sup> Lương thực các ngươi ăn, các ngươi sẽ dùng bạc mà mua của chúng; cả nước các ngươi uống, các ngươi cũng sẽ dùng bạc mà mua của chúng. <sup>7</sup> Thật vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của (các) ngươi, đã chúc phúc cho (các) ngươi trong mọi việc tay (các) ngươi làm, Người đã biết cuộc hành trình của (các) ngươi trong sa mạc mênh mông ấy; đã bốn mươi năm Ðức Chúa, Thiên Chúa của (các) ngươi, ở với (các) ngươi, và (các) ngươi đã chẳng thiếu thốn điều gì.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Rời bỏ anh em chúng ta là con cái Ê-xau, những người ở Xê-ia, chúng ta đã đi qua con đường thung lũng A-ra-va, con đường bắt đầu từ Ê-lát và E-xi-ôn Ghe-ve. Rồi chúng ta chuyển hướng và đi qua con đường sa mạc Mô-áp. <sup>9</sup> Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ðừng gây hấn với Mô-áp, đừng khiêu chiến với chúng, vì Ta sẽ không cho ngươi một phần đất nào của chúng làm sở hữu: Ta đã ban A cho con cái Lót làm sở hữu. <sup>10</sup> &#8211; Trước kia người Ê-mim ở đất ấy, họ là một dân lớn, đông và cao như người A-nác. <sup>11</sup> Như người A-nác, họ cũng được coi là người Ra-pha, nhưng người Mô-áp gọi họ là người Ê-mim. <sup>12</sup> Tại Xê-ia trước kia có người Khô-ri ở, nhưng con cái Ê-xau đã trục xuất họ, đã tiêu diệt họ khi tới đó và ở thế chỗ họ, như Ít-ra-en đã làm trong đất họ chiếm hữu, đất mà Ðức Chúa đã ban cho họ. &#8211; <sup>13</sup> Giờ đây các ngươi hãy đứng lên và qua thung lũng De-rét.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chúng ta đã qua thung lũng De-rét.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Thời gian chúng ta đi từ Ca-đê Bác-nê-a cho đến khi chúng ta qua thung lũng De-rét là ba mươi tám năm, cho đến khi tất cả thế hệ các chiến sĩ biến hết khỏi trại, như Ðức Chúa đã thề với họ. <sup>15</sup> Bàn tay Ðức Chúa cũng đè trên họ để loại họ ra khỏi trại, cho đến khi họ biến hết.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Khi các chiến sĩ đã chết, đã biến hết không còn trong dân nữa, <sup>17</sup> thì Ðức Chúa phán với tôi rằng: <sup>18</sup> &#8220;Hôm nay ngươi sắp đi qua lãnh thổ Mô-áp, qua Ar. <sup>19</sup> Ngươi sẽ đến gần đất con cái Am-mon. Ðừng gây hấn, đừng khiêu chiến với chúng, vì Ta sẽ không cho ngươi phần đất nào của chúng làm sở hữu: Ta đã ban đất ấy cho con cái Am-mon làm sở hữu. <sup>20</sup> &#8211; Cả đất ấy cũng được coi là đất của người Ra-pha; trước kia người Ra-pha đã ở đó, người Am-mon gọi họ là Dam-dum-mim. <sup>21</sup> Họ là một dân lớn, đông và cao như người A-nác, nhưng Ðức Chúa đã tiêu diệt họ, khi người Am-mon đến; những người này đã trục xuất họ và ở thế chỗ họ. <sup>22</sup> Người đã làm như thế cho con cái Ê-xau, những người ở Xê-ia, khi Người tiêu diệt người Khô-ri, lúc con cái Ê-xau đến: những người này đã trục xuất họ và ở thế chỗ họ cho đến ngày nay. <sup>23</sup> Còn người A-vim, những người ở trong các thôn ấp về phía Ga-da cũng thế: người Cáp-to phát xuất từ Cáp-to đã tiêu diệt họ và ở thế chỗ họ. &#8211; <sup>24</sup> Các ngươi hãy đứng dậy, lên đường và qua thung lũng Ác-nôn. Hãy coi: Ta trao Xi-khôn, vua Khét-bôn, người E-mô-ri, và đất vua ấy vào tay (các) ngươi. Hãy bắt đầu chiếm hữu đất ấy và hãy khiêu chiến với chúng. <sup>25</sup> Hôm nay, Ta sẽ làm cho các dân khắp thiên hạ kinh khiếp sợ hãi (các) ngươi ra mặt: khi nghe nói đến (các) ngươi, chúng sẽ run rẩy, rụng rời trước mặt (các) ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðánh chiếm vương quốc vua Xi-khôn</strong> (Ðn 21: 21-30)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Từ sa mạc Cơ-đê-mốt, tôi đã sai sứ giả đến với Xi-khôn, vua Khét-bôn, nói những lời hoà bình như sau: <sup>27</sup> &#8220;Xin cho tôi mượn đường qua đất ông; tôi sẽ đi trên đường, không quẹo phải quẹo trái. <sup>28</sup> Lương thực tôi ăn, ông sẽ bán cho tôi đổi lấy bạc; nước tôi uống, ông sẽ cung cấp cho tôi đổi lấy bạc. Tôi chỉ xin đi bộ qua thôi &#8211; <sup>29</sup> con cái Ê-xau là những người ở Xê-ia, và người Mô-áp là những người ở A, đã cho phép tôi đi qua đất họ &#8211; cho đến khi tôi qua sông Gio-đan, vào đất Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, ban cho chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Nhưng Xi-khôn, vua Khét-bôn, đã không muốn cho chúng ta đi qua đất nó, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã làm cho thần trí nó ra cứng cỏi và lòng dạ nó ra chai đá, để trao nó vào tay anh (em), như anh (em) thấy hôm nay. <sup>31</sup> Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Hãy coi: Ta bắt đầu trao Xi-khôn và đất nó cho ngươi. Hãy bắt đầu đánh chiếm và chiếm cứ đất nó.&#8221; <sup>32</sup> Xi-khôn, nó và toàn dân nó đã ra nghênh chiến với chúng ta tại Gia-hát. <sup>33</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã trao nó cho chúng ta, và chúng ta đã đánh bại nó, con cái nó và toàn dân nó. <sup>34</sup> Thời ấy, chúng ta đã chiếm tất cả các thành của nó và đã tru hiến mọi thành: đàn ông, đàn bà, con trẻ; chúng ta đã không để lại một ai sống sót. <sup>35</sup> Chúng ta chỉ cướp lấy cho mình gia súc và chiến lợi phẩm của các thành chúng ta đã chiếm được. <sup>36</sup> Từ A-rô-e trên mé thung lũng Ác-nôn, và từ thành ở trong thung lũng, cho đến miền Ga-la-át, không có thành nào chúng ta không thể đánh chiếm được: Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã trao tất cả cho chúng ta. <sup>37</sup> Chỉ có đất của con cái Am-mon là anh (em) đã không đến gần: tất cả triền thung lũng Giáp-bốc, các thành miền núi và tất cả những nơi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã cấm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðánh chiếm vương quốc vua Ốc</strong> (Ðn 21: 31-35)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Chúng ta đã chuyển hướng và đi lên phía miền Ba-san. Ốc, vua miền Ba-san, nó và toàn dân nó đã ra nghênh chiến với chúng ta tại Ét-re-i. <sup>2</sup> Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ðừng sợ nó, vì Ta đã trao nó cùng với toàn dân nó và đất nó vào tay ngươi; ngươi sẽ xử với nó như đã xử với Xi-khôn, vua người E-mô-ri, đóng đô ở Khét-bôn.&#8221; <sup>3</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, cũng đã trao Ốc, vua miền Ba-san, và toàn dân nó vào tay chúng ta; chúng ta đã đánh bại nó, không để lại cho nó một ai sống sót. <sup>4</sup> Thời ấy, chúng ta đã chiếm mọi thành của nó, không có thành nào mà chúng ta không lấy của chúng: sáu mươi thành, tức là tất cả vùng Ác-gốp ở miền Ba-san, vương quốc của Ốc. <sup>5</sup> Tất cả đều là những thành kiên cố, có tường cao, có cửa đóng then cài, không kể những thành bỏ ngỏ, nhiều lắm. <sup>6</sup> Chúng ta đã tru hiến những thành ấy, như chúng ta đã xử với Xi-khôn, vua Khét-bôn; chúng ta đã tru hiến mọi thành: đàn ông, đàn bà, con trẻ. <sup>7</sup> Nhưng tất cả gia súc và chiến lợi phẩm của các thành, thì chúng ta đã lấy cho mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Thời ấy, chúng ta đã lấy của hai vua người E-mô-ri vùng đất ở bên kia sông Gio-đan, từ thung lũng Ác-nôn đến núi Khéc-môn. &#8211; <sup>9</sup> Người Xi-đôn gọi núi Khéc-môn là Xia-giôn, còn người E-mô-ri gọi là Xơ-nia. &#8211; <sup>10</sup> Chúng ta đã lấy tất cả các thành vùng Cao Nguyên, tất cả miền Ga-la-át, và tất cả miền Ba-san đến tận Xan-kha và Ét-re-i, tức là các thành ở miền Ba-san, vương quốc của Ốc. &#8211; <sup>11</sup> Thật vậy, Ốc, vua miền Ba-san, là người cuối cùng trong số người Ra-pha còn sống sót; giường của nó, giường bằng sắt, chẳng phải là cái giường người ta còn thấy ở thành Ráp-ba của con cái Am-mon sao? Giường ấy dài bốn thước rưỡi, rộng hai thước, tính bằng thước người ta quen dùng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chia đất bên kia sông Gio-đan</strong> (Ðn 32: 33-42)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Thời ấy, chúng ta đã chiếm hữu đất này. Tôi đã cho chi tộc Rưu-vên và chi tộc Gát vùng đất từ A-rô-e bên thung lũng Ác-nôn, cùng với một nửa miền núi Ga-la-át và các thành ở đó. <sup>13</sup> Phần còn lại của miền Ga-la-át và tất cả miền Ba-san, vương quốc của Ốc, thì tôi đã cho một nửa chi tộc Mơ-na-se -tất cả vùng Ác-gốp, tất cả miền Ba-san, người ta gọi là đất của người Ra-pha. &#8211; <sup>14</sup> Gia-ia, con của Mơ-na-se, đã lấy tất cả vùng Ác-gốp cho đến lãnh thổ người Gơ-sua và người Ma-a-kha, và đã lấy tên mình mà đặt cho những vùng ấy của miền Ba-san, ngày nay vẫn còn gọi là &#8220;các trại của người Gia-ia&#8221;. <sup>15</sup> Tôi đã cho Ma-khia miền Ga-la-át.16 Còn chi tộc Rưu-vên và chi tộc Gát, thì tôi cho vùng đất từ miền Ga-la-át cho đến thung lũng Ác-nôn, lấy lòng thung lũng làm ranh giới, và cho đến thung lũng Giáp-bốc, ranh giới con cái Am-mon, <sup>17</sup> cùng với thung lũng A-ra-va, lấy sông Gio-đan làm ranh giới, từ Kin-ne-rét cho đến biển A-ra-va, tức là Biển Muối, phía dưới sườn núi Pít-ga, về phía đông.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chỉ thị cuối cùng của ông Mô-sê </strong>(Ðn 32: 20-32)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Thời ấy, tôi đã truyền cho anh em rằng: &#8220;Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã cho anh em đất này để anh em chiếm hữu. Tất cả các dũng sĩ, anh em hãy cầm võ khí đi qua trước anh em mình là con cái Ít-ra-en. <sup>19</sup> Chỉ có đàn bà con trẻ và các đàn vật của anh em &#8211; tôi biết là anh em có nhiều đàn vật &#8211; sẽ ở trong các thành tôi đã cho anh em, <sup>20</sup> cho đến khi Ðức Chúa ban cho anh em của anh em được an cư lạc nghiệp như anh em, và chính họ cũng chiếm hữu đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ban cho họ ở bên kia sông Gio-đan; bấy giờ anh em mỗi người sẽ trở về phần đất sở hữu của mình, phần đất tôi đã cho anh em.&#8221; <sup>21</sup> Thời ấy, tôi đã truyền cho ông Giô-suê rằng: &#8220;Chính mắt anh đã thấy tất cả cách xử sự của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đối với hai vua ấy; Ðức Chúa cũng sẽ xử sự như vậy với các vương quốc anh sắp đi qua. <sup>22</sup> Anh em đừng sợ chúng, vì chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, chiến đấu cho anh em.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Thời ấy, tôi đã năn nỉ Ðức Chúa rằng: <sup>24</sup> &#8220;Lạy Chúa là Ðức Chúa, Ngài đã bắt đầu cho tôi tớ Ngài thấy Ngài thật vĩ đại và tay Ngài mạnh mẽ. Có thần nào trên trời dưới đất thực hiện được những công trình và những chiến công như Ngài? <sup>25</sup> Xin cho con được sang qua sông Gio-đan và nhìn thấy miền đất tốt tươi ở bên kia sông, miền núi tốt tươi ấy và núi Li-băng.&#8221; <sup>26</sup> Vì anh em, Ðức Chúa bất bình với tôi, Người không nghe tôi; Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ðủ rồi! Ðừng bao giờ nói với Ta về chuyện ấy nữa! <sup>27</sup> Hãy lên đỉnh Pít-ga, ngước mắt nhìn về phía tây, phía bắc, phía nam, phía đông, và mở mắt ra mà xem, vì ngươi sẽ không được sang qua sông Gio-đan này. <sup>28</sup> Hãy truyền lệnh cho Giô-suê, hãy làm cho nó nên mạnh mẽ và can đảm, vì chính nó sẽ dẫn đầu dân này qua sông, và chính nó sẽ cho chúng hưởng đất mà ngươi sẽ thấy, làm gia nghiệp.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Vậy chúng ta đã ở lại thung lũng, đối diện với Bết Pơ-o.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giữ luật Chúa là khôn ngoan</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành. Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em. <sup>2</sup> Anh em đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em. <sup>3</sup> Chính mắt anh em đã thấy điều Ðức Chúa làm tại Ba-an Pơ-o: mọi kẻ theo Ba-an Pơ-o thì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã tiêu diệt không cho sống giữa anh (em). <sup>4</sup> Còn anh em, những kẻ gắn bó với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thì hôm nay đều còn sống cả. <sup>5</sup> Hãy xem: tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định như Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. <sup>6</sup> Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: &#8220;Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh!&#8221; <sup>7</sup> Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? <sup>8</sup> Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mặc khải tại núi Khô-rếp</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nhưng anh (em) hãy ý tứ và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh (em) đã thấy, và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh (em); trái lại, anh (em) hãy dạy cho con cháu anh (em) biết. <sup>10</sup> Ngày mà anh (em) đứng trước mặt Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), tại núi Khô-rếp, Ðức Chúa đã phán bảo tôi: &#8220;Hãy tập hợp dân lại cho Ta; Ta sẽ cho chúng nghe những lời của Ta, để chúng học cho biết kính sợ Ta mọi ngày chúng sống trên mặt đất, và để chúng dạy cho con cái chúng.&#8221; <sup>11</sup> Anh em đã lại gần và đứng dưới chân núi; núi bốc lửa cao đến tận trời, trong bóng tối mây đen mù mịt. <sup>12</sup> Ðức Chúa phán với anh em từ trong đám lửa: anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi. <sup>13</sup> Người đã thông báo cho anh em giao ước của Người, giao ước mà Người truyền cho anh em đem ra thực hành, đó là mười lời Người viết trên hai bia đá. <sup>14</sup> Phần tôi, thời đó, Ðức Chúa truyền cho tôi dạy anh em các thánh chỉ và quyết định, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp sang chiếm hữu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Anh em hãy cẩn thận giữ mình: anh em đã không thấy hình bóng nào, ngày Ðức Chúa phán với anh em tại núi Khô-rếp, từ trong đám lửa; <sup>16</sup> vì thế đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì: hình người nam hay người nữ, <sup>17</sup> hình bất cứ loài vật nào trên mặt đất, hình bất cứ loài chim chóc nào bay trên trời, <sup>18</sup> hình bất cứ loài nào bò dưới đất, hình bất cứ loài cá nào ở trong nước phía dưới mặt đất. <sup>19</sup> Khi anh (em) ngước mắt lên trời và thấy mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, toàn thể thiên binh, thì đừng bị lôi cuốn mà sụp xuống lạy và phụng thờ chúng. Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phân chia chúng cho mọi dân thiên hạ. <sup>20</sup> Còn anh em, thì Ðức Chúa đã chọn lấy anh em và đưa ra khỏi cái lò nung sắt là Ai-cập, để anh em trở nên dân Người, nên cơ nghiệp của Người, như ngày nay.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân sẽ bị phạt và trở về với Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Vì anh em, Ðức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với tôi, và Người đã thề là tôi sẽ không được sang sông Gio-đan và không được vào miền đất tốt tươi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp. <sup>22</sup> Tôi sắp phải chết tại đất này: tôi sẽ không được sang sông Gio-đan, còn anh em thì sắp sang và sẽ chiếm hữu miền đất tốt tươi ấy. <sup>23</sup> Anh em hãy ý tứ đừng quên giao ước mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã lập với anh em, đừng làm tượng thờ mang hình ảnh bất cứ cái gì mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã cấm anh (em). <sup>24</sup> Thật vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), là một ngọn lửa thiêu, một vị thần ghen tương.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Khi anh em sinh con cháu và ở lâu trong xứ, nếu anh em ra hư hỏng, làm tượng thờ mang hình ảnh bất cứ cái gì và làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) mà trêu giận Người, <sup>26</sup> thì hôm nay tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh em: chắc chắn anh em sẽ mau chóng biến khỏi miền đất mà anh em sắp sang sông Gio-đan để chiếm hữu; anh em sẽ không sống lâu ở đó, vì anh em sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. <sup>27</sup> Ðức Chúa sẽ phân tán anh em vào giữa các dân, anh em sẽ chỉ còn là một dúm người giữa các dân nước mà Ðức Chúa sẽ dẫn anh em đến. <sup>28</sup> Tại đó anh em sẽ phụng thờ các thần do tay người phàm làm ra, là gỗ và đá, không nhìn không nghe, không ăn không ngửi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Từ chỗ đó anh em sẽ tìm Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và anh (em) sẽ thấy nếu anh (em) hết lòng hết dạ kiếm tìm Người. <sup>30</sup> Khi anh (em) gặp cảnh ngặt nghèo, khi tất cả những điều ấy xảy ra cho anh (em) sau này, anh (em) sẽ trở lại với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) và sẽ nghe tiếng Người. <sup>31</sup> Thật vậy Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) là Thiên Chúa từ bi: Người sẽ không bỏ mặc anh (em), sẽ không tiêu diệt anh (em), sẽ không quên giao ước Người đã thề với cha ông anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðược Chúa chọn là một hồng ân</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Anh (em) cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh (em), từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất; cứ hỏi từ chân trời này đến chân trời kia: có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế, hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng? <sup>33</sup> Có dân nào đã được nghe tiếng Thiên Chúa phán từ trong đám lửa như anh (em) đã nghe, mà vẫn còn sống không? <sup>34</sup> Hoặc có thần nào đã ra công đi chọn lấy cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác, đã dùng bao thử thách, dấu lạ, điềm thiêng và chinh chiến, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, gây kinh hồn táng đởm, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã làm cho anh em tại Ai-cập, trước mắt anh (em) không?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Chính anh (em) đã được cho thấy những điều đó, để biết rằng Ðức Chúa là Thiên Chúa và ngoài Người ra không có thần nào khác nữa. <sup>36</sup> Từ trời, Người đã cho anh (em) nghe tiếng Người, để dạy dỗ anh (em); dưới đất, Người đã cho anh (em) thấy ngọn lửa lớn của Người, và anh (em) đã nghe các lời Người phán ra từ trong đám lửa. <sup>37</sup> Bởi vì Người đã yêu thương cha ông anh (em), nên sau các ngài, Người đã chọn dòng dõi các ngài, và đã đích thân dùng sức mạnh lớn lao của Người đưa anh (em) ra khỏi Ai-cập. <sup>38</sup> Người đã đuổi những dân lớn và mạnh hơn anh (em) cho khuất mắt anh (em), để đưa anh (em) vào đất của chúng và ban cho anh (em) đất ấy làm gia nghiệp, như anh (em) thấy hôm nay.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Vậy hôm nay, anh (em) phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Ðức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa. <sup>40</sup> Anh (em) phải giữ các thánh chỉ và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền cho anh (em); như vậy anh (em) và con cháu anh (em) sau này sẽ được hạnh phúc, và anh (em) sẽ được sống lâu trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), vĩnh viễn ban cho anh (em).&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ba thành làm nơi ẩn náu</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Bấy giờ ông Mô-sê tách ra ba thành ở bên kia sông Gio-đan, về phía đông, <sup>42</sup> làm nơi ẩn náu cho kẻ sát nhân đã ngộ sát người đồng loại, mà trước đó không thù ghét người ấy; nó sẽ vào ẩn náu tại một trong các thành ấy và sẽ được sống. <sup>43</sup> Ðó là: Be-xe, trong sa mạc, trên đất Cao Nguyên, cho chi tộc Rưu-vên; Ra-mốt, trong miền Ga-la-át, cho chi tộc Gát; và Gô-lan, trong miền Ba-san, cho chi tộc Mơ-na-se.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Diễn Từ Thứ Hai Của Ông Mô-Sê</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Ðây là luật mà ông Mô-sê đã trình bày cho con cái Ít-ra-en. <sup>45</sup> Ðây là những thánh ý, thánh chỉ và quyết định mà ông Mô-sê đã công bố cho con cái Ít-ra-en khi họ ra khỏi Ai-cập, <sup>46</sup> lúc họ đang ở bên kia sông Gio-đan, trong thung lũng, đối diện với Bết Pơ-o, trong đất của Xi-khôn, vua người E-mô-ri, đóng đô ở Khét-bôn. Ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en đã đánh bại vua ấy khi họ ra khỏi Ai-cập, <sup>47</sup> đã chiếm hữu đất vua ấy và đất của Ốc, vua miền Ba-san, là hai vua người E-mô-ri ở bên kia sông Gio-đan về phía đông, <sup>48</sup> từ A-rô-e trên mé thung lũng Ác-nôn đến núi Xi-ôn, tức là núi Khéc-môn, <sup>49</sup> với tất cả thung lũng A-ra-va, bên kia sông Gio-đan về phía đông, đến biển A-ra-va, phía dưới sườn núi Pít-ga.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mười điều răn</strong> (Xh 20: 1-17)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Mô-sê triệu tập toàn thể Ít-ra-en và nói với họ: &#8220;Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi nói cho anh em nghe; anh em phải học cho biết những điều ấy và lo đem ra thực hành. <sup>2</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã lập một giao ước với chúng ta tại núi Khô-rếp. <sup>3</sup> Ðức Chúa đã lập giao ước này không phải với cha ông chúng ta, mà là với chúng ta, những người hôm nay đang ở đây, tất cả còn đang sống. <sup>4</sup> Ðức Chúa đã phán với anh em mặt đối mặt, trên núi, từ trong đám lửa. <sup>5</sup> Còn tôi, thời ấy, tôi đứng giữa Ðức Chúa và anh em để thông báo cho anh em lời của Ðức Chúa, vì anh em thấy lửa thì sợ và không lên núi. Người phán:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> &#8220;Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ngươi không được tạc tượng vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. <sup>9</sup> Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Ðối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. <sup>10</sup> Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ngươi không được dùng danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ngươi hãy giữ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi. <sup>13</sup> Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. <sup>14</sup> Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi, cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, bò lừa và mọi gia súc của ngươi, và ngoại kiều ở trong thành của ngươi, để tôi tớ nam nữ của ngươi được nghỉ như ngươi. <sup>15</sup> Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai-cập, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sa-bát.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi, để được sống lâu, và để được hạnh phúc trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa ngươi, ban cho ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ngươi không được giết người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngươi không được ngoại tình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ngươi không được trộm cắp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ngươi không được làm chứng dối hại người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ngươi không được ham muốn vợ người ta, ngươi không được thèm muốn nhà của người ta, đồng ruộng, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.&#8221; <sup>22</sup> Những lời ấy, Ðức Chúa đã phán với toàn thể đại hội anh em, trên núi, từ trong đám lửa, giữa mây đen mù mịt, Người nói lớn tiếng và không thêm gì cả. Người đã viết những lời ấy trên hai bia đá và ban cho tôi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Mô-sê làm trung gian</strong> (Xh 20: 18-21)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Khi anh em nghe tiếng từ giữa bóng tối, và núi đang bốc lửa, thì anh em, tất cả những người đứng đầu các chi tộc và những kỳ mục của anh em, đã đến gặp tôi <sup>24</sup> và nói: &#8220;Này Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, đã cho chúng tôi thấy Người thật vinh quang và vĩ đại, và chúng tôi đã nghe tiếng của Người từ trong đám lửa. Hôm nay chúng tôi đã thấy rằng Thiên Chúa phán với con người mà con người vẫn sống. <sup>25</sup> Bây giờ tại sao chúng tôi phải chết? Vì ngọn lửa lớn này có thể thiêu rụi chúng tôi. Chúng tôi mà cứ tiếp tục nghe tiếng của Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, thì chúng tôi chết mất. <sup>26</sup> Thật vậy, có người phàm nào đã được nghe tiếng của Thiên Chúa hằng sống phán từ trong đám lửa, như chúng tôi đã được nghe, mà vẫn còn sống? <sup>27</sup> Phần ông, ông hãy lại gần và nghe tất cả những gì Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, phán, rồi ông sẽ nói cho chúng tôi tất cả những gì Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, phán với ông; chúng tôi sẽ nghe và đem ra thực hành.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ðức Chúa đã nghe thấy giọng nói của anh em khi anh em nói với tôi; Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ta đã nghe thấy giọng nói của dân này khi chúng nói với ngươi: Tất cả những gì chúng nói là phải. <sup>29</sup> Phải chi chúng luôn luôn có một tấm lòng như thế để kính sợ Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta mọi ngày, như vậy chúng và con cái chúng sẽ được hạnh phúc mãi mãi! <sup>30</sup> Ngươi hãy đi bảo chúng: &#8220;Anh em hãy trở về lều! <sup>31</sup> Còn ngươi, đứng lại đây với Ta; Ta sẽ phán với ngươi tất cả mệnh lệnh, các thánh chỉ và quyết định mà ngươi sẽ dạy cho chúng, ngõ hầu chúng đem ra thực hành trong đất mà Ta ban cho chúng để chúng chiếm hữu.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Yêu mến Chúa: điểm chủ yếu của lề luật</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Anh em hãy lo thực hành như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải bên trái. <sup>33</sup> Anh em hãy đi đúng con đường mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em, để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em sẽ chiếm hữu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là mệnh lệnh, là những thánh chỉ và quyết định mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền phải dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành trong đất anh em sắp sang chiếm hữu. <sup>2</sup> Như vậy anh (em) cũng như con cháu anh (em) sẽ kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh (em), và anh (em) sẽ được sống lâu. <sup>3</sup> Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy anh (em) sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh (em), đã phán với anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất. <sup>5</sup> Hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em). <sup>6</sup> Những lời này tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh (em) phải ghi tạc vào lòng. <sup>7</sup> Anh (em) phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, <sup>8</sup> phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, <sup>9</sup> phải viết lên khung cửa nhà anh (em), và lên cửa thành của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đưa anh (em) vào đất Người đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho anh (em); khi anh (em) được những thành lớn và đẹp mà anh (em) đã không xây, <sup>11</sup> những nhà đầy mọi thứ của cải mà anh (em) đã không để vào đó, những bể nước đào sẵn mà anh (em) đã không đào, những vườn nho và vườn ô-liu mà anh (em) đã không trồng; khi anh (em) được ăn uống no nê, <sup>12</sup> thì phải ý tứ đừng quên Ðức Chúa, Ðấng đã đưa anh (em) ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. <sup>13</sup> Chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), là Ðấng anh (em) phải kính sợ; chính Người là Ðấng anh (em) phải phụng thờ; anh (em) sẽ nhân danh Người mà thề.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kêu gọi trung thành</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, <sup>15</sup> vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), Ðấng ở giữa anh (em), là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), nổi cơn thịnh nộ với anh (em) và tiêu diệt anh (em), không còn cho sống trên mặt đất. <sup>16</sup> Anh em đừng thách thức Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã thách thức ở Ma-xa. <sup>17</sup> Phải cẩn thận giữ các mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, cũng như các thánh ý và thánh chỉ Người đã truyền cho anh (em). <sup>18</sup> Anh (em) phải làm điều Ðức Chúa coi là ngay thẳng và tốt lành, để anh (em) được hạnh phúc và được vào chiếm hữu miền đất tốt tươi mà Ðức Chúa đã thề hứa với cha ông anh (em): <sup>19</sup> Ðức Chúa sẽ đẩy lui mọi kẻ thù của anh (em) cho khuất mắt anh (em), như Người đã phán.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Mai ngày khi con anh (em) hỏi anh (em) rằng: &#8220;Vì sao có các thánh ý, thánh chỉ, quyết định mà Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã truyền cho quý vị?&#8221; <sup>21</sup> Anh (em) sẽ trả lời cho con anh (em): &#8220;Chúng ta xưa làm nô lệ cho Pha-ra-ô bên Ai-cập, nhưng Ðức Chúa đã ra tay uy quyền đưa chúng ta ra khỏi Ai-cập. <sup>22</sup> Trước mắt chúng ta, Ðức Chúa đã thực hiện những điềm thiêng dấu lạ lớn lao và khủng khiếp, phạt Ai-cập, phạt Pha-ra-ô và tất cả triều đình vua ấy. <sup>23</sup> Còn chúng ta, Người đã đưa ra khỏi đó, để dẫn chúng ta vào và ban cho chúng ta đất Người đã thề hứa với cha ông chúng ta. <sup>24</sup> Ðức Chúa đã truyền cho chúng ta đem ra thực hành tất cả những thánh chỉ này và kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, để chúng ta được hạnh phúc mọi ngày và để Người cho chúng ta được sống, như ngày hôm nay. <sup>25</sup> Chúng ta sẽ là người công chính, nếu chúng ta lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh này trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, như Người đã truyền cho chúng ta.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en, một dân được tách riêng ra</strong> (Xh 34: 11-16)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đưa anh (em) vào đất anh (em) sắp đến chiếm hữu, khi Người đuổi cho khuất mắt anh (em) nhiều dân tộc: người Khết, Ghia-ga-si, E-mô-ri, Ca-na-an, Pơ-rít-di, Khi-vi, Giơ-vút, bảy dân tộc đông và mạnh hơn anh (em); <sup>2</sup> khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), trao chúng cho anh (em) và anh (em) đánh bại chúng, thì anh (em) phải tru hiến chúng, không được lập giao ước với chúng và không được thương xót chúng. <sup>3</sup> Anh (em) không được kết nghĩa thông gia với chúng: không được gả con gái anh (em) cho con trai chúng và cưới con gái chúng cho con trai anh (em), <sup>4</sup> vì điều đó sẽ khiến con trai anh (em) không còn theo Ðức Chúa nữa, nó sẽ thờ những thần khác; bấy giờ Ðức Chúa sẽ nổi cơn thịnh nộ với anh (em) và sẽ mau chóng tiêu diệt anh (em). <sup>5</sup> Nhưng anh (em) phải xử với chúng thế này: bàn thờ của chúng, phải phá huỷ; trụ đá của chúng, phải đập tan; cột thờ của chúng, phải chặt đi; tượng thần của chúng, phải bỏ vào lửa mà thiêu. <sup>6</sup> Thật vậy, anh (em) là một dân thánh hiến cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) đã chọn anh (em) từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chúa chọn và ưu đãi Ít-ra-en</strong> (Ðnl 28: 1-14)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ðức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. <sup>8</sup> Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Ðức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pha-ra-ô, vua Ai-cập. <sup>9</sup> Anh (em) phải biết rằng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành: cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người. <sup>10</sup> Còn ai thù ghét Người, thì Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa, khiến nó phải chết; với kẻ thù ghét Người, Người không trì hoãn, Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa. <sup>11</sup> Vậy anh (em) phải tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định mà hôm nay tôi truyền cho anh (em) đem ra thực hành.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nếu anh em nghe, giữ và đem ra thực hành các quyết định này, thì bù lại, đối với anh (em), Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ giữ giao ước và tình thương mà Người đã thề hứa với cha ông anh (em). <sup>13</sup> Người sẽ yêu thương anh (em), chúc phúc cho anh (em), sẽ làm cho anh (em) nên đông đúc. Người sẽ chúc phúc làm cho lòng dạ và đất đai của anh (em) sinh hoa kết quả: lúa mì, rượu mới, dầu tươi, lứa bò, lứa chiên, ở trên đất mà Người đã thề với cha ông anh (em) là sẽ ban cho anh (em). <sup>14</sup> Anh (em) sẽ được phúc lành hơn mọi dân, và giữa anh (em) không đàn ông, đàn bà nào không có khả năng sinh con, gia súc của anh (em) cũng vậy. <sup>15</sup> Ðức Chúa sẽ đẩy xa anh (em) mọi bệnh tật, mọi dịch tễ khốc hại của Ai-cập mà anh (em) từng biết; Người sẽ không giáng những thứ đó xuống anh (em), nhưng sẽ bắt những kẻ ghét anh (em) phải chịu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Anh (em) sẽ thôn tính mọi dân mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em); đừng nhìn chúng mà thương hại và đừng phụng thờ các thần của chúng: điều đó có thể trở thành cạm bẫy cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quyền lực của Thiên Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Có khi anh (em) sẽ tự bảo: &#8220;Những dân tộc ấy đông hơn ta, làm sao ta có thể trục xuất chúng được?&#8221; <sup>18</sup> Nhưng anh (em) đừng sợ chúng. Anh (em) chỉ cần nhớ lại cách Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã xử với Pha-ra-ô và toàn cõi Ai-cập: <sup>19</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) đã dùng các thử thách lớn lao mắt anh (em) từng thấy, đã dùng các dấu lạ điềm thiêng, và dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền để đưa anh (em) ra. Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ xử như thế với mọi dân mà anh (em) sợ. <sup>20</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ gởi cả ong bầu đến với chúng, cho đến khi những kẻ còn lại, những kẻ trốn tránh để khỏi giáp mặt anh (em), bị tiêu diệt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðừng run khiếp trước mặt chúng, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở giữa anh (em), là một Thiên Chúa vĩ đại, khả uý. <sup>22</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ dần dần đuổi các dân tộc đó cho khuất mắt anh (em); anh (em) sẽ không thể tận diệt chúng mau chóng, kẻo dã thú sinh sôi nảy nở làm hại anh (em). <sup>23</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ trao chúng cho anh (em) và sẽ làm cho chúng vô cùng hoảng sợ, cho đến khi chúng bị tiêu diệt. <sup>24</sup> Người sẽ trao các vua của chúng vào tay anh (em), anh (em) sẽ làm cho tên chúng biến mất không còn dấu vết trong thiên hạ, và không ai sẽ đứng vững được trước mặt anh (em), cho đến khi anh (em) tiêu diệt chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Tượng các thần của chúng, anh (em) phải bỏ vào lửa mà thiêu. Anh (em) đừng ham muốn bạc vàng trên các tượng ấy mà lấy cho mình, kẻo anh (em) bị mắc bẫy, vì đó là vật ghê tởm đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). <sup>26</sup> Anh (em) đừng đưa một vật ghê tởm vào nhà anh (em), vì anh (em) sẽ trở thành của tru hiến như nó. Anh (em) phải kỵ nó và ghê tởm nó, vì nó là của tru hiến.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thử thách trong sa mạc</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Tất cả mệnh lệnh mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh em hãy lo đem ra thực hành để anh em được sống, được trở nên đông đúc và được vào chiếm hữu đất mà Ðức Chúa đã thề hứa với cha ông anh em. <sup>2</sup> Anh (em) phải nhớ lại tất cả con đường mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã dẫn anh (em) đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh (em) phải cùng cực; như vậy Người thử thách anh (em) cho biết lòng dạ anh (em), xem anh (em) có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. <sup>3</sup> Người đã bắt anh (em) phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh (em) ăn man-na là của ăn anh (em) chưa từng biết và cha ông anh (em) cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh (em) nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Ðức Chúa phán ra. <sup>4</sup> Bốn mươi năm qua, áo anh (em) mặc đã không rách, chân anh (em) đã không sưng lên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Suy nghĩ lại, anh (em) phải nhận biết rằng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), giáo dục anh (em), như một người giáo dục con mình. <sup>6</sup> Anh (em) phải giữ các mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà đi theo đường lối của Người và kính sợ Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðề phòng các cám dỗ khi vào đất hứa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sắp đưa anh (em) vào một miền đất tốt tươi, miền đất có những dòng nước, những suối, những mạch nước ngầm chảy ra trong đồng bằng và trên núi, <sup>8</sup> miền đất có lúa mì, lúa mạch, cây nho, cây vả, cây lựu, miền đất có cây ô-liu để ép dầu và có mật ong, <sup>9</sup> miền đất ở đó anh (em) sẽ ăn bánh mà không bị hạn chế, ở đó anh (em) sẽ không thiếu thốn gì, miền đất mà đá là sắt, và núi có đồng cho anh (em) khai thác. <sup>10</sup> Anh (em) sẽ được ăn, sẽ được no nê và sẽ chúc tụng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), vì miền đất tốt tươi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Anh (em) hãy ý tứ đừng quên Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà không giữ các mệnh lệnh, quyết định và thánh chỉ của Người, mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay. <sup>12</sup> Khi anh (em) được ăn, được no nê, khi anh (em) xây nhà đẹp để ở, <sup>13</sup> khi anh (em) có nhiều bò và chiên dê, nhiều vàng bạc và nhiều mọi thứ của cải, <sup>14</sup> thì lòng anh (em) đừng kiêu ngạo mà quên Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), Ðấng đã đưa anh (em) ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. <sup>15</sup> Người đã dẫn anh (em) đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá hoa cương chảy ra cho anh (em) uống. <sup>16</sup> Trong sa mạc, Người đã cho anh (em) ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh (em) chưa từng biết, để bắt anh (em) phải cùng cực và thử thách anh (em), hầu làm cho anh (em) được hạnh phúc trong tương lai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Anh (em) đừng tự bảo: &#8220;Chính năng lực của tôi và sức mạnh bàn tay tôi đã tạo ra cho tôi sự giàu có này.&#8221; <sup>18</sup> Anh (em) hãy nhớ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), vì Người ban cho anh (em) năng lực tạo ra sự giàu có, để Người giữ vững giao ước đã thề với cha ông anh (em), như anh (em) thấy hôm nay. <sup>19</sup> Nhưng nếu chẳng may anh (em) quên lãng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp xuống lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong; <sup>20</sup> như các dân mà Ðức Chúa sắp tiêu diệt cho khuất mắt anh em, anh em cũng sẽ bị diệt vong như vậy, vì đã không nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến thắng là nhờ Chúa, chứ không phải vì Ít-ra-en công chính</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Hôm nay anh (em) sắp qua sông Gio-đan để vào trục xuất những dân tộc lớn và mạnh hơn anh (em), có những thành lớn và tường luỹ ngất trời, <sup>2</sup> một dân lớn và cao, là con cái A-nác, mà anh (em) biết và anh (em) đã nghe nói: &#8220;Ai đứng vững được trước mặt con cái A-nác?&#8221; <sup>3</sup> Hôm nay, anh (em) phải biết rằng: chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đi qua trước mặt anh (em) như ngọn lửa thiêu; chính Người sẽ tiêu diệt chúng, chính Người sẽ hạ chúng xuống trước mặt anh (em). Anh (em) sẽ trục xuất chúng, sẽ làm chúng bị diệt vong mau lẹ, như Người đã phán với anh (em). <sup>4</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đẩy lui chúng cho khuất mắt anh (em) thì anh (em) đừng tự bảo rằng: &#8220;Chính vì tôi công chính mà Ðức Chúa đã đưa tôi vào chiếm hữu đất này&#8221;; thật ra chính vì các dân tộc ấy có tội mà Ðức Chúa trục xuất chúng cho khuất mắt anh (em). <sup>5</sup> Không phải vì anh (em) công chính hay vì lòng anh (em) ngay thẳng mà anh (em) sắp được vào chiếm hữu đất của chúng, nhưng chính vì các dân tộc ấy có tội mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), trục xuất chúng cho khuất mắt anh (em). Ðức Chúa làm như vậy để giữ vững lời Người đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp. <sup>6</sup> Anh (em) phải biết rằng không phải vì anh (em) công chính mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) miền đất tốt tươi ấy để anh (em) chiếm hữu; thật vậy, anh (em) là một dân cứng cổ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân phạm tội tại núi Khô-rếp. Ông Mô-sê cầu thay cho dân.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Anh (em) phải nhớ, đừng quên rằng anh (em) đã chọc giận Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), trong sa mạc. Từ ngày anh (em) ra khỏi đất Ai-cập cho đến khi tới đây, anh em đã phản nghịch chống lại Ðức Chúa. <sup>8</sup> Tại núi Khô-rếp, anh em đã chọc giận Ðức Chúa, và Người đã nổi cơn thịnh nộ với anh em đến nỗi muốn tiêu diệt anh em. <sup>9</sup> Khi lên núi để nhận các bia đá, những tấm bia giao ước mà Ðức Chúa đã lập với anh em, tôi đã ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn bánh, không uống nước. <sup>10</sup> Ðức Chúa đã ban cho tôi hai bia đá do ngón tay Thiên Chúa viết, trên đó có mọi lời Ðức Chúa đã phán với anh em trên núi, từ trong đám lửa, trong ngày đại hội. <sup>11</sup> Sau bốn mươi ngày bốn mươi đêm, Ðức Chúa ban cho tôi hai bia đá, là những tấm bia giao ước. <sup>12</sup> Bấy giờ, Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ðứng lên! Mau xuống khỏi đây, vì dân của ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa ra khỏi Ai-cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta đã truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một tượng để thờ.&#8221; <sup>13</sup> Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ta thấy rằng dân này là một dân cứng cổ. <sup>14</sup> Cứ để mặc Ta làm, Ta sẽ tiêu diệt chúng, sẽ xoá tên chúng không còn dấu vết trong thiên hạ. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc mạnh và đông hơn chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Tôi đã quay xuống núi, bấy giờ núi đang bốc lửa, hai tay tôi cầm hai tấm bia giao ước. <sup>16</sup> Tôi đã thấy anh em phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em: anh em đã đúc tượng một con bê để thờ, anh em đã vội đi ra ngoài con đường Ðức Chúa đã truyền cho anh em đi. <sup>17</sup> Tôi bèn nắm lấy hai bia đá, dùng hai tay mà ném, và đập vỡ hai tấm bia đó trước mắt anh em. <sup>18</sup> Tôi đã phục xuống trước mặt Ðức Chúa; như lần trước, suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, tôi không ăn bánh, không uống nước, vì mọi tội anh em đã phạm, khi làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa mà trêu giận Người. <sup>19</sup> Ấy vì tôi kinh hãi cơn thịnh nộ và trận lôi đình của Ðức Chúa đang bùng lên chống lại anh em, đến nỗi Người muốn tiêu diệt anh em; nhưng cả lần này nữa Ðức Chúa cũng nhận lời tôi. <sup>20</sup> Với ông A-ha-ron, Ðức Chúa cũng nổi cơn thịnh nộ dữ dội, đến nỗi muốn tiêu diệt ông ấy; lúc đó, tôi cũng cầu xin cho ông A-ha-ron nữa. <sup>21</sup> Còn sản phẩm tội lỗi anh em đã làm ra, là con bê, tôi đã lấy, bỏ vào lửa mà thiêu, nghiền nát, tán kỹ, đến nhuyễn thành bụi, rồi ném bụi đó xuống khe nước từ núi chảy ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những tội khác của dân. Ông Mô-sê cầu nguyện.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Tại Táp-ê-ra, Ma-xa và Kíp-rốt Ha Ta-a-va, anh em đã chọc giận Ðức Chúa. <sup>23</sup> Khi Ðức Chúa sai anh em đi từ Ca-đê Bác-nê-a và phán: &#8220;Hãy lên và chiếm hữu đất Ta ban cho các ngươi&#8221;, anh em đã cưỡng lệnh Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã không tin vào Người và không nghe tiếng Người. <sup>24</sup> Anh em đã phản nghịch chống lại Ðức Chúa từ ngày tôi biết anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Tôi đã phục xuống trước mặt Ðức Chúa, suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm tôi đã phục xuống, vì Ðức Chúa đã nói đến chuyện tiêu diệt anh em. <sup>26</sup> Tôi cầu xin Ðức Chúa và thưa rằng: &#8220;Lạy Chúa là Ðức Chúa, xin đừng huỷ diệt dân ngài, cơ nghiệp Ngài đã dùng sức mạnh lớn lao của Ngài để giải thoát, và đã ra tay uy quyền đưa ra khỏi Ai-cập. <sup>27</sup> Xin nhớ đến các tôi tớ Ngài là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, xin đừng để ý đến sự ngoan cố, sự gian ác và tội của dân này, <sup>28</sup> kẻo tại miền đất từ đó Ngài đã đưa chúng con ra, người ta lại nói: &#8220;Chính vì Ðức Chúa đã không thể đưa chúng vào đất Người đã thề hứa với chúng, và chính vì ghét chúng mà Người đã đưa chúng ra để giết chúng trong sa mạc! <sup>29</sup> Thế nhưng đó là dân Ngài, cơ nghiệp Ngài đã dùng sức mạnh lớn lao và cánh tay uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chúa truyền làm Hòm Bia. Chi tộc Lê-vi được chọn.</strong> (Xh 34: 1-10)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thời ấy, Ðức Chúa phán bảo tôi: &#8220;Hãy đẽo hai bia đá như những bia trước, và lên núi với Ta. Ngươi cũng hãy làm một hòm gỗ. <sup>2</sup> Ta sẽ viết trên các bia những lời đã có trên các bia trước mà ngươi đã đập vỡ, và ngươi hãy đặt các bia ấy trong hòm.&#8221; <sup>3</sup> Tôi đã làm một hòm bằng gỗ keo, và đẽo hai bia đá như những bia trước, và đã lên núi, trong tay cầm hai bia đá. <sup>4</sup> Người đã viết trên các bia điều đã viết lần trước, là mười lời Ðức Chúa đã phán với anh em trên núi, từ trong đám lửa, trong ngày đại hội. Rồi Ðức Chúa ban những bia đó cho tôi. <sup>5</sup> Tôi quay xuống núi, đặt các bia vào hòm tôi đã làm, và các bia vẫn còn đó, như Ðức Chúa đã truyền cho tôi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Từ những giếng Bơ-nê Gia-a-can, con cái Ít-ra-en lên đường đi Mô-xê-ra. Ông A-ha-ron qua đời và được chôn cất tại đó. Ông E-la-da, con ông, thi hành chức vụ tư tế thay ông. <sup>7</sup> Từ chỗ đó, họ lên đường đi Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đi Giót-va-tha, một đất có nhiều khe nước. <sup>8</sup> Thời ấy, Ðức Chúa tách chi tộc Lê-vi ra, để họ mang Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, chầu chực trước nhan Ðức Chúa, phụng sự Người và chúc phúc nhân danh Người, cho đến ngày nay. <sup>9</sup> Vì thế, chi tộc Lê-vi không được chung phần và hưởng gia nghiệp với anh em mình; chính Ðức Chúa là gia nghiệp của họ, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phán với họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Phần tôi, tôi ở trên núi, như những ngày trước, suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, và cả lần này nữa Ðức Chúa cũng nhận lời tôi: Người đã không muốn huỷ diệt anh (em). <sup>11</sup> Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Ðứng dậy! hãy lên đường và đi phía trước dân, để chúng vào chiếm hữu đất mà Ta đã thề với cha ông chúng rằng Ta sẽ ban cho chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cắt bì trong tâm hồn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, nào Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), có đòi hỏi anh (em) điều gì khác đâu, ngoài việc phải kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo mọi đường lối của Người, yêu mến phụng thờ Người hết lòng, hết dạ, <sup>13</sup> giữ các mệnh lệnh của Ðức Chúa và các thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay, để anh (em) được hạnh phúc?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), làm chủ cõi trời và các tầng trời cao nhất, cõi đất và muôn loài trong đó. <sup>15</sup> Nhưng chỉ có cha ông của anh (em) là được Ðức Chúa đem lòng quyến luyến yêu thương; sau các ngài, giữa muôn dân, Người đã chọn dòng dõi các ngài tức là anh em, như anh em thấy ngày hôm nay. <sup>16</sup> Vậy anh em hãy cắt bì tâm hồn anh em và đừng cứng cổ nữa, <sup>17</sup> vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả uý, là Ðấng không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ, <sup>18</sup> là Ðấng xử công minh cho cô nhi quả phụ, và yêu thương ngoại kiều, cho họ bánh ăn áo mặc. <sup>19</sup> Anh em phải yêu thương ngoại kiều, vì anh em đã từng là ngoại kiều ở đất Ai-cập. <sup>20</sup> Chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), là Ðấng anh (em) phải kính sợ; chính Người là Ðấng anh (em) phải phụng thờ; anh (em) phải gắn bó với Người; anh (em) sẽ nhân danh Người mà thề; <sup>21</sup> chính Người là Ðấng anh (em) phải ca tụng; chính Người là Thiên Chúa của anh (em), Ðấng đã làm cho anh (em) những điều lớn lao và khủng khiếp mà chính mắt anh (em) đã thấy đó. <sup>22</sup> Cha ông của anh (em) chỉ có bảy mươi người khi xuống Ai-cập, mà bây giờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã làm cho anh (em) nên nhiều như sao trên trời.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kinh nghiệm của Ít-ra-en</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Anh (em) phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và mọi ngày phải giữ điều Người truyền giữ, là các thánh chỉ, quyết định và mệnh lệnh của Người. <sup>2</sup> Hôm nay, anh em &#8211; chứ không phải con cái anh em, những kẻ không biết và không thấy &#8211; anh em biết bài học Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã dạy, biết sức mạnh lớn lao và cánh tay mạnh mẽ uy quyền của Người; <sup>3</sup> anh em biết những dấu lạ và hành động Người đã làm ngay tại Ai-cập chống lại Pha-ra-ô, vua Ai-cập, và cả nước vua ấy; <sup>4</sup> anh em biết việc Người đã làm chống quân đội Ai-cập cùng với chiến mã và chiến xa của chúng, khi Người cho nước Biển Sậy tràn ngập lên chúng, đang lúc chúng đuổi theo anh em, và Ðức Chúa đã huỷ diệt chúng cho đến ngày nay; <sup>5</sup> anh em biết việc Người đã làm cho anh em trong sa mạc cho đến khi anh em tới đất này; <sup>6</sup> anh em biết việc Người đã làm để phạt Ða-than và A-vi-ram, là con của Ê-li-áp thuộc chi tộc Rưu-vên, khi đất há miệng nuốt chúng ngay giữa toàn thể Ít-ra-en, cùng với gia đình chúng, lều chúng và mọi kẻ theo bước chân chúng. <sup>7</sup> Chính mắt anh em đã thấy tất cả hành động lớn lao Ðức Chúa đã làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hứa hẹn và cảnh cáo</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Vậy anh em phải giữ tất cả mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay, để anh em được mạnh sức và vào chiếm hữu đất anh em sắp sang chiếm hữu, <sup>9</sup> và để anh em được sống lâu trên đất, mà Ðức Chúa đã thề với cha ông anh em là sẽ ban cho các ngài và dòng dõi các ngài, một đất tràn trề sữa và mật.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Thật vậy, đất anh (em) sắp vào chiếm hữu không như đất Ai-cập mà anh em đã bỏ ra đi: ở đó anh em gieo giống rồi phải dùng chân mà tưới như tưới vườn rau. <sup>11</sup> Còn đất mà anh em sắp sang chiếm hữu là một miền đất có núi non và thung lũng, thấm nước mưa trời, <sup>12</sup> miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chăm sóc: Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), luôn luôn để mắt tới đất ấy, từ đầu năm đến cuối năm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nếu các ngươi thực sự vâng nghe những mệnh lệnh Ta truyền cho các ngươi hôm nay, mà yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, và phụng thờ Người hết lòng hết dạ, <sup>14</sup> thì Ta sẽ ban mưa cho đất các ngươi đúng mùa, mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, và (các) ngươi sẽ thu hoạch lúa mì, rượu mới và dầu tươi của (các) ngươi. <sup>15</sup> Ta sẽ cho cỏ mọc trong cánh đồng của (các) ngươi, cho súc vật của (các) ngươi ăn. (Các) ngươi sẽ được ăn và được no nê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Anh em hãy ý tứ kẻo lòng anh em bị quyến rũ mà bỏ đi phụng thờ những thần khác và sụp xuống lạy chúng, <sup>17</sup> vì Ðức Chúa sẽ nổi cơn thịnh nộ với anh em, Người sẽ đóng cửa trời: sẽ chẳng còn mưa, đất sẽ không còn trổ sinh hoa trái, và anh em sẽ mau chóng biến khỏi miền đất tốt tươi mà Ðức Chúa ban cho anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Những lời tôi nói đây, anh em phải ghi lòng tạc dạ, phải buộc vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu. <sup>19</sup> Anh em phải dạy những lời ấy cho con cái, mà nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy. <sup>20</sup> Anh em phải viết lên khung cửa nhà anh (em) và lên cửa thành của anh (em). <sup>21</sup> Như vậy, bao lâu trời còn che đất, anh em và con cái anh em còn được sống trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã thề với cha ông anh em rằng Người sẽ ban cho các ngài.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nếu anh em cẩn thận giữ tất cả mệnh lệnh tôi truyền cho anh em đem ra thực hành, mà yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo mọi đường lối của Người và gắn bó với Người, <sup>23</sup> thì Ðức Chúa sẽ trục xuất mọi dân tộc ấy cho khuất mắt anh em, và anh em sẽ trục xuất những dân tộc lớn và mạnh hơn anh em. <sup>24</sup> Mọi nơi bàn chân anh em giẫm lên sẽ là của anh em: từ sa mạc và núi Li-băng, từ Sông Cả, là sông Êu-phơ-rát, cho đến Biển Tây, sẽ là lãnh thổ của anh em. <sup>25</sup> Không ai sẽ đứng vững được trước mặt anh em; Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ làm cho tất cả miền đất anh em giẫm lên phải kinh khiếp sợ hãi anh em, như Người đã phán với anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc được chúc phúc hoặc bị nguyền rủa. <sup>27</sup> Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà tôi truyền cho anh em hôm nay. <sup>28</sup> Anh em sẽ bị nguyền rủa, nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nếu anh em bỏ con đường hôm nay tôi truyền cho anh em phải đi, mà theo những thần khác anh em không biết. <sup>29</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã đưa anh (em) tới đất mà anh (em) đang vào chiếm hữu, anh (em) sẽ đặt lời chúc phúc trên núi Ga-ri-dim và lời nguyền rủa trên núi Ê-van. &#8211; <sup>30</sup> Những núi ấy ở bên kia sông Gio-đan, trên con đường phía tây, trong đất người Ca-na-an là người ở miền A-ra-va, đối diện với Ghin-gan, bên cạnh cụm sồi Mô-re. &#8211; <sup>31</sup> Thật vậy, anh em sắp sang sông Gio-đan để vào chiếm hữu đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ban cho anh em. Anh em sẽ chiếm hữu và ở trong đất ấy. <sup>32</sup> Vậy anh em phải lo đem ra thực hành mọi thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi trình bày cho anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">II. Bộ Ðệ Nhị Luật</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là những thánh chỉ và quyết định mà anh em phải lo đem ra thực hành, trong đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh (em), đã ban cho anh (em) để anh (em) chiếm hữu, mọi ngày anh em sống trên mặt đất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nơi thờ phượng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Anh em phải dẹp bỏ hết mọi nơi mà các dân tộc anh em sắp trục xuất đã phụng thờ các thần của chúng, trên các núi cao, các ngọn đồi và dưới mọi cây xanh. <sup>3</sup> Anh em phải phá huỷ bàn thờ của chúng, đập tan trụ đá của chúng; cột thờ của chúng, anh em phải bỏ vào lửa mà thiêu; tượng các thần của chúng, anh em phải vằm nát; anh em phải xoá bỏ tên chúng khỏi nơi ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Anh em không được làm như vậy đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. <sup>5</sup> Anh em sẽ chỉ được tìm Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ở nơi Người chọn trong mọi chi tộc của anh em làm chỗ đặt Danh Người, làm nơi Người ngự; anh (em) sẽ đến đó. <sup>6</sup> Anh em sẽ đưa tới đó lễ toàn thiêu và hy lễ của anh em, thuế thập phân và phần dâng cúng của anh em, lễ vật anh em đã khấn hứa, lễ vật tự nguyện, những con đầu lòng trong đàn bò và đàn chiên dê của anh em. <sup>7</sup> Ở đó, anh em sẽ ăn uống trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ liên hoan với cả nhà anh em, để mừng mọi công việc tay anh em đã làm, nhờ được Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Anh em sẽ không làm như chúng ta đang làm ở đây hôm nay: mỗi người làm điều mình cho là phải. <sup>9</sup> Thật vậy, cho đến bây giờ anh em chưa đạt tới chốn nghỉ ngơi và phần gia nghiệp mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). <sup>10</sup> Anh em sắp sang qua sông Gio-đan và ở trong đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, cho anh em hưởng làm gia nghiệp. Người sẽ cho anh em được thảnh thơi mọi bề không còn thù địch nào nữa, và anh em sẽ được sống yên hàn. <sup>11</sup> Nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, chọn cho Danh Người ngự, anh em hãy đưa tới đó mọi thứ tôi truyền cho anh em: lễ toàn thiêu và hy lễ của anh em, thuế thập phân và phần đóng góp của anh em, và tất cả những gì anh em chọn lựa để làm vật khấn dâng Ðức Chúa. <sup>12</sup> Anh em sẽ liên hoan trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, cùng với con trai con gái anh em, tôi tớ nam nữ của anh em, với thầy Lê-vi ở trong các thành của anh em, vì thầy ấy không được chung phần và hưởng gia nghiệp với anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chỉ dẫn về việc dâng lễ tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Hãy ý tứ đừng dâng lễ toàn thiêu của anh (em) tại bất cứ nơi nào anh (em) thấy; <sup>14</sup> nhưng anh (em) sẽ chỉ dâng lễ toàn thiêu của anh (em) ở nơi Ðức Chúa chọn tại một trong các chi tộc của anh (em), và ở đó anh (em) sẽ làm mọi điều tôi truyền cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Tuy nhiên, mỗi khi anh (em) thèm, anh (em) có thể giết súc vật và ăn thịt trong mọi thành của anh (em), tuỳ theo phúc lành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) ban cho anh em. Người ô uế và người thanh sạch đều có thể ăn thịt đó như ăn thịt sơn dương hay thịt nai. <sup>16</sup> Nhưng tiết thì anh em không được ăn; anh (em) sẽ đổ xuống đất như đổ nước.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Thuế thập phân lúa mì, rượu mới, dầu tươi của anh (em), những con đầu lòng trong đàn bò và đàn chiên dê của anh (em), mọi lễ vật anh (em) đã khấn hứa, lễ vật tự nguyện và phần dâng cúng của anh (em), anh (em) sẽ không được ăn những thứ đó trong các thành của anh (em); <sup>18</sup> nhưng chỉ được ăn trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) chọn, và ăn cùng với con trai con gái anh em, tôi tớ nam nữ của anh em, và thầy Lê-vi ở trong các thành của anh (em); anh (em) sẽ liên hoan trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), để mừng mọi công việc tay anh (em) đã làm. <sup>19</sup> Ngày nào anh (em) còn trên đất của anh (em), hãy ý tứ đừng bỏ rơi thầy Lê-vi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mở rộng lãnh thổ của anh (em), như Người đã phán với anh (em), và anh (em) nói: &#8220;Tôi muốn ăn thịt&#8221;, vì anh (em) thèm ăn thịt, thì anh (em) có thể ăn thịt mỗi khi anh (em) thèm. <sup>21</sup> Nếu nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn làm chỗ đặt Danh Người mà ở xa anh (em), thì anh (em) có thể giết bò và chiên dê Ðức Chúa ban cho anh (em), như tôi đã truyền cho anh (em), và ăn trong các thành của anh (em), mỗi khi anh (em) thèm. <sup>22</sup> Anh (em) sẽ ăn y như người ta ăn thịt sơn dương và thịt nai; người ô uế và người thanh sạch sẽ cùng ăn với nhau. <sup>23</sup> Tuy nhiên, anh (em) phải nhất quyết không ăn tiết, vì máu là mạng sống, và anh (em) không được ăn mạng sống cùng với thịt. <sup>24</sup> Anh (em) không được ăn tiết, anh (em) sẽ đổ xuống đất như đổ nước. <sup>25</sup> Anh (em) không được ăn tiết; như vậy anh (em) và con cháu anh (em) sau này được hạnh phúc, vì anh (em) làm điều Ðức Chúa coi là ngay thẳng. <sup>26</sup> Chỉ những gì anh (em) phải thánh hiến và những lễ vật anh (em) khấn hứa, anh (em) mới mang đi và đưa tới nơi Ðức Chúa chọn. <sup>27</sup> Anh (em) hãy dâng lễ toàn thiêu của anh (em), cả thịt lẫn máu, trên bàn thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em); còn hy lễ của anh (em), thì máu sẽ đổ trên bàn thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thịt thì anh (em) sẽ ăn. <sup>28</sup> Anh (em) phải giữ và nghe những điều tôi truyền cho anh (em) đây, để anh (em) và con cái anh (em) sau này được hạnh phúc mãi mãi, bởi vì anh (em) đã làm điều Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), coi là tốt lành và ngay thẳng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðừng bắt chước các việc tế tự của người Ca-na-an</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã quét sạch các dân tộc khỏi miền đất anh (em) sắp vào để trục xuất chúng cho khuất mắt anh (em), khi anh (em) đã định cư trên đất của chúng rồi, <sup>30</sup> thì hãy ý tứ đừng mắc bẫy mà theo chúng, sau khi chúng đã bị tiêu diệt cho khuất mắt anh (em); hãy ý tứ đừng tìm các thần của chúng và nói: &#8220;Các dân tộc ấy phụng thờ các thần của họ thế nào? Cả tôi nữa, tôi cũng muốn làm như thế.&#8221; <sup>31</sup> Anh (em) đừng thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), như thế, vì tất cả đều ghê tởm đối với Ðức Chúa; điều Người ghét, thì chúng đã làm cho các thần của chúng; ngay cả các con trai con gái của chúng, chúng cũng đã bỏ vào lửa mà thiêu để tế các thần của chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Tất cả điều tôi truyền cho anh em, anh em hãy lo đem ra thực hành; anh (em) đừng thêm gì vào đó cũng đừng bớt gì.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðề phòng kẻo bị lôi cuốn thờ thần ngoại</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Nếu ở giữa anh (em) xuất hiện một ngôn sứ hay một kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh (em) một dấu lạ hay một điềm thiêng, <sup>3</sup> nếu dấu lạ hay điềm thiêng nó đã nói xảy ra, và nó bảo: &#8220;Chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác&#8221;, những thần mà anh (em) không biết, <sup>4</sup> thì anh (em) đừng nghe những lời của ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. <sup>5</sup> Chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Ðấng anh em phải theo; chính Người là Ðấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Ðấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với Người. <sup>6</sup> Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Ðấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập và đã chuộc anh (em) khỏi cảnh nô lệ, và vì nó đã muốn lôi cuốn anh (em) ra khỏi con đường Ðức Chúa đã truyền cho anh (em) phải đi. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác không cho tồn tại giữa anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu người anh em của anh (em), con của mẹ anh (em), hoặc con trai con gái anh (em), hoặc người vợ anh (em) âu yếm, hoặc người bạn anh (em) coi như chính mình, lén lút rủ rê anh (em): &#8220;Chúng ta hãy đi phụng thờ các thần khác&#8221; những thần mà anh (em) và cha ông anh (em) không biết, <sup>8</sup> trong số các thần của những dân ở chung quanh, gần hay xa anh (em), từ đầu đến cuối xứ, <sup>9</sup> thì anh (em) đừng ưng thuận, đừng nghe nó, đừng nhìn nó mà thương hại, đừng xót thương, đừng bao che nó; <sup>10</sup> trái lại, nhất định anh (em) phải giết nó. Anh (em) phải là người đầu tiên tra tay giết nó, rồi toàn dân tiếp tay sau. <sup>11</sup> Anh (em) phải ném đá cho nó chết, và nó phải chết vì đã tìm cách lôi cuốn anh (em) xa Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), Ðấng đã đưa anh (em) ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. <sup>12</sup> Nghe nói thế, toàn thể Ít-ra-en sẽ sợ và không còn làm điều xấu như vậy giữa anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nếu tại một trong những thành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) để ở, anh (em) nghe nói rằng <sup>14</sup> có những tên vô lại phát xuất từ giữa anh (em) và lôi cuốn dân thành chúng mà rằng: &#8220;Chúng ta hãy đi phụng thờ các thần khác&#8221;, những thần mà anh (em) không biết, <sup>15</sup> thì anh (em) sẽ điều tra, dò xét, sẽ hỏi han kỹ lưỡng, và nếu thật sự và chắc chắn là người ta đã làm điều ghê tởm đó giữa anh (em), <sup>16</sup> thì anh (em) phải dùng lưỡi gươm giết dân thành ấy, phải tru hiến thành ấy với tất cả những gì trong đó; cả súc vật ở đó cũng phải dùng lưỡi gươm mà giết. <sup>17</sup> Tất cả những gì chiếm được trong thành, anh (em) phải gom vào giữa quảng trường, rồi phóng hoả thành ấy với mọi thứ chiếm được, tất cả để dâng kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). Thành ấy sẽ mãi mãi là một phế tích và sẽ không được xây dựng lại nữa. <sup>18</sup> Ðừng để bất cứ vật tru hiến nào còn dính lại trong tay anh (em). Như vậy Ðức Chúa sẽ nguôi cơn thịnh nộ, Người sẽ tỏ lòng từ bi và thương xót anh (em), sẽ làm cho anh (em) nên đông đúc, như đã thề với cha ông anh (em), <sup>19</sup> miễn là anh (em) nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà giữ mọi mệnh lệnh tôi truyền cho anh (em) hôm nay, và làm điều Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) coi là ngay thẳng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cấm một vài tập tục tang chế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Anh em là những người con của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Anh em không được rạch mình và không được cạo tóc phía trên trán mà để tang một người chết, <sup>2</sup> vì anh (em) là một dân thánh hiến cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). Ðức Chúa đã chọn anh (em) từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Loài vật thanh sạch và loài vật ô uế </strong>(Lv 11: 2-47)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Anh (em) không được ăn cái gì ghê tởm. <sup>4</sup> Ðây là những loài vật anh (em) được ăn: bò, cừu, dê, <sup>5</sup> nai, sơn dương, hoẵng, dê rừng, linh dương, dê sừng dài, cừu rừng. <sup>6</sup> Mọi con vật có chân chẻ làm hai móng và thuộc loài nhai lại, thì anh (em) được ăn. <sup>7</sup> Tuy nhiên, trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, anh em không được ăn các con này: con lạc đà, con thỏ rừng, con ngân thử &#8211; vì chúng nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: anh em phải coi chúng là loài ô uế; &#8211; <sup>8</sup> con heo, vì nó có móng chẻ hai, nhưng không nhai lại: anh em phải coi nó là loài ô uế. Thịt của chúng, anh em không được ăn, xác chết của chúng, anh em không được đụng đến.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Trong tất cả các loài sống dưới nước, đây là những loài anh em được ăn: những loài có vây và có vảy, thì anh em được ăn. <sup>10</sup> Còn tất cả những loài không có vây không có vảy, thì anh em không được ăn: anh em phải coi chúng là loài ô uế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Mọi loài chim thanh sạch, anh em được ăn. <sup>12</sup> Ðây là những loài chim anh em không được ăn: đại bàng, diều hâu, ó biển, <sup>13</sup> diều mướp, kền kền, mọi thứ diều hâu, <sup>14</sup> mọi thứ quạ, <sup>15</sup> đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt, <sup>16</sup> cú vọ, cú mèo, chim lợn, <sup>17</sup> bồ nông, ó, cốc, <sup>18</sup> cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi. <sup>19</sup> Mọi côn trùng có cánh, anh em phải coi là loài ô uế, anh em không được ăn. <sup>20</sup> Mọi loài có cánh mà thanh sạch, anh em được ăn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Anh em không được ăn mọi con vật chết, mà hãy cho ngoại kiều ở trong các thành của anh (em) để họ ăn, hoặc hãy bán cho người nước ngoài, vì anh (em) là một dân thánh hiến cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Anh (em) không được lấy sữa dê mẹ mà nấu thịt dê con.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thuế thập phân hàng năm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Mỗi năm anh (em) phải trích một phần mười tất cả hoa lợi lấy từ những gì anh (em) gieo, những gì mọc lên ngoài đồng. <sup>23</sup> Anh (em) sẽ dùng trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Người chọn cho Danh Người ngự, thuế thập phân lúa mì, rượu mới, dầu tươi của anh (em), và những con đầu lòng trong đàn bò và đàn chiên dê của anh (em), để mọi ngày anh (em) học cho biết kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Nếu đường quá dài khiến anh (em) không thể đem thuế thập phân đến được, vì nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn để đặt Danh Người, quá xa chỗ anh (em) ở, thì khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chúc phúc cho anh (em), <sup>25</sup> anh (em) hãy đổi lấy bạc, cầm trong tay và đi tới nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn. <sup>26</sup> Anh (em) hãy đem bạc đổi lấy tất cả những gì anh (em) thèm: bò, chiên dê, rượu, đồ uống có men và tất cả những gì anh (em) ao ước; ở đó anh (em) sẽ ăn uống trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và sẽ liên hoan với cả nhà. <sup>27</sup> Còn thầy Lê-vi ở trong các thành của anh (em), anh (em) đừng bỏ rơi, vì thầy ấy không được chung phần và hưởng gia nghiệp với anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thuế thập phân ba năm một lần</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ba năm một lần, anh (em) hãy đưa ra tất cả thuế thập phân trích từ hoa lợi năm thứ ba, và đặt ở cửa thành của anh (em). <sup>29</sup> Bấy giờ thầy Lê-vi -là người không được chung phần và hưởng gia nghiệp với anh (em) &#8211; người ngoại kiều và cô nhi quả phụ ở trong các thành của anh (em), sẽ đến, họ sẽ ăn và được no nê, để Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc cho mọi công việc tay anh (em) làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Năm sa-bát</strong> (Lv 25: 1-7)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bảy năm một lần, anh (em) hãy tha nợ. <sup>2</sup> Ðây là cách thức tha nợ: mỗi chủ nợ sẽ tha món nợ đã cho người đồng loại vay mượn, không thúc người đồng loại và người anh em trả nợ, vì người ta đã công bố việc tha nợ để kính Ðức Chúa. <sup>3</sup> Người nước ngoài, anh (em) có thể thúc nợ; nhưng cái gì của anh (em) mà ở trong nhà người anh em của anh (em), thì phải tha không đòi. <sup>4</sup> Tuyệt nhiên giữa anh (em) sẽ không có người nghèo, vì Ðức Chúa sẽ chúc phúc dồi dào cho anh (em) trong miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp để anh (em) chiếm hữu, <sup>5</sup> miễn là anh (em) thực sự nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh hôm nay tôi truyền cho anh (em) đây. <sup>6</sup> Thật vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chúc phúc cho anh (em) như Người đã phán với anh (em); anh (em) sẽ cho nhiều dân tộc vay mượn, còn chính anh (em) sẽ không phải vay mượn; anh (em) sẽ thống trị nhiều dân tộc, nhưng chúng sẽ không thống trị anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu giữa anh (em), trong một thành nào của anh (em), trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), có một người anh em nghèo, thì anh (em) đừng có lòng chai dạ đá, cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng; <sup>8</sup> nhưng phải mở rộng tay, và cho họ vay mượn tất cả những gì họ thiếu. <sup>9</sup> Hãy ý tứ đừng có trong lòng tư tưởng xấu này: &#8220;Sắp đến năm thứ bảy, năm tha nợ&#8221;, mà nhìn người anh em nghèo của anh (em) với cặp mắt dữ dằn và không cho gì. Họ sẽ kêu lên Ðức Chúa tố cáo anh (em) và anh (em) sẽ mang tội. <sup>10</sup> Anh (em) phải cho họ cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng; thật vậy, vì việc đó, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) sẽ chúc phúc cho anh (em) trong mọi việc anh (em) làm và mọi công trình tay anh (em) thực hiện. <sup>11</sup> Vì trong đất của anh (em) sẽ không thiếu người nghèo, nên tôi truyền cho anh (em): hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh (em), trong miền đất của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Người nô lệ </strong>(Xh 21: 1-11)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nếu người anh em hay chị em Híp-ri của anh (em), bán mình cho anh (em), thì họ sẽ hầu hạ anh (em) sáu năm; đến năm thứ bảy, anh (em) phải phóng thích họ về. <sup>13</sup> Khi anh (em) phóng thích họ về, thì đừng để họ về tay không; <sup>14</sup> anh (em) phải tặng họ nào là chiên dê, nào là lúa mì, rượu nho của anh (em): anh (em) hãy cho họ tuỳ theo phúc lành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) đã ban cho anh (em). <sup>15</sup> Anh (em) hãy nhớ rằng mình đã làm nô lệ tại đất Ai-cập, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã giải thoát anh (em). Vì vậy, hôm nay tôi truyền cho anh (em) điều đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nhưng nếu người nô lệ nói: &#8220;Tôi không muốn ra khỏi nhà ông&#8221;, vì họ mến anh (em) và gia đình anh (em), và vì họ được hạnh phúc khi ở với anh (em), <sup>17</sup> thì anh (em) sẽ kê tai người ấy vào cánh cửa, và lấy dùi mà xỏ, và họ sẽ làm nô lệ anh (em) suốt đời. Ðối với nữ tỳ của anh (em), anh (em) cũng sẽ làm như vậy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Anh (em) đừng cho là quá nặng khi phải phóng thích họ về, vì họ phục vụ anh (em) sáu năm thì cũng bằng anh (em) thuê hai người làm mướn. Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chúc phúc cho anh (em) trong mọi việc anh (em) làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các con đầu lòng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Mọi con đầu lòng giống đực sinh ra trong đàn bò và đàn chiên dê của anh (em), anh (em) phải thánh hiến cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). Anh (em) không được bắt con bò đầu lòng của anh (em) làm việc, không được xén lông chiên dê đầu lòng của anh (em). <sup>20</sup> Hằng năm, trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), anh (em) và cả nhà anh (em) sẽ ăn những con đầu lòng đó ở nơi Ðức Chúa chọn. <sup>21</sup> Nhưng nếu con vật có tật, què, mù hay bất cứ tật nào khác, thì anh (em) không được tế nó cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em); <sup>22</sup> anh (em) sẽ ăn thịt nó trong các thành của anh (em). Người ô uế và người thanh sạch đều có thể ăn, như ăn thịt sơn dương hay thịt nai. <sup>23</sup> Nhưng tiết của nó thì anh (em) không được ăn, anh (em) sẽ đổ xuống đất như đổ nước.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các đại lễ: lễ Vượt Qua, lễ Bánh Không Men</strong> (Xh 12: 1-20)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Anh (em) hãy giữ tháng A-víp và mừng lễ Vượt Qua kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), vì trong tháng A-víp, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã đưa anh (em) ra khỏi Ai-cập ban đêm. <sup>2</sup> Anh (em) hãy giết chiên dê và bò làm lễ vật Vượt Qua dâng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Ðức Chúa chọn cho Danh Người ngự. <sup>3</sup> Anh (em) không được ăn bánh có men với lễ vật đó; trong vòng bảy ngày, anh (em) sẽ ăn bánh không men -thứ bánh khổ cực, vì anh (em) đã phải vội vã ra khỏi đất Ai-cập, &#8211; để mọi ngày trong đời anh (em), anh (em) nhớ ngày ra khỏi đất Ai-cập. <sup>4</sup> Trong vòng bảy ngày, không ai được thấy anh (em) có men trên toàn lãnh thổ anh (em); và thịt con vật anh (em) đã tế chiều ngày thứ nhất, thì không được giữ lại gì qua đêm cho đến sáng. <sup>5</sup> Anh (em) không được giết lễ vật Vượt Qua ở bất cứ thành nào khác trong những thành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em); <sup>6</sup> nhưng chỉ ở nơi Ðức Chúa chọn cho danh Người ngự, anh (em) mới được giết lễ vật Vượt Qua, vào buổi chiều, khi mặt trời lặn, là thời điểm anh (em) ra khỏi Ai-cập. <sup>7</sup> Anh (em) sẽ nấu mà ăn, ở nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn, rồi sáng ngày anh (em) sẽ quay về lều trại mình. <sup>8</sup> Trong vòng sáu ngày, anh (em) sẽ ăn bánh không men, đến ngày thứ bảy, sẽ có buổi họp long trọng kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), anh (em) không được làm công việc gì.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các đại lễ khác</strong> (Xh 34: 22; Lv 23: 15-21, 33-43)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Anh (em) sẽ tính bảy tuần: từ khi bắt đầu mang liềm đi gặt lúa, anh (em) bắt đầu tính bảy tuần. <sup>10</sup> Rồi anh (em) sẽ mừng lễ Ngũ Tuần kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), dâng lễ vật tự nguyện, tuỳ theo phúc lành Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). <sup>11</sup> Ở nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn cho Danh Người ngự, anh (em) sẽ liên hoan trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), cùng với con trai con gái, tôi tớ nam nữ, với thầy Lê-vi ở trong các thành của anh (em), với ngoại kiều và cô nhi quả phụ sống giữa anh (em). <sup>12</sup> Anh (em) hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên Ai-cập, anh (em) phải giữ và đem ra thực hành các thánh chỉ này.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Còn lễ Lều, anh (em) sẽ mừng trong vòng bảy ngày, khi đã thu hoạch lúa trong sân và rượu trong bồn đạp nho. <sup>14</sup> Anh (em) sẽ liên hoan mừng lễ, cùng với con trai con gái, tôi tớ nam nữ, với thầy Lê-vi, ngoại kiều và cô nhi quả phụ ở trong các thành của anh (em). <sup>15</sup> Trong vòng bảy ngày, anh (em) sẽ mở lễ kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), tại nơi Ðức Chúa chọn, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) chúc phúc cho anh (em) là ban cho anh (em) mọi hoa lợi và cho mọi công việc tay anh (em) làm được kết quả; anh (em) chỉ có việc hân hoan.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai của anh (em) phải đến trình diện Ðức Chúa, ở nơi Người chọn: vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Người ta sẽ không đến trình diện Ðức Chúa tay không. <sup>17</sup> Nhưng mỗi người sẽ đem lễ vật theo khả năng, tuỳ theo phúc lành Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thẩm phán</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Anh (em) phải đặt cho các chi tộc của anh (em) những thẩm phán và ký lục trong mọi thành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em); họ sẽ xét xử dân cách công minh. <sup>19</sup> Anh (em) không được làm sai lệch công lý, không được thiên vị ai và không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ khôn ngoan hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính. <sup>20</sup> Anh (em) hãy theo đuổi sự công chính, chỉ sự công chính mà thôi, để anh (em) được sống và được chiếm hữu đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những cách thờ phượng sai lạc</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Anh (em) không được cắm cột thờ để mà thờ, dù bằng thứ gỗ nào, bên cạnh bàn thờ anh (em) sẽ làm để kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). <sup>22</sup> Anh (em) không được dựng trụ đá để mà thờ: đó là cái mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) ghét.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Anh (em) không được tế Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), bò hay chiên dê có tật hoặc tỳ vết nào, vì đó là điều ghê tởm đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Nếu ở giữa anh (em), tại một trong các thành mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), thấy có một người đàn ông hay đàn bà làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), vi phạm giao ước của Người, <sup>3</sup> đi phụng thờ các thần khác, sụp xuống lạy chúng, lạy mặt trời, mặt trăng và toàn thể thiên binh, điều mà tôi đã không truyền, <sup>4</sup> nếu anh (em) được thông báo và được nghe điều ấy, thì anh (em) phải điều tra kỹ lưỡng; nếu thật sự và chắc chắn là người ta đã làm điều ghê tởm đó tại Ít-ra-en, <sup>5</sup> thì anh (em) phải lôi người đàn ông hay đàn bà đã làm điều xấu đó ra cửa thành của anh (em); người đàn ông hay đàn bà đó, anh (em) sẽ ném đá chúng cho chết và chúng phải chết. <sup>6</sup> Căn cứ vào lời của hai nhân chứng hay ba nhân chứng, mà người đáng chết sẽ bị xử tử; người ấy sẽ không bị xử tử nếu chỉ căn cứ vào lời của một nhân chứng. <sup>7</sup> Các nhân chứng phải là người đầu tiên tra tay giết nó, rồi toàn dân tiếp tay sau. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thẩm phán Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu có vụ nào khó quá, anh (em) không xử được: án mạng, tranh chấp hay đả thương, là những vụ kiện tụng tại toà án thành của anh (em), thì anh (em) hãy đứng dậy và lên nơi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chọn. <sup>9</sup> Anh (em) sẽ đến với các tư tế Lê-vi và vị thẩm phán tại chức trong những ngày đó; anh (em) sẽ thỉnh ý và họ sẽ thông báo bản án cho anh (em). <sup>10</sup> Anh (em) sẽ hành động căn cứ vào lời họ thông báo cho anh (em), từ nơi Ðức Chúa chọn, và anh (em) sẽ lo đem ra thực hành đúng như họ chỉ giáo cho anh (em). <sup>11</sup> Căn cứ vào lời họ chỉ giáo cho anh (em), và vào bản án họ công bố cho anh (em), anh (em) sẽ hành động, đúng như lời họ thông báo cho anh (em), không đi trệch bên phải bên trái. <sup>12</sup> Người nào cả gan không nghe vị tư tế chầu chực ở đó để phụng sự Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hay không nghe vị thẩm phán, thì sẽ phải chết. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại trong Ít-ra-en. <sup>13</sup> Nghe thấy thế, toàn dân sẽ sợ và không dám cả gan nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hàng tư tế Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Các tư tế Lê-vi, toàn thể chi tộc Lê-vi, sẽ không được chung phần và hưởng gia nghiệp với Ít-ra-en: họ sẽ sống nhờ các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa và nhờ gia nghiệp của Người. <sup>2</sup> Họ không có gia nghiệp giữa các chi tộc anh em: chính Ðức Chúa là gia nghiệp của họ, như Người đã phán với họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ðây là quyền lợi các tư tế được hưởng trên dân, trên những người dâng bò hay chiên dê làm lễ hy sinh: người ta sẽ biếu tư tế một cái vai, hai cái hàm và cái dạ dày. <sup>4</sup> Anh (em) phải biếu tư tế sản phẩm đầu mùa lấy từ lúa mì, rượu mới, dầu tươi của anh (em), và từ lông chiên dê mới xén. <sup>5</sup> Thật vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn họ trong mọi chi tộc, để họ và con cái họ ứng trực và phụng sự mọi ngày nhân danh Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Nếu một thầy Lê-vi từ bất cứ một thành nào của anh (em) trong toàn cõi Ít-ra-en, nơi họ đang cư ngụ, đến nơi Ðức Chúa chọn, mỗi khi họ muốn, <sup>7</sup> thì họ sẽ được phụng sự nhân danh Ðức Chúa, Thiên Chúa của họ, như mọi anh em của họ là các thầy Lê-vi khác đang ứng trực tại đó trước nhan Ðức Chúa; <sup>8</sup> họ sẽ được ăn một phần bằng phần của những người kia, không kể tiền bán của cải cha ông để lại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ngôn sứ</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi vào đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), thì anh (em) đừng học đòi những thói ghê tởm của các dân tộc ấy: <sup>10</sup> giữa anh (em), không được thấy ai làm lễ thiêu con trai hoặc con gái mình, không được thấy ai làm nghề bói toán, chiêm tinh, tướng số, phù thuỷ, <sup>11</sup> bỏ bùa, ngồi đồng ngồi cốt, chiêu hồn. <sup>12</sup> Thật vậy, hễ ai làm điều ấy thì là điều ghê tởm đối với Ðức Chúa, và chính vì những điều ghê tởm ấy mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã trục xuất các dân tộc ấy cho khuất mắt anh (em). <sup>13</sup> Anh (em) phải sống trọn hảo với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). <sup>14</sup> Các dân tộc anh (em) sắp trục xuất ấy thì nghe những thầy chiêm tinh, thầy bói, còn anh (em) thì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), không cho làm như vậy. <sup>15</sup> Từ giữa anh (em), trong số các anh em của anh (em), Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh (em); anh (em) hãy nghe vị ấy. <sup>16</sup> Ðó chính là điều mà anh (em) đã xin với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), tại núi Khô-rếp, trong ngày đại hội; anh (em) đã nói: &#8220;Chúng tôi không dám nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng tôi nữa, chúng tôi không dám nhìn ngọn lửa lớn này nữa, kẻo phải chết.&#8221; <sup>17</sup> Bấy giờ Ðức Chúa phán với tôi: &#8220;Chúng nói phải. <sup>18</sup> Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng, Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy. <sup>19</sup> Kẻ nào không nghe những lời của Ta, những lời người ấy nói nhân danh Ta, thì chính Ta sẽ hạch tội nó. <sup>20</sup> Nhưng ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Có khi anh (em) sẽ tự hỏi: &#8220;Làm sao chúng tôi biết được lời nào là lời Ðức Chúa đã không phán?&#8221; <sup>22</sup> Nếu điều ngôn sứ nói nhân danh Ðức Chúa không ứng nghiệm, không xảy ra, thì không phải là lời Ðức Chúa đã phán; ngôn sứ đã nói càn, anh (em) không phải sợ ngôn sứ ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các vua</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Khi anh (em) vào đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), khi anh (em) chiếm hữu và ở đất đó, nếu anh (em) nói: &#8220;(Chúng) tôi muốn tôn một vua lên cai trị (chúng) tôi, như các dân tộc chung quanh&#8221;, <sup>15</sup> thì anh (em) có thể tôn một vua mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chọn, lên cai trị anh (em); anh (em) phải tôn một người trong anh (em) lên làm vua cai trị anh (em); anh (em) không được đặt một người ngoại quốc, không phải là anh em của anh (em), lên cai trị anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Chỉ có điều là vua ấy không được có nhiều ngựa, và không được đưa dân trở về Ai-cập để có nhiều ngựa, vì Ðức Chúa đã phán với anh em: &#8220;Các ngươi không được trở lại con đường ấy nữa!&#8221; <sup>17</sup> Vua ấy cũng không được có nhiều vợ, kẻo tâm hồn bị lầm lạc. Vua cũng không được có quá nhiều vàng bạc. <sup>18</sup> Khi lên ngôi trị vì, vua phải sao lại cho mình một bản thứ hai của luật này vào một cuốn sách, sao y bản các tư tế Lê-vi truyền lại. <sup>19</sup> Luật này sẽ ở bên vua, vua phải đọc mọi ngày trong đời mình, để học cho biết kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của vua, biết giữ mọi lời trong Luật này và mọi thánh chỉ ấy, và đem ra thực hành. <sup>20</sup> Như vậy lòng vua không kiêu ngạo với anh em mình, và vua không trệch khỏi mệnh lệnh mà qua bên phải bên trái, để vua và con cháu được trị vì lâu ngày ở giữa Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kẻ sát nhân và các thành làm nơi ẩn náu</strong> (Ðn 35: 9-28; Gs 20: 1-9)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã quét sạch các dân tộc ở trong đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), khi anh (em) đã trục xuất chúng và ở trong các thành, các nhà của chúng, <sup>2</sup> thì anh (em) hãy tách ra ba thành ở giữa đất của anh (em), mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) để anh (em) chiếm hữu. <sup>3</sup> Anh (em) hãy sửa sang đường sá; và lãnh thổ mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), cho anh (em) hưởng làm gia nghiệp, anh (em) hãy chia làm ba, để mọi kẻ sát nhân có thể ẩn náu ở đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðây là những trường hợp mà kẻ sát nhân có thể đến đó ẩn náu và được sống: nếu nó vô ý giết người đồng loại mà trước đó nó không thù ghét. <sup>5</sup> Như một người vào rừng đốn cây với đồng loại, tay người ấy vung rìu lên để chặt cây và lưỡi rìu tuột khỏi cán, trúng người đồng loại và người này chết; người kia có thể vào ẩn náu tại một trong các thành ấy và sẽ được sống. <sup>6</sup> Nếu không, người đòi nợ máu, trong lúc tâm can sôi sục, sẽ rượt theo kẻ sát nhân, và vì đường dài nên đuổi kịp mà giết chết người ấy, trong khi người ấy không đáng phải án chết, vì trước đó không thù ghét nạn nhân. <sup>7</sup> Vì vậy tôi truyền cho anh (em): &#8220;Anh (em) hãy tách ra ba thành.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mở rộng lãnh thổ của anh (em), như đã thề với cha ông anh (em), và nếu Người ban cho anh (em) tất cả miền đất mà Người đã phán hứa sẽ ban cho cha ông anh (em) &#8211; <sup>9</sup> với điều kiện là anh (em) giữ và đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh mà hôm nay tôi truyền cho anh (em) đây, mà yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và đi theo đường lối của Người mọi ngày, &#8211; thì anh (em) sẽ thêm ba thành nữa vào ba thành nói trên. <sup>10</sup> Như thế, máu vô tội sẽ không đổ ra giữa đất của anh (em), đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, và máu sẽ không đổ xuống đầu anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nhưng nếu có ai giết người đồng loại của mình, rình rập, xông vào giết chết người ấy, và người ấy chết, rồi nó vào ẩn náu tại một trong các thành ấy, <sup>12</sup> thì các kỳ mục của thành nó sẽ sai người đến bắt nó đưa về, sẽ trao nó vào tay người đòi nợ máu, và nó phải chết. <sup>13</sup> Mắt anh (em) đừng nhìn nó mà thương hại. Anh (em) phải khử trừ máu người vô tội, không cho tồn tại ở Ít-ra-en, và anh (em) sẽ được hạnh phúc.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ranh giới</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Anh (em) không được xê dịch ranh giới của người đồng loại anh (em), ranh giới các tiền nhân đã ấn định, trong gia nghiệp anh (em) được thừa hưởng trong miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) để anh (em) chiếm hữu.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các nhân chứng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Một nhân chứng duy nhất không thể đứng lên buộc tội một người về bất cứ một tội một lỗi nào; về bất cứ lỗi nào người ấy phạm, phải căn cứ vào lời của hai nhân chứng hay căn cứ vào lời của ba nhân chứng, sự việc mới được cứu xét.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nếu một người chứng gian đứng lên buộc tội một người để tố cáo người ấy về tội vi phạm luật, <sup>17</sup> thì hai người đang có việc tranh tụng sẽ đứng trước nhan Ðức Chúa, trước mặt các tư tế và các thẩm phán tại chức trong những ngày đó. <sup>18</sup> Các thẩm phán sẽ điều tra kỹ lưỡng, và nếu thấy rằng nhân chứng ấy là một người chứng gian: nó đã cáo gian người anh em mình, <sup>19</sup> thì anh em sẽ xử với nó, như nó đã định xử với anh em mình. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em). <sup>20</sup> Nghe nói thế, những người khác sẽ sợ và không còn làm điều xấu như thế nữa giữa anh (em). <sup>21</sup> Mắt anh (em) đừng nhìn mà thương hại.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật báo phục tương xứng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiến tranh và các chiến binh</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi ra giao chiến với quân thù, nếu anh (em) thấy chiến mã chiến xa, và quân binh đông hơn anh (em), thì anh (em) đừng sợ chúng, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), Ðấng đã đưa anh (em) lên từ đất Ai-cập, ở với anh (em). <sup>2</sup> Khi anh em sắp sửa giao chiến thì vị tư tế sẽ tiến ra và nói với dân. <sup>3</sup> Ông sẽ nói với họ: &#8220;Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Hôm nay anh em sắp sửa giao chiến với quân thù; đừng sờn lòng, đừng sợ hãi, đừng hoảng hốt, đừng run khiếp trước mặt chúng, <sup>4</sup> vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Ðấng đi với anh em, để chiến đấu giúp anh em chống lại quân thù của anh em, để cứu thoát anh em.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các ký lục sẽ nói với dân rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ai là người đã xây nhà mới mà chưa khánh thành? Người ấy hãy đi về nhà, kẻo bị chết trận và người khác sẽ khánh thành.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ai là người đã trồng vườn nho mà chưa được hưởng những trái đầu tiên? Người ấy hãy đi về nhà, kẻo bị chết trận và người khác sẽ hưởng những trái đầu tiên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ai là người đã đính hôn với một phụ nữ mà chưa cưới? Người ấy hãy đi về nhà, kẻo bị chết trận và người khác sẽ cưới nàng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Các ký lục sẽ còn nói thêm với dân rằng: &#8220;Ai là người sợ hãi và sờn lòng? Người ấy hãy đi về nhà, và đừng làm cho các anh em mình nản lòng như mình.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi các ký lục nói với dân xong, thì người ta sẽ đặt những người chỉ huy quân đội đứng đầu dân.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðánh chiếm các thành</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi tiến đánh một thành, anh (em) phải kêu gọi họ giảng hoà. <sup>11</sup> Nếu thành ấy đồng ý giảng hoà với anh (em) và mở cửa cho anh (em), thì toàn dân ở đó sẽ phải làm việc lao dịch cho anh (em) và làm tôi anh (em). <sup>12</sup> Nhưng nếu thành ấy không chịu cầu hoà với anh (em) và khai chiến với anh (em), thì anh (em) sẽ vây hãm thành đó. <sup>13</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ trao thành ấy vào tay anh (em), và anh (em) sẽ dùng lưỡi gươm giết tất cả đàn ông con trai trong thành. <sup>14</sup> Chỉ có đàn bà con trẻ, gia súc và tất cả những gì ở trong thành, tất cả những gì chiếm được trong thành, thì anh (em) mới được giữ lấy làm chiến lợi phẩm; anh (em) sẽ được ăn những gì đã chiếm của quân thù, những thứ mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Anh (em) hãy xử như thế với tất cả những thành ở rất xa anh (em), những thành không thuộc số những thành của các dân tộc ở đây. <sup>16</sup> Chỉ có những thành của các dân tộc này, mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, thì anh (em) sẽ không để cho một sinh vật nào được sống. <sup>17</sup> Thật vậy, anh (em) sẽ phải loại trừ chúng hoàn toàn: người Khết và người E-mô-ri, người Ca-na-an và người Pơ-rít-di, người Khi-vi và người Giơ-vút, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã truyền cho anh (em); <sup>18</sup> như thế, chúng sẽ không dạy anh em học đòi mọi điều ghê tởm chúng làm để kính các thần của chúng, khiến anh em phạm tội nghịch cùng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Khi vây hãm một thành lâu ngày để đánh, để chiếm thành, anh (em) không được vung rìu phá cây cối của thành, vì anh (em) sẽ được ăn hoa trái những cây ấy; anh (em) không được chặt những cây ấy. Cây ngoài đồng đâu phải là con người để anh (em) vây hãm? <sup>20</sup> Chỉ có cây mà anh (em) biết không phải là cây ăn trái, thì anh (em) mới được phá, được chặt để dựng những công sự vây hãm thành đang đánh nhau với anh (em), cho đến khi thành thất thủ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trường hợp không tìm ra kẻ sát nhân</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nếu trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) để anh (em) chiếm hữu, phát hiện một xác chết nằm ngoài đồng, mà không biết ai đã giết, <sup>2</sup> thì các kỳ mục và thẩm phán của anh (em) sẽ đi ra và đo khoảng cách của các thành ở chung quanh xác chết, <sup>3</sup> xem thành nào gần xác chết nhất. Các kỳ mục thành ấy sẽ lấy một bò tơ cái chưa bị bắt làm việc và chưa phải mang ách. <sup>4</sup> Các kỳ mục thành ấy sẽ đưa con bò cái tơ xuống một khe suối luôn có nước chảy, một nơi không cày cấy gieo trồng, và họ sẽ đánh gãy ót con bò cái tơ tại đó, trong khe suối. <sup>5</sup> Bấy giờ các tư tế, con cái Lê-vi, sẽ tiến lại, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã chọn họ để họ phụng sự Người và chúc phúc nhân danh Ðức Chúa, và căn cứ vào lời họ mà mọi vụ tranh tụng và đả thương được giải quyết. <sup>6</sup> Tất cả các kỳ mục thành ấy, là những người ở gần xác chết nhất, sẽ rửa tay trên con bò cái tơ đã bị đánh gãy ót trong khe suối. <sup>7</sup> Họ sẽ lên tiếng nói: &#8220;Tay chúng tôi đã không đổ máu này, và mắt chúng tôi đã không nhìn thấy. <sup>8</sup> Lạy Ðức Chúa, xin xá tội cho dân Ngài là Ít-ra-en, mà Ngài đã giải thoát, và đừng để máu vô tội ở lại giữa dân Ngài là Ít-ra-en.&#8221; Và họ sẽ được xá tội về vụ đổ máu đó. <sup>9</sup> Còn anh (em), anh (em) sẽ khử trừ máu vô tội, không cho tồn tại giữa anh (em), vì anh (em) làm điều Ðức Chúa coi là ngay thẳng.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cưới phụ nữ bị bắt trong chiến tranh</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi anh (em) ra giao chiến với quân thù, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), trao chúng vào tay anh (em), nếu anh (em) bắt được tù, <sup>11</sup> và thấy trong đám tù một người đàn bà duyên dáng mà đem lòng quyến luyến người ấy và lấy làm vợ, <sup>12</sup> thì anh (em) sẽ đưa nàng vào trong nhà mình. Nàng sẽ cạo đầu, cắt móng tay, <sup>13</sup> cởi áo mặc khi bị bắt; nàng sẽ ở trong nhà anh (em) và khóc cha mẹ nàng một tháng tròn. Sau đó anh (em) sẽ ăn nằm với nàng, cưới nàng và nàng sẽ là vợ anh (em). <sup>14</sup> Trong trường hợp anh (em) không thích nàng nữa, thì anh (em) sẽ để cho nàng đi đâu tuỳ ý nàng; anh (em) không được phép bán nàng đổi lấy bạc, cũng không được hành hạ nàng, vì anh (em) đã cưỡng bức nàng.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quyền trưởng nam</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Khi một người đàn ông có hai vợ, một vợ được yêu, một vợ không được yêu, và cả người được yêu lẫn người không được yêu đều sinh con cho người ấy, mà con trai trưởng lại là con của người không được yêu, <sup>16</sup> thì khi chia gia tài cho các con, người đàn ông ấy không được dành quyền trưởng nam cho đứa con của người vợ mình yêu, khiến đứa con của người vợ không được yêu, là con trai trưởng, bị thiệt. <sup>17</sup> Trái lại người đàn ông ấy phải nhìn nhận đứa con của người vợ không được yêu là trưởng nam, mà chia cho nó hai phần sản nghiệp: nó là hoa quả đầu đời trai tráng của người ấy, nên nó được quyền trưởng nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðứa con bất trị</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi có đứa con ngỗ nghịch và bất trị, không nghe lời cha mẹ, cha mẹ có sửa dạy, nó cũng chẳng chịu nghe, <sup>19</sup> thì cha mẹ nó sẽ bắt lấy nó, đưa ra cửa thành cho các kỳ mục địa phương <sup>20</sup> và sẽ nói với các kỳ mục trong thành: &#8220;Con chúng tôi đây ngỗ nghịch và bất trị, không nghe lời chúng tôi, nó rượu chè phóng đãng.&#8221; <sup>21</sup> Mọi người trong thành sẽ ném đá cho nó chết và nó phải chết. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em). Nghe chuyện ấy, toàn thể Ít-ra-en sẽ sợ.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những chỉ thị khác</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Khi một người có tội đáng phải án chết đã bị xử tử, và anh (em) đã treo nó lên cây, <sup>23</sup> thì xác nó không được để qua đêm trên cây, nhưng anh (em) phải chôn ngay hôm ấy, vì người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa. Anh (em) không được làm cho đất của anh (em) ra ô uế, đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi anh (em) thấy bò hay chiên dê của người anh em mình đi lạc, thì đừng bỏ mặc làm ngơ, nhưng phải dẫn chúng về cho người anh em. <sup>2</sup> Nếu người anh em của anh (em) không ở gần anh (em), hoặc anh (em) không quen biết người ấy, thì anh (em) hãy đem con vật vào trong nhà, nó sẽ ở với anh (em) cho đến khi người anh em của anh (em) đến xin nó; bấy giờ anh (em) sẽ hoàn nó lại cho người ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Anh (em) phải làm như thế đối với con lừa của họ, phải làm như thế đối với áo choàng của họ, phải làm như thế đối với tất cả những gì người anh em của anh (em) đánh mất mà anh (em) bắt được; anh (em) không được bỏ mặc làm ngơ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Khi anh (em) thấy lừa hay bò của người anh em mình ngã trên đường, thì đừng bỏ mặc làm ngơ, nhưng phải giúp người anh em đỡ chúng dậy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðàn bà không được mặc quần áo đàn ông; đàn ông không được mang y phục đàn bà, vì hễ ai làm những việc ấy thì là điều ghê tởm đối với Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Nếu trên đường đi, anh (em) gặp một tổ chim, ở trên bất cứ cây nào hay ở dưới đất, trong đó có chim con hoặc trứng, và chim mẹ đang ủ chim con hay ấp trứng, thì anh (em) không được bắt cả mẹ lẫn con. <sup>7</sup> Anh (em) phải thả chim mẹ, còn chim con thì được bắt. Như vậy anh (em) sẽ được hạnh phúc và được sống lâu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Khi xây nhà mới, anh (em) phải làm lan can chung quanh mái. Như vậy anh (em) không để cho máu đổ ra trong nhà anh (em), trong trường hợp có ai ngã từ mái xuống.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Anh (em) không được gieo trong vườn nho của anh (em) một loại cây thứ hai nào, kẻo tất cả trở thành của thánh: cả cái anh (em) gieo lẫn hoa lợi vườn nho.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Anh (em) không được bắt bò và lừa cày chung với nhau.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Anh (em) không được mặc thứ vải bằng sợi len và sợi gai dệt chung với nhau.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Anh (em) hãy làm những tua ở bốn mép áo anh (em) dùng để đắp.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xúc phạm đến danh dự một thiếu nữ</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Khi một người đàn ông lấy vợ và ăn nằm với nàng, rồi ghét bỏ nàng, <sup>14</sup> vu khống và bôi xấu danh dự nàng mà nói: &#8220;Tôi đã lấy người đàn bà này, đã gần gũi với cô ấy và không thấy dấu nào chứng tỏ cô ấy còn trinh&#8221;, <sup>15</sup> thì cha mẹ cô gái sẽ lấy những dấu chứng tỏ cô gái còn trinh và đưa ra cửa thành cho các kỳ mục thành ấy. <sup>16</sup> Người cha cô gái sẽ nói với các kỳ mục: &#8220;Tôi đã gả con gái cho người đàn ông này, nhưng anh ta ghét bỏ nó; <sup>17</sup> bây giờ anh ta vu khống nó và nói: &#8220;Tôi không thấy những dấu chứng tỏ con gái ông còn trinh. Vậy đây là những dấu chứng tỏ con gái tôi còn trinh.&#8221; Họ sẽ mở chiếc áo choàng ra trước mặt các kỳ mục trong thành. <sup>18</sup> Các kỳ mục trong thành sẽ bắt người chồng và sửa phạt: <sup>19</sup> họ sẽ bắt người ấy nộp phạt một trăm thỏi bạc, và sẽ trao số bạc đó cho người cha cô gái, vì người ấy đã bôi xấu danh dự của một trinh nữ Ít-ra-en. Nàng sẽ là vợ người ấy và suốt đời người ấy không thể rẫy nàng. <sup>20</sup> Nhưng nếu điều đó có thật, nếu người ta không tìm thấy nơi cô gái những dấu chứng tỏ cô còn trinh, <sup>21</sup> thì họ sẽ lôi cô gái ra cửa nhà cha nàng; người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết và nàng sẽ phải chết, vì nàng đã làm điều đồi bại trong Ít-ra-en, khi làm điếm trong nhà cha mình. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngoại tình và thông dâm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với một người đàn bà có chồng, thì cả; hai sẽ phải chết: người đàn ông đã nằm với người đàn bà, và cả người đàn bà. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại ở Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô, <sup>24</sup> thì anh (em) sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em). <sup>25</sup> Nhưng nếu người đàn ông gặp ở ngoài đồng cô gái đã đính hôn, bắt lấy nàng và nằm với nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng sẽ phải chết; <sup>26</sup> còn cô gái, thì anh (em) đừng làm gì nàng, nàng không có tội đáng chết. Trường hợp cũng như một người xông vào người đồng loại để giết người ấy: <sup>27</sup> vì người đàn ông kia đã gặp cô ngoài đồng; cô gái đính hôn đã kêu mà không ai cứu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Khi một người đàn ông gặp một cô gái chưa đính hôn, nắm lấy nàng và nằm với nàng, và họ bị bắt gặp, <sup>29</sup> thì người đàn ông đã nằm với nàng phải nộp cho cha cô gái năm mươi thỏi bạc; nàng sẽ là vợ người ấy, bởi lẽ người ấy đã cưỡng hiếp nàng, và suốt đời người ấy không thể rẫy nàng.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Một người đàn ông không được lấy vợ của cha mình, không được xâm phạm đến quyền làm chồng của cha mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những người không được tham dự đại hội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Ai bị giập tinh hoàn hay bị cắt dương vật sẽ không được vào đại hội của Ðức Chúa. <sup>3</sup> Người con lai không được vào đại hội của Ðức Chúa; cả đến đời thứ mười, nó cũng không được vào đại hội của Ðức Chúa. <sup>4</sup> Người Am-mon và người Mô-áp không được vào đại hội của Ðức Chúa; cả đến đời thứ mười, chúng cũng không được vào đại hội của Ðức Chúa, và mãi mãi như vậy. <sup>5</sup> Lý do là vì chúng đã không mang bánh và nước ra đón anh em trên đường, khi anh em ra khỏi Ai-cập, và vì, để hại anh (em), Mô-áp đã thuê Bi-lơ-am, con của Bơ-o, từ Pơ-tho tại miền A-ram Na-ha-ra-gim, đến nguyền rủa anh (em). <sup>6</sup> Nhưng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã không muốn nghe Bi-lơ-am, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã đổi lời nguyền rủa thành lời chúc phúc cho anh (em) được nhờ, vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), yêu thương anh (em). <sup>7</sup> Suốt đời anh (em) và mãi mãi, anh (em) không được theo đòi chúng để được bình an và thịnh vượng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Anh (em) không được ghê tởm người Ê-đôm, vì họ là anh em của anh (em). Anh (em) không được ghê tởm người Ai-cập, vì anh (em) đã là ngoại kiều trong đất họ. <sup>9</sup> Con cháu họ sẽ sinh ra, đến đời thứ ba sẽ được vào đại hội của Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giữ trại cho thanh sạch</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi ra đóng quân đối diện với quân thù, anh (em) phải giữ mình khỏi mọi điều xấu. <sup>11</sup> Khi ở giữa anh (em) có một người đàn ông không thanh sạch, vì xuất tinh ban đêm, thì người ấy phải ra ngoài trại, và không được trở vào trong trại; <sup>12</sup> lúc chiều tà, người ấy sẽ tắm rửa bằng nước, và khi mặt trời lặn, sẽ trở vào trong trại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Anh (em) phải có một chỗ ở bên ngoài trại, và anh (em) sẽ ra đó mà đi ngoài. <sup>14</sup> Trong đồ đạc của anh (em), phải có một cái xẻng nhỏ, và khi ra ngồi ngoài đó, anh (em) sẽ dùng xẻng đó mà đào lỗ phóng uế, rồi lấp đi. <sup>15</sup> Vì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi đi lại lại giữa trại anh (em) để giải thoát anh (em) và trao thù địch của anh (em) cho anh (em). Vậy trại anh (em) phải là trại thánh, kẻo Người thấy có gì chướng nơi anh (em) mà không đi theo anh (em) nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật xã hội và luật phượng tự</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Một người nô lệ đã trốn nhà chủ mà đến với anh (em), anh (em) đừng nộp nó lại cho chủ. <sup>17</sup> Nó sẽ ở với anh (em), giữa anh (em), tại nơi nó chọn, trong một thành nào của anh (em) mà nó thích; anh (em) không được ngược đãi nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Con gái Ít-ra-en không được làm điếm thần, con trai Ít-ra-en không được làm điếm thần. <sup>19</sup> Anh (em) không được đưa vào nhà Ðức Chúa tiền công của một con điếm hay tiền lương của một thằng điếm để làm lễ vật khấn hứa, vì cả hai đều ghê tởm đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Anh (em) không được cho người anh (em) mình vay lấy lãi: vay bạc, vay lương thực, vay bất cứ thứ gì sinh lãi. <sup>21</sup> Người nước ngoài, anh (em) được cho vay lấy lãi, còn người anh em của anh (em) thì không được cho vay lấy lãi; như vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) sẽ chúc phúc cho anh (em), trong mọi công việc tay anh (em) làm, trên đất anh (em) sắp vào chiếm hữu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Khi anh (em) khấn hứa với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), điều gì, thì đừng trì hoãn thi hành, vì chắc chắn Thiên Chúa sẽ đòi anh (em) điều đó, và anh (em) sẽ mang tội. <sup>23</sup> Nhưng nếu anh (em) tránh không khấn hứa, thì anh (em) không mang tội. <sup>24</sup> Ðiều môi miệng anh (em) nói ra, anh (em) phải giữ và thi hành như anh (em) đã tự nguyện khấn hứa với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và như miệng anh (em) đã nói ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Khi vào vườn nho của người đồng loại của anh (em), thì anh (em) có thể ăn nho tuỳ thích, ăn cho đến no, nhưng không được bỏ vào giỏ của mình. <sup>26</sup> Khi vào đồng lúa của người đồng loại anh (em), thì anh (em) có thể lấy tay bứt những bông lúa, nhưng không được tra liềm cắt lúa của người đồng loại anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ly dị</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ăn ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà. <sup>2</sup> Ra khỏi nhà người ấy, nếu nàng đi lấy chồng khác, <sup>3</sup> mà người chồng sau lại ghét bỏ nàng, viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà, hoặc nếu người chồng sau đã lấy nàng làm vợ mà chết, <sup>4</sup> thì người chồng đầu tiên đã đuổi nàng đi không thể lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã ra ô uế. Ðó là điều ghê tởm trước nhan Ðức Chúa; anh (em) không được làm cho miền đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, phải mang tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Biện pháp bảo vệ</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi một người đàn ông mới cưới vợ, thì người ấy không phải đi lính, và người ta sẽ không bắt làm công tác nào; người ấy sẽ được miễn, được ở nhà một năm, và sẽ là niềm vui cho người vợ đã cưới.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Không được giữ cối xay bột làm đồ cầm, dù chỉ một nửa trên, vì như thế là giữ chính mạng người làm đồ cầm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu thấy ai bắt cóc một người anh em mình trong hàng con cái Ít-ra-en, hành hạ và bán người đó đi, thì kẻ bắt cóc phải chết. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Về bệnh phung cùi, anh (em) hãy ý tứ giữ cẩn thận và thi hành tất cả những gì các tư tế Lê-vi chỉ dẫn cho anh em; anh em hãy lo thực hành như tôi đã truyền cho họ. <sup>9</sup> Hãy nhớ cách Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã xử với bà Mi-ri-am trên đường, khi anh em ra khỏi Ai-cập.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi anh (em) cho người đồng loại vay cái gì, thì không được vào nhà người ấy mà bắt đồ cầm. <sup>11</sup> Anh (em) sẽ đứng ngoài, và người mà anh (em) cho vay sẽ mang đồ cầm ra ngoài cho anh (em). <sup>12</sup> Nếu người ấy nghèo, anh (em) sẽ không đi ngủ mà còn giữ đồ cầm của người ấy. <sup>13</sup> Anh (em) phải đem trả lại đồ cầm cho người ấy khi mặt trời lặn; người ấy sẽ đắp áo choàng của mình mà ngủ, sẽ chúc phúc cho anh (em); anh (em) sẽ là người công chính trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Anh (em) không được bóc lột người làm thuê nghèo khó bần cùng, dù người ấy là một người anh em của anh (em) hay là một ngoại kiều ở trong đất nước của anh (em), trong các thành của anh (em). <sup>15</sup> Chính ngày hôm ấy, anh (em) phải trả công cho họ, đừng để mặt trời lặn mà không trả công, vì họ nghèo khổ và nóng lòng mong đợi được trả công; như vậy họ sẽ không kêu lên Ðức Chúa tố cáo anh (em), và anh (em) sẽ không mang tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Cha sẽ không bị xử tử vì con, và con sẽ không bị xử tử vì cha: mỗi người sẽ bị xử tử về tội của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Anh (em) không được làm thiệt hại đến quyền lợi của ngoại kiều và cô nhi, không được giữ áo của người goá bụa làm đồ cầm. <sup>18</sup> Anh (em) hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên Ai-cập, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã giải thoát anh (em) ra khỏi đó. Vì vậy tôi truyền cho anh (em) thực hành điều đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Khi anh (em) gặt lúa trong ruộng mình, mà bỏ sót một bó lúa trong ruộng, thì không được quay lại mà lấy; bó lúa ấy dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ; như vậy, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ chúc phúc cho anh (em) trong mọi việc tay anh (em) làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi hái ô-liu, thì anh (em) không được trở lại tìm trái sót; những trái đó dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Khi hái nho, thì anh (em) không được mót lại; những trái còn sót dành cho ngoại kiều và cô nhi quả phụ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Anh em hãy nhớ mình đã làm nô lệ bên đất Ai-cập. Vì vậy, tôi truyền cho anh (em) thực hành điều đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 25 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi người ta có chuyện tranh chấp với nhau, thì họ sẽ đi hầu toà, và toà sẽ phân xử cho họ: toà sẽ công bố người công chính là công chính, kẻ có tội là có tội. <sup>2</sup> Nếu người có tội đáng phải đòn, thẩm phán sẽ cho nọc ra mà đánh trước mặt mình, tội đáng bao nhiêu thì đánh bấy nhiêu đòn. <sup>3</sup> Quan toà được cho đánh bốn mươi đòn, nhưng không được cho đánh thêm, sợ rằng đánh thêm sẽ bị trọng thương, và người anh em của anh (em) sẽ bị nhục trước mặt anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Anh (em) không được bịt mõm con bò đang đạp lúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật về anh em chồng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi có những anh em ở chung với nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. <sup>6</sup> Ðứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết; như vậy tên của người chết sẽ không bị xoá khỏi Ít-ra-en. <sup>7</sup> Nhưng nếu người đàn ông ấy không thích lấy chị dâu hay em dâu mình, thì nàng sẽ lên cửa thành, gặp các kỳ mục và thưa: &#8220;Người anh em chồng tôi từ chối không chịu lưu truyền tên tuổi của anh em mình ở Ít-ra-en, người ấy không muốn chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với tôi.&#8221; <sup>8</sup> Các kỳ mục trong thành sẽ gọi người đàn ông đến và nói với người ấy. Người ấy sẽ đứng đấy và nói: &#8220;Tôi không thích lấy cô ấy.&#8221; <sup>9</sup> Người chị dâu hay em dâu sẽ đến gần người ấy trước mặt các kỳ mục, rút một chiếc dép người ấy ra khỏi chân, nhổ vào mặt người ấy và lên tiếng nói: &#8220;Kẻ không xây nhà cho người anh em mình thì phải xử như thế đó!&#8221; <sup>10</sup> Trong Ít-ra-en, người ta sẽ gọi tên người ấy là &#8220;nhà kẻ bị lột dép.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Không được khiếm nhã trong khi ẩu đả</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Khi hai người đàn ông đánh nhau, mà vợ của một trong hai người lại gần để cứu chồng khỏi tay địch thủ và đưa tay nắm lấy chỗ kín của người này, <sup>12</sup> thì anh (em) phải chặt tay người đàn bà ấy. Mắt anh (em) đừng nhìn nó mà thương hại.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phụ lục</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Anh (em) không được có trong bao bị của anh (em) hai quả cân khác nhau, một nặng một nhẹ; <sup>14</sup> anh (em) không được có trong nhà của anh (em) hai thùng khác nhau, một lớn một nhỏ. <sup>15</sup> Anh (em) phải có một quả cân nguyên vẹn và chính xác, một thùng nguyên vẹn và chính xác, để anh (em) được sống lâu trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). <sup>16</sup> Thật vậy, hễ ai làm những điều ấy, hễ ai làm điều bất công, thì là điều ghê tởm đối với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Anh (em) hãy nhớ A-ma-lếch đã xử thế nào với anh (em) trên đường, khi anh em ra khỏi Ai-cập: <sup>18</sup> nó đã đón đường anh (em) và đánh tập hậu mọi kẻ lết theo sau, trong khi anh (em) mệt lả và kiệt sức; nó đã không kính sợ Thiên Chúa. <sup>19</sup> Vậy khi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), cho anh (em) được thảnh thơi mọi bề, không còn thù địch nào nữa, trên đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp để anh (em) chiếm hữu, thì anh (em) sẽ xoá hẳn tên tuổi A-ma-lếch, khiến cho dưới gầm trời, không còn ai nhớ đến nó nữa: anh (em) đừng quên!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 26 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sản phẩm đầu mùa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi anh (em) vào đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em) làm gia nghiệp, khi anh (em) chiếm hữu và ở đất đó, <sup>2</sup> thì hãy lấy một phần mọi nông sản đầu mùa anh (em) thu hoạch được từ miền đất của anh (em), mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). Anh (em) hãy để những thứ ấy vào giỏ, rồi đi đến nơi Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chọn cho Danh Người ngự. <sup>3</sup> Anh (em) sẽ đến với tư tế tại chức trong những ngày đó và sẽ thưa với ông:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Hôm nay tôi xin trình với Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, rằng tôi đã vào miền đất mà Ðức Chúa đã thề với cha ông chúng tôi là Người sẽ ban cho chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Tư tế sẽ nhận lấy giỏ từ tay anh (em) và đem đặt trước bàn thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em). <sup>5</sup> Bấy giờ, anh (em) sẽ lên tiếng thưa trước tôn nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em) rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Người Ai-cập đã ngược đãi, hành hạ chúng tôi và đặt ách nô lệ trên vai chúng tôi. <sup>7</sup> Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi; Người đã nghe tiếng chúng tôi, đã thấy cảnh khổ cực, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu. <sup>8</sup> Ðức Chúa đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, đã gây kinh hồn táng đởm và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, để đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập. <sup>9</sup> Người đã đưa chúng tôi vào đây, ban cho chúng tôi đất này, đất tràn trề sữa và mật. <sup>10</sup> Và bây giờ, lạy Ðức Chúa, này con xin dâng sản phẩm đầu mùa của đất đai mà Ngài đã ban cho con.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Anh (em) sẽ liên hoan cùng với các thầy Lê-vi và người ngoại kiều sống giữa anh (em), vì mọi điều tốt mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã ban cho anh (em) và gia đình anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thuế thập phân ba năm một lần</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Năm thứ ba, tức là năm nộp thuế thập phân, sau khi anh (em) đã trích ra một phần mười hoa lợi mà đem cho thầy Lê-vi, người ngoại kiều và cô nhi quả phụ, và họ đã được ăn uống no nê trong các thành của anh (em), <sup>13</sup> thì anh (em) sẽ đến thưa trước tôn nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em):</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Con đã không ăn của đó khi có tang, đã không lấy một phần của đó khi con bị ô uế, đã không dùng mà cúng người chết. Con đã nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của con, đã làm theo mọi điều Ngài truyền cho con. <sup>15</sup> Từ thánh điện của Ngài, từ trời cao, xin Ngài nhìn xuống, xin chúc phúc cho dân Ngài là Ít-ra-en, cho đất đai mà Ngài đã ban cho chúng con, như Ngài đã thề với cha ông chúng con, đất tràn trề sữa và mật.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Những Diễn Từ Kết Thúc</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en là dân của Ðức Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Hôm nay, Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), truyền cho anh (em) đem ra thực hành các thánh chỉ và quyết định này. Anh (em) phải hết lòng hết dạ tuân giữ và đem ra thực hành các điều ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Hôm nay, anh (em) đã làm cho Ðức Chúa tuyên bố rằng Người sẽ là Thiên Chúa của anh (em), rằng anh (em) phải đi theo đường lối của Người, giữ các thánh chỉ, mệnh lệnh, quyết định của Người, và nghe tiếng Người. <sup>18</sup> Hôm nay, Ðức Chúa đã khiến anh (em) tuyên bố rằng anh (em) sẽ là dân thuộc quyền sở hữu của Người như Người đã phán với anh (em), và rằng anh (em) sẽ giữ mọi mệnh lệnh của Người, <sup>19</sup> rằng Người sẽ cho anh (em) vượt mọi dân tộc Người đã tạo dựng, xét về vinh dự, danh tiếng và vinh quang, rằng anh (em) sẽ là một dân thánh hiến cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), như Người đã phán.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 27 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ghi khắc Luật vào đá. Các nghi lễ.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Mô-sê cùng với các kỳ mục của Ít-ra-en đã truyền cho dân rằng: &#8220;Hãy giữ tất cả mệnh lệnh mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay. <sup>2</sup> Ngày anh (em) sang qua sông Gio-đan vào đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), anh (em) sẽ dựng những tảng đá lớn và lấy vôi mà quét. <sup>3</sup> Khi sang qua sông, anh (em) sẽ viết trên tảng đá ấy mọi lời của Luật này; như vậy anh (em) sẽ được vào đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), đất tràn trề sữa và mật, như Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phán với anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Khi đã sang qua sông Gio-đan, anh (em) hãy dựng những tảng đá ấy trên núi Ê-van, như tôi truyền cho anh (em) hôm nay, và hãy lấy vôi mà quét. <sup>5</sup> Ở đó anh (em) hãy xây một bàn thờ để kính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), một bàn thờ bằng những viên đá anh (em) đã không dùng sắt mà đẽo. <sup>6</sup> Anh (em) hãy dùng những viên đá nguyên vẹn mà xây bàn thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và trên đó, hãy dâng lên Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), những lễ toàn thiêu. <sup>7</sup> Anh (em) hãy dâng những hy lễ kỳ an, hãy ăn tại đó và liên hoan trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em); <sup>8</sup> anh (em) hãy viết trên các tảng đá mọi lời của Luật này: hãy khắc rõ ràng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Mô-sê cùng với các tư tế Lê-vi nói với toàn thể Ít-ra-en rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Anh (em) hãy nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và đem ra thực hành những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Hôm ấy, ông Mô-sê đã truyền cho dân rằng: <sup>12</sup> &#8220;Khi anh (em) đã sang qua sông Gio-đan thì đây: Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Ít-xa-kha, Giu-se và Ben-gia-min sẽ đứng trên núi Ga-ri-dim để chúc phúc cho dân; <sup>13</sup> và đây: Rưu-vên, Gát, A-se, Dơ-vu-lun, Ðan và Náp-ta-li sẽ đứng trên núi Ê-van để nguyền rủa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Các thầy Lê-vi sẽ cất giọng và lớn tiếng nói với mọi người Ít-ra-en:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ðáng nguyền rủa thay người tạc tượng đúc tượng &#8211; điều ghê tởm đối với Ðức Chúa, đồ vật do tay thợ làm ra &#8211; và đặt ở nơi bí mật mà thờ! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ khinh dể cha mẹ! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ xê dịch ranh giới người đồng loại! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ làm cho người mù đi lạc đường! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ làm thiệt hại đến quyền lợi của ngoại kiều, cô nhi quả phụ! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ nằm với vợ của cha mình, vì nó xâm phạm đến quyền làm chồng của cha mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ nằm với con vật nào! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ nằm với chị em mình, con gái của cha hay mẹ mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ nằm với mẹ vợ mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ giết trộm người đồng loại! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ nhận quà hối lộ để giết người vô tội! Toàn dân sẽ thưa: A-men!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ðáng nguyền rủa thay kẻ không giữ trọn những lời của Luật này mà đem ra thực hành! Toàn dân sẽ thưa: A-men!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 28 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các lời chúc phúc</strong> (Lv 26: 3-13; Ðnl 7:12 -24)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nếu anh (em) thật sự nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà lo đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay, thì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho anh (em) vượt mọi dân tộc trên mặt đất, <sup>2</sup> và mọi phúc lành sau đây sẽ đến với anh (em) và bao trùm anh (em), bởi vì anh (em) đã nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em):</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Anh (em) sẽ được chúc phúc trong thành, anh (em) sẽ được chúc phúc ngoài đồng. <sup>4</sup> Con cái của lòng dạ anh (em), hoa màu của đất đai anh (em), đàn con của gia súc anh (em), bò con, chiên con của anh (em) đều được chúc phúc. <sup>5</sup> Giỏ của anh (em) và cối nhồi bột của anh (em) sẽ được chúc phúc. <sup>6</sup> Anh (em) sẽ được chúc phúc khi vào, anh (em) sẽ được chúc phúc khi ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Các kẻ thù anh (em) đứng lên chống lại anh (em), Ðức Chúa sẽ làm cho chúng bị đánh bại trước mặt anh (em): khi ra đánh anh (em), chúng cùng đi một lối, lúc phải trốn anh (em), chúng tháo chạy bảy đường. <sup>8</sup> Ðức Chúa sẽ truyền cho phúc lành ở với anh (em) trong kho lúa và trong mọi công việc tay anh (em) làm, và Người sẽ chúc phúc cho anh (em) trong đất mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa sẽ đặt anh (em) lên làm dân thánh hiến cho Người, như Người đã thề với anh (em), nếu anh (em) giữ các mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và nếu anh (em) đi theo đường lối của Người. <sup>10</sup> Mọi dân trên mặt đất sẽ thấy rằng anh (em) được mang danh Ðức Chúa, và chúng sẽ sợ anh (em). <sup>11</sup> Ðể anh (em) được hạnh phúc, Ðức Chúa sẽ cho anh (em) thành công, mà cho anh (em) sinh nhiều con cái, gia súc anh (em) sinh sôi nảy nở, đất đai anh (em) sinh nhiều hoa trái, trên đất đai mà Ðức Chúa đã thề với cha ông anh (em) là Người sẽ ban cho anh (em). <sup>12</sup> Ðức Chúa sẽ mở trời, là kho tàng quý báu của Người, cho anh (em), để ban mưa đúng mùa cho đất anh (em), và chúc phúc cho mọi việc tay anh (em) làm. Anh (em) sẽ cho nhiều dân tộc vay mượn, còn chính anh (em) sẽ không phải vay mượn. <sup>13</sup> Ðức Chúa sẽ đặt anh (em) đứng đầu chứ không đứng cuối, anh (em) sẽ chỉ đi lên chứ không đi xuống, nếu anh (em) nghe các mệnh lệnh của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà hôm nay tôi truyền cho anh (em) giữ và đem ra thực hành, <sup>14</sup> và nếu anh (em) tuân cứ mọi điều tôi truyền cho anh (em) hôm nay, không đi trệch bên phải bên trái, mà theo các thần khác và phụng thờ chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các lời nguyền rủa</strong> (Lv 26: 14-46)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Nhưng nếu anh (em) không nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), không lo đem ra thực hành tất cả những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay, thì những lời nguyền rủa sau đây sẽ đến với anh (em) và bao trùm anh (em):</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Anh (em) sẽ bị nguyền rủa trong thành, anh (em) sẽ bị nguyền rủa ngoài đồng. <sup>17</sup> Giỏ của anh (em) và cối nhồi bột của anh (em) sẽ bị nguyền rủa. <sup>18</sup> Con cái của lòng dạ anh (em), hoa màu của đất đai anh (em), bò con, chiên con của anh (em) sẽ bị nguyền rủa. <sup>19</sup> Anh (em) sẽ bị nguyền rủa khi vào, anh (em) sẽ bị nguyền rủa khi ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa sẽ khiến anh (em) mắc tai hoạ, phải hoảng sợ, bị đe doạ, trong mọi công việc tay anh (em) làm, cho đến khi anh (em) bị tiêu diệt và mau lẹ biến mất, vì sự gian ác anh (em) làm khi lìa bỏ Ðức Chúa. <sup>21</sup> Ðức Chúa sẽ cho ôn dịch bám vào anh (em), cho đến khi nó tận diệt anh (em), khiến anh (em) không còn trên đất anh (em) sắp vào chiếm hữu. <sup>22</sup> Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) bị suy mòn, nóng sốt, viêm, phỏng, bị hạn hán, và làm cho lúa mì bị úa vàng, bị sâu đục: các thứ đó sẽ theo sát anh (em) cho đến khi anh (em) biến mất. <sup>23</sup> Trời của anh (em), trên đầu anh (em), sẽ là đồng, đất dưới chân anh (em) sẽ là sắt. <sup>24</sup> Thay vì làm mưa trên đất anh (em), Ðức Chúa sẽ cho cát và bụi từ trời rơi xuống, cho đến khi anh (em) bị tiêu diệt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) bị đánh bại trước mặt quân thù: khi ra đánh chúng, anh (em) cùng đi một lối, lúc phải trốn chúng, anh (em) tháo chạy bảy đường. Anh (em) sẽ làm cho mọi dân tộc trên mặt đất phải gớm ghiếc. <sup>26</sup> Xác chết của anh (em) sẽ làm mồi cho mọi chim trời, và cho các thú vật trên mặt đất, mà không ai xua đuổi chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) bị ung nhọt Ai-cập, bị u bướu, ghẻ lở, ngứa ngáy, mà không thể chữa khỏi. <sup>28</sup> Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) bị điên khùng, mù loà, loạn trí. <sup>29</sup> Anh (em) sẽ mò mẫm giữa trưa, như người mù mò mẫm trong bóng tối, và sẽ không thấy đường mà đi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Anh (em) sẽ đính hôn với một phụ nữ, nhưng người khác sẽ cưỡng hiếp nàng; anh (em) sẽ xây nhà, nhưng không được ở, sẽ trồng vườn nho, nhưng không được hưởng trái đầu tiên. <sup>31</sup> Bò của anh (em) sẽ bị hạ trước mắt anh (em), mà anh (em) không được ăn thịt; lừa của anh (em) sẽ bị cướp trước mặt anh (em) và sẽ không trở về với anh (em); chiên dê của anh (em) sẽ bị nộp cho quân thù, mà không ai cứu giúp anh (em). <sup>32</sup> Con trai con gái của anh (em) sẽ bị nộp cho một dân khác; mắt anh (em) sẽ chứng kiến và suốt ngày mòn mỏi trông chờ chúng, nhưng anh (em) đành chịu bó tay. <sup>33</sup> Hoa màu của đất đai anh (em) và tất cả công lao vất vả của anh (em), thì một dân anh (em) không biết sẽ được hưởng; mãi mãi, anh (em) sẽ chỉ là người bị áp bức, bị hành hạ. <sup>34</sup> Anh (em) sẽ ra điên khùng vì cảnh tượng mắt anh (em) chứng kiến. <sup>35</sup> Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) bị ung độc không thể chữa lành ở đầu gối và ở đùi, từ bàn chân cho tới đỉnh đầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Ðức Chúa sẽ bắt anh (em) và vua mà anh (em) tôn lên cai trị anh (em), đi đến với một dân tộc anh (em) và cha ông anh (em) không biết, tại đó anh (em) sẽ phụng thờ các thần khác, là gỗ, là đá. <sup>37</sup> Anh (em) sẽ trở nên nỗi kinh hoàng, nên trò cười, nên đầu đề châm chọc cho mọi dân ở những nơi Ðức Chúa sẽ dẫn anh (em) đến.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Hạt giống anh (em) mang ra đồng thì nhiều, nhưng chỉ thu hoạch được ít, vì châu chấu sẽ phá hết. <sup>39</sup> Anh (em) sẽ trồng và chăm sóc vườn nho, nhưng rượu anh (em) sẽ không được uống và cả trái nho cũng chẳng được hái, vì sâu bọ sẽ ăn mất. <sup>40</sup> Anh (em) sẽ có những cây ô-liu trên toàn lãnh thổ anh (em), nhưng không có dầu mà xức, vì trái ô-liu của anh (em) sẽ rụng. <sup>41</sup> Anh (em) sẽ sinh con trai con gái, nhưng chúng sẽ không thuộc về anh (em), vì chúng sẽ bị đi đày. <sup>42</sup> Mọi cây cối và hoa màu của đất đai anh (em) sẽ bị bọ dừa phá hoại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Người ngoại kiều giữa anh (em) sẽ đi lên, lên mãi, vượt hẳn anh (em); còn anh (em) sẽ đi xuống, xuống mãi. <sup>44</sup> Họ sẽ cho anh (em) vay mượn, còn anh (em) sẽ không có gì cho họ vay mượn. Họ sẽ đứng đầu, còn anh (em) sẽ đứng cuối.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> Những lời nguyền rủa này sẽ đến với anh (em), theo sát và bao trùm anh (em), cho đến khi anh (em) bị tiêu diệt, vì anh (em) không nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), không giữ các mệnh lệnh và thánh chỉ của Người mà Người truyền cho anh (em). <sup>46</sup> Những điều ấy sẽ nên dấu lạ điềm thiêng cho anh (em) và dòng dõi anh (em) đến muôn đời.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Viễn tượng chiến tranh và tù đày</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Vì anh (em) đã không phụng thờ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), với tâm hồn vui sướng bởi có đầy đủ tất cả, <sup>48</sup> nên trong cảnh đói khát, trần truồng và thiếu thốn tất cả, anh (em) sẽ phải phục vụ quân thù của anh (em), những kẻ Ðức Chúa sẽ sai đến đánh anh (em). Người sẽ đặt ách sắt trên cổ anh (em), cho đến khi chúng tiêu diệt anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Ðể chống lại anh (em), Ðức Chúa sẽ đưa một dân tộc từ xa, từ cùng cõi đất, phóng đến như đại bàng, một dân tộc mà anh (em) không biết tiếng, <sup>50</sup> mặt mày cứng cỏi, già không nể, trẻ không thương. <sup>51</sup> Nó sẽ ăn đàn con của gia súc anh (em), hoa màu của đất đai anh (em), cho đến khi anh (em) bị tiêu diệt; nó sẽ không để lại cho anh (em) lúa mì, rượu mới, dầu tươi, bò con, chiên con, cho đến khi nó làm cho anh (em) biến mất. <sup>52</sup> Nó sẽ vây hãm anh (em) trong mọi thành của anh (em), cho đến khi các tường thành cao và kiên cố mà anh (em) tin tưởng, phải sụp đổ, trong khắp đất của anh (em); nó sẽ vây hãm anh (em) trong mọi thành của anh (em), trong khắp đất của anh (em) mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). <sup>53</sup> Khi bị vây hãm, bị quân thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, anh (em) sẽ ăn con cái của lòng dạ anh (em), ăn thịt con trai con gái anh (em) mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em). <sup>54</sup> Người đàn ông hào hoa phong nhã nhất trong anh (em) sẽ nhìn người anh em mình, người vợ mình đã từng âu yếm, và những đứa con còn giữ lại được, với cặp mắt dữ dằn, <sup>55</sup> vì không muốn chia cho ai trong những người này chút thịt những đứa con mà người ấy đang ăn, bởi lẽ người ấy không còn gì nữa, khi anh (em) bị vây hãm, bị kẻ thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, trong mọi thành của anh (em). <sup>56</sup> Người đàn bà liễu yếu đào tơ vào bậc nhất trong anh (em), mềm yếu và nhã nhặn đến đỗi chưa hề thử đặt bàn chân xuống đất, sẽ nhìn người chồng mình đã từng âu yếm và con trai con gái mình với cặp mắt dữ dằn; <sup>57</sup> ngay cả cái nhau từ trong lòng mình xổ ra và đứa con mình sinh ra, nàng sẽ lén ăn cả hai, bởi lẽ nàng thiếu tất cả, khi anh (em) bị vây hãm và bị kẻ thù siết chặt trong cảnh ngặt nghèo, trong các thành của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>58</sup> Nếu anh (em) không lo đem ra thực hành tất cả những lời của Luật này, chép trong sách này, và kính sợ danh hiển hách và khả uý này: Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), <sup>59</sup> thì Ðức Chúa sẽ làm cho anh (em) và làm cho dòng dõi anh (em) phải mang những vết thương lạ, những vết thương nặng và dai dẳng, những bệnh ác độc và dai dẳng. <sup>60</sup> Ðức Chúa sẽ cho trở lại với anh (em) mọi dịch tễ của Ai-cập, mà anh (em) kinh hãi, những dịch tễ ấy sẽ bám vào anh (em). <sup>61</sup> Cả mọi bệnh hoạn và mọi vết thương không được chép trong sách Luật này, Ðức Chúa cũng giáng xuống trên anh (em), cho đến khi anh (em) bị tiêu diệt. <sup>62</sup> Sau khi đã trở nên nhiều như sao trên trời, anh (em) sẽ chỉ còn lại một số người ít ỏi, vì anh (em) không nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>63</sup> Cũng như Ðức Chúa đã lấy làm vui khi cho anh em được hạnh phúc và nên đông đúc, thì Người cũng sẽ lấy làm vui khi để cho anh em bị giết chết, bị tiêu diệt, và bị bứng khỏi miền đất mà anh (em) sẽ vào chiếm hữu. <sup>64</sup> Ðức Chúa sẽ phân tán anh (em) vào giữa mọi dân, từ đầu đến cuối mặt đất, tại đó, anh (em) sẽ phụng thờ các thần khác, là gỗ, là đá, những thần mà anh (em) và cha ông anh (em) không biết. <sup>65</sup> Ở giữa các dân tộc ấy, anh (em) sẽ không được yên hàn và không có chỗ đặt bàn chân; tại đó, Ðức Chúa sẽ làm cho lòng anh (em) xao xuyến, đôi mắt mỏi mòn, tâm hồn kiệt quệ. <sup>66</sup> Mạng sống anh (em) sẽ treo lơ lửng trước mặt anh (em); đêm ngày anh (em) sẽ khiếp sợ, anh (em) sẽ không tin mình còn được sống. <sup>67</sup> Ban sáng anh (em) sẽ nói: &#8220;Bao giờ mới đến chiều?&#8221;; ban chiều anh (em) sẽ nói: &#8220;Bao giờ mới đến sáng?&#8221;, vì nỗi khiếp sợ tràn ngập tâm hồn anh (em) và vì cảnh tượng mắt anh (em) chứng kiến. <sup>68</sup> Ðức Chúa sẽ bắt anh (em) đi thuyền, đi bộ trở lại đất Ai-cập mà tôi đã nói với anh (em): &#8220;Anh (em) sẽ không còn thấy lại đất này nữa!&#8221; Tại đó, anh (em) sẽ bán mình làm tôi trai tớ gái cho quân thù của anh (em), mà chẳng có ai mua!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Diễn Từ Thứ Ba Của Ông Mô-Sê</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>69</sup> Ðây là những lời của giao ước mà Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê lập với con cái Ít-ra-en tại đất Mô-áp, không kể giao ước Người đã lập với họ tại núi Khô-rếp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 29 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ôn lại lịch sử</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Mô-sê triệu tập toàn thể Ít-ra-en và nói với họ:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> đó là các thử thách lớn lao mắt anh (em) từng thấy, là các dấu lạ điềm thiêng lớn lao ấy. <sup>3</sup> Nhưng cho đến ngày hôm nay, Ðức Chúa đã không cho anh em lòng để biết, mắt để thấy, tai để nghe.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ta đã dẫn các ngươi bốn mươi năm trong sa mạc, mà áo các ngươi mặc đã không rách, dép chân các ngươi đi đã không mòn. <sup>5</sup> Của ăn của các ngươi không phải là bánh, thức uống của các ngươi không phải là rượu và đồ uống có men, để các ngươi biết rằng Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. <sup>6</sup> Rồi anh em đã đến nơi này; Xi-khôn, vua Khét-bôn, và Ốc, vua miền Ba-san, đã ra nghênh chiến với chúng ta, và chúng ta đã đánh bại chúng. <sup>7</sup> Chúng ta đã chiếm đất của chúng, và chia cho chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát và một nửa chi tộc Mơ-na-se làm gia nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Anh em phải giữ những lời của giao ước này và đem ra thực hành để được thành công trong tất cả những gì anh em làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Giao ước tại Mô-áp</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Hôm nay, tất cả anh em đứng trước tôn nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em: nào là những người đứng đầu các chi tộc của anh em, nào là các kỳ mục, ký lục của anh em, mọi người phái nam trong Ít-ra-en, <sup>10</sup> nào là đàn bà con trẻ của anh em, nào là người ngoại kiều ở trong trại của anh (em), từ người chặt củi cho đến người múc nước cho anh (em). <sup>11</sup> Anh (em) sắp gia nhập giao ước của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), giao ước có kèm theo lời thề nguyền, là giao ước mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), lập với anh (em) hôm nay, <sup>12</sup> để đặt anh (em) lên làm dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa của anh (em), như Người đã phán với anh (em) và như Người đã thề với cha ông anh (em), là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. <sup>13</sup> Không phải chỉ riêng với anh em mà tôi lập giao ước này, có kèm theo lời thề nguyền này, <sup>14</sup> nhưng còn với kẻ có mặt ở đây với chúng ta, và hôm nay đang đứng trước tôn nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, cũng như với kẻ không có ở đây với chúng ta hôm nay.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Chính anh em biết chúng ta đã sống bên đất Ai-cập làm sao và đã băng qua lãnh thổ các dân tộc mà anh em đã đi qua như thế nào. <sup>16</sup> Anh em đã thấy ở giữa chúng các đồ gớm ghiếc và các ngẫu tượng của chúng, là gỗ, đá, bạc, vàng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Giữa anh em, đừng có người nào, nam hay nữ, đừng có dòng họ hay chi tộc nào hôm nay trở lòng với Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà đi phụng thờ các thần của những dân tộc ấy. Giữa anh em, đừng có thứ rễ sinh trái độc và quả đắng. <sup>18</sup> Nếu kẻ nào, khi nghe các lời thề nguyền này, lại tự chúc phúc cho mình trong lòng mà nói: &#8220;Tôi sẽ được bình an, cho dù tôi cứ sống theo lòng chai dạ đá của tôi&#8221;; như thể đất được tưới không khác gì đất khô cằn; <sup>19</sup> nếu kẻ nào làm thế thì Ðức Chúa sẽ không muốn tha cho nó; bấy giờ cơn giận và lòng ghen tương của Ðức Chúa sẽ bốc lên phạt người ấy, tất cả lời thề nguyền chép trong sách này sẽ đổ xuống trên nó, và Ðức Chúa sẽ xoá tên nó không còn dấu vết trong thiên hạ. <sup>20</sup> Ðức Chúa sẽ tách nó ra khỏi mọi chi tộc Ít-ra-en, cho nó phải mang hoạ, chiếu theo mọi lời thề nguyền của giao ước chép trong sách Luật này.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Viễn tượng lưu đày</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Khi thấy các vết thương của miền đất này và những bệnh tật Ðức Chúa giáng xuống trên đó, thì thế hệ tương lai, tức là con cái anh em đứng lên sau anh em, và người nước ngoài đến từ một miền đất xa xôi, sẽ nói: <sup>22</sup> &#8220;Cả miền đất chỉ là diêm sinh, muối và lửa, không ai gieo vãi, không chi nảy chồi, không cọng cỏ nào mọc lên, giống như cảnh tàn phá ở Xơ-đôm, Gô-mô-ra, Át-ma và Xơ-vô-gim, những thành mà Ðức Chúa đã phá đổ trong cơn thịnh nộ và lôi đình của Người. <sup>23</sup> Và mọi dân tộc sẽ nói: &#8220;Vì sao Ðức Chúa đã xử như thế với miền đất này? Vì sao cơn thịnh nộ lớn lao này đã bừng cháy? <sup>24</sup> Người ta sẽ trả lời: &#8220;Ấy là vì họ bỏ giao ước của Ðức Chúa, Thiên Chúa của cha ông họ, giao ước Người đã lập với họ, khi Người đưa họ ra khỏi đất Ai-cập. <sup>25</sup> Họ đã đi phụng thờ các thần khác và sụp xuống lạy các thần ấy, những thần mà họ không biết và Người đã chẳng phân chia cho họ. <sup>26</sup> Ðức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với miền đất này, và giáng xuống tất cả lời nguyền rủa chép trong sách này. <sup>27</sup> Trong cơn thịnh nộ, lôi đình và giận dữ lớn lao, Ðức Chúa đã bứng họ đi khỏi đất đai của họ và ném họ vào một miền đất khác, như ngày hôm nay. <sup>28</sup> Có những điều Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, giữ kín cho mình; nhưng những điều này được mặc khải cho chúng ta và con cháu chúng ta đến muôn đời, để chúng ta đem ra thực hành những lời của Luật này.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 30 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trở về từ chốn lưu đày. Trở lại với Chúa.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vậy khi tất cả những điều ấy xảy đến cho anh (em), tức là lời chúc phúc và lời nguyền rủa tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn, anh (em) sẽ để tâm suy niệm những điều ấy, giữa các dân tộc, nơi mà Ðức Chúa đã đuổi anh (em) đến; <sup>2</sup> anh (em) sẽ trở về cùng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), anh (em) và con cái anh (em) sẽ nghe tiếng Người, hết lòng hết dạ, theo mọi điều tôi truyền cho anh (em) hôm nay. <sup>3</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đổi vận mạng anh (em), sẽ chạnh lòng thương và sẽ lại tập trung anh (em) về từ mọi dân, từ nơi mà Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phân tán anh (em). <sup>4</sup> Dù anh (em) có bị đuổi xa đến tận chân trời, thì Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), cũng sẽ tập trung anh (em) từ đó về, và từ đó Người sẽ đón anh (em). <sup>5</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đưa anh (em) về đất mà cha ông anh (em) đã chiếm hữu, để anh (em) chiếm hữu đất ấy; Người sẽ làm cho anh (em) được hạnh phúc và đông đúc hơn cha ông anh (em).</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cắt bì tâm hồn anh (em) và tâm hồn dòng dõi anh (em), để anh (em) yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, ngõ hầu anh (em) được sống. <sup>7</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ giáng mọi lời nguyền rủa này trên quân thù anh (em), những kẻ ghét và bắt bớ anh (em). <sup>8</sup> Phần anh (em), anh (em) sẽ trở lại và nghe tiếng Ðức Chúa, sẽ đem ra thực hành mọi mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh (em) hôm nay. <sup>9</sup> Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cho anh (em) thành công trong mọi công việc tay anh (em) làm, cho anh (em) sinh nhiều con cái, gia súc anh (em) sinh sôi nảy nở, đất đai anh (em) sinh nhiều hoa trái, để anh (em) được hạnh phúc. Thật vậy, Ðức Chúa sẽ lấy làm vui vì hạnh phúc của anh (em), cũng như Người đã lấy làm vui vì hạnh phúc của cha ông anh (em), <sup>10</sup> miễn là anh (em) nghe tiếng Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Người, ghi trong sách Luật này, miễn là anh (em) trở về với Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh (em) hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh (em). <sup>12</sup> Mệnh lệnh đó không ở trên trời, khiến anh (em) phải nói: &#8220;Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành? <sup>13</sup> Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh (em) phải nói: &#8220;Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành? <sup>14</sup> Thật vậy, lời đó ở rất gần anh (em), ngay trong miệng, trong lòng anh (em), để anh (em) đem ra thực hành.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hai con đường</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh (em) chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ. <sup>16</sup> Hôm nay tôi truyền cho anh (em) phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Người, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), chúc phúc cho anh (em) trong miền đất anh (em) sắp vào chiếm hữu. <sup>17</sup> Nhưng nếu anh (em) trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lạy các thần khác và phụng thờ chúng, <sup>18</sup> thì hôm nay tôi báo cho anh (em) biết: chắc chắn anh (em) sẽ bị diệt vong, sẽ không được sống lâu trên đất mà anh (em) sắp sang qua sông Gio-đan để vào chiếm hữu. <sup>19</sup> Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống, <sup>20</sup> nghĩa là hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), nghe tiếng Người và gắn bó với Người, vì như thế anh (em) sẽ được sống, sống lâu mà ở lại trên đất Ðức Chúa đã thề với cha ông anh (em), là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho các ngài.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 31 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">IV. Những Việc Làm Cuối Cùng Của Ông Mô-Sê.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Ông Mô-Sê Qua Ðời.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sứ mạng của ông Giô-suê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Mô-sê đến nói những lời này với toàn thể Ít-ra-en. <sup>2</sup> Ông bảo họ: &#8220;Hôm nay tôi đã được một trăm hai mươi tuổi, tôi không thể đi ra đi vào được nữa, và Ðức Chúa đã bảo tôi: &#8220;Ngươi sẽ không được sang qua sông Gio-đan kia. <sup>3</sup> Chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ dẫn đầu anh (em) sang qua sông, Người sẽ tiêu diệt các dân tộc ấy cho khuất mắt anh (em), để anh (em) chiếm đất của chúng. Chính ông Giô-suê sẽ dẫn đầu anh (em) sang qua sông, như Ðức Chúa đã phán. <sup>4</sup> Ðức Chúa sẽ xử với chúng như đã xử với các vua người E-mô-ri là Xi-khôn và Ốc, và với đất nước của chúng: Người đã tiêu diệt chúng. <sup>5</sup> Ðức Chúa sẽ trao các dân tộc ấy cho anh (em), và anh (em) sẽ xử với chúng theo như tất cả mệnh lệnh tôi đã truyền cho anh (em). <sup>6</sup> Mạnh bạo lên, can đảm lên! Ðừng sợ, đừng run khiếp trước mặt chúng, vì chính Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi với anh (em); Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh (em).&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Rồi ông Mô-sê gọi ông Giô-suê lại, và nói với ông trước mặt toàn thể Ít-ra-en: &#8220;Mạnh bạo lên, can đảm lên! Chính anh sẽ cùng với dân này vào đất Ðức Chúa đã thề với cha ông họ rằng Người sẽ ban cho họ; chính anh sẽ cho họ hưởng đất ấy làm gia nghiệp. <sup>8</sup> Chính Ðức Chúa đi phía trước anh, chính Người sẽ ở với anh; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh. Ðừng sợ, đừng hãi!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nghi thức công bố luật</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Mô-sê viết luật này và trao cho các tư tế, con cái Lê-vi, là những người sẽ kiệu Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, và cho tất cả các kỳ mục Ít-ra-en. <sup>10</sup> Ông Mô-sê truyền cho họ rằng: &#8220;Sau bảy năm, vào thời kỳ có năm tha nợ, trong dịp lễ Lều, <sup>11</sup> khi toàn thể Ít-ra-en đến để ra trình diện Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), ở nơi Người chọn, anh (em) phải đọc luật này trước toàn thể Ít-ra-en, cho họ nghe. <sup>12</sup> Anh (em) hãy tập hợp dân, đàn ông, đàn bà, trẻ con và người ngoại kiều ở trong các thành của anh (em), để họ nghe và để họ học cho biết kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), và lo đem ra thực hành mọi lời của luật này. <sup>13</sup> Con cái họ, là những kẻ không biết, sẽ nghe và học cho biết kính sợ Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày anh em sống trên đất mà anh em sắp qua sông Gio-đan để chiếm hữu.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Huấn thị của Ðức Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ðây sắp đến ngày ngươi phải lìa đời. Hãy gọi Giô-suê đến, và các người hãy đứng ở Lều Hội Ngộ để Ta truyền lệnh cho nó.&#8221; Ông Mô-sê và ông Giô-suê ra đứng ở Lều Hội Ngộ. <sup>15</sup> Ðức Chúa xuất hiện trong Lều, trong cột mây và cột mây đứng ở cửa Lều.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ðây ngươi sắp nằm xuống với cha ông ngươi, và dân này sẽ chạy theo các thần mà làm điếm, các thần của người ngoại bang ở trong đất nó sắp vào; nó sẽ bỏ Ta và sẽ phá vỡ giao ước của Ta, giao ước Ta đã lập với nó. <sup>17</sup> Ngày ấy, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với nó. Ta sẽ bỏ chúng và sẽ ẩn mặt đi không nhìn chúng. Bấy giờ nó sẽ bị thôn tính, và nhiều tai hoạ, nhiều cơn ngặt nghèo sẽ xảy ra cho nó. Ngày đó, nó sẽ nói: &#8220;Những tai hoạ này xảy ra cho tôi, phải chăng là vì Thiên Chúa không còn ở giữa tôi? <sup>18</sup> Phần Ta, ngày đó Ta sẽ cứ ẩn mặt đi, vì tất cả điều ác nó làm khi hướng về các thần khác.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bài ca làm chứng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Bây giờ các ngươi hãy viết cho mình bài ca này, (các) ngươi hãy dạy cho con cái Ít-ra-en, hãy đặt vào miệng chúng, để Ta lấy bài ca ấy làm chứng cáo tội con cái Ít-ra-en. <sup>20</sup> Thật vậy, Ta sẽ đưa nó vào đất Ta đã thề hứa với cha ông nó, đất tràn trề sữa và mật, nó sẽ được ăn, được no nê, sẽ béo mập, rồi sẽ hướng về các thần khác và phụng thờ chúng, nó sẽ khinh thị Ta và phá vỡ giao ước của Ta. <sup>21</sup> Khi nhiều tai hoạ, nhiều cơn ngặt nghèo xảy ra cho chúng, thì bài ca này sẽ làm chứng cáo tội nó, vì dòng dõi chúng sẽ không quên lặp lại bài ca này. Thật vậy, Ta biết ý định nó đang mưu tính hôm nay, ngay cả trước khi Ta đưa nó vào đất mà Ta đã thề hứa.&#8221; <sup>22</sup> Hôm ấy, ông Mô-sê đã viết bài ca này và dạy con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðức Chúa truyền lệnh cho ông Giô-suê, con ông Nun, Người phán: &#8220;Mạnh bạo lên, can đảm lên! Chính ngươi sẽ đưa con cái Ít-ra-en vào đất mà Ta đã thề hứa với chúng; và Ta sẽ ở với ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðặt Luật bên Hòm Bia</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Khi ông Mô-sê đã viết xong các lời của luật này vào một cuốn sách, từ đầu chí cuối, <sup>25</sup> thì ông truyền cho các thầy Lê-vi, những người kiệu Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, rằng: <sup>26</sup> &#8220;Hãy đem sách luật này đặt bên Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa, Thiên Chúa của anh em; ở đó sách ấy sẽ làm chứng cáo tội anh (em). <sup>27</sup> Vì tôi biết anh (em) hay phản nghịch và cứng cổ: hôm nay tôi còn sống với anh em, mà anh em đã phản nghịch chống lại Ðức Chúa, huống chi là sau khi tôi chết!</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tập hợp dân để nghe bài ca</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Hãy tập hợp lại chung quanh tôi hết mọi kỳ mục của các chi tộc anh em và các ký lục của anh em; tôi sẽ nói cho họ nghe những lời này, và lấy trời đất làm chứng cáo tội họ. <sup>29</sup> Vì tôi biết rằng, sau khi tôi chết, chắc chắn anh em sẽ ra hư hỏng, và sẽ đi ra ngoài con đường tôi đã truyền cho anh em; và tai hoạ sẽ xảy đến cho anh em sau này, vì anh em sẽ làm điều dữ trái mắt Ðức Chúa, để trêu giận Người bằng những việc tay anh em làm.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Rồi ông Mô-sê nói cho toàn thể đại hội Ít-ra-en nghe những lời của bài ca này, từ đầu chí cuối:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 32 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Bài Ca Của Ông Mô-Sê</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Trời hãy lắng tai, này tôi sắp kể,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đất nghe cho tường lời lẽ miệng tôi:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Giáo huấn của tôi như giọt mưa thánh thót,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lời tôi dạy bảo tựa sương móc nhỏ sa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khác nào mưa rơi trên nội cỏ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">giống như nước đổ xuống đồng xanh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Này tôi xưng tụng thánh danh Ðức Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trời đất hãy suy tôn Thiên Chúa ta thờ!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Người là Núi Ðá: sự nghiệp Người hoàn hảo,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì mọi đường lối Người đều thẳng ngay.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúa tín thành, không mảy may gian dối,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người quả là chính trực công minh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Những đứa con mà Chúa đã sinh ra không tì ố</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">lại lỗi đạo với Người, ôi nòi giống lưu manh tà vạy!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Hỡi dân tộc ngu si khờ dại,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngươi đáp đền ơn Ðức Chúa vậy sao?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Há chính Người chẳng phải cha ngươi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðấng dựng nên ngươi, Ðấng tạo thành, củng cố?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Hãy nhớ lại những ngày xưa tháng cũ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và ngẫm xem từng thế hệ qua rồi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Cứ hỏi cha ngươi là người sẽ dạy,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thỉnh bậc lão thành, họ sẽ nói cho nghe.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Khi Ðấng Tối Cao định phần riêng cho muôn nước,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và khiến loài người khắp ngả chia tay,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì Người vạch biên cương cho từng dân tộc</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">theo số các thần minh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nhưng sở hữu của Ðức Chúa chính là dân Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhà Gia-cóp là cơ nghiệp của Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Gặp thấy nó giữa miền hoang địa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">giữa cảnh hỗn mang đầy tiếng hú rợn rùng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúa ấp ủ, Chúa lo dưỡng dục,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Tựa chim bằng trên tổ lượn quanh, giục bầy con bay nhảy,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xoè cánh ra đỡ lấy rồi cõng con trên mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Duy một mình Ðức Chúa lãnh đạo dân;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chẳng có thần ngoại bang nào bên cạnh Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Người cho nó phóng ngựa trên các vùng đất cao trong xứ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó được ăn hoa màu đồng ruộng;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người cho nó nếm mật ong chảy ra từ hốc đá,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nếm dầu từ tảng đá hoa cương;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> nếm sữa bò chua và sữa chiên dê,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">với mỡ chiên con, chiên đực miền Ba-san,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mỡ dê đực, với lúa mì tinh hảo;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngươi uống máu trái nho đã hoá rượu nồng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Giơ-su-run mập ra, nó hất chân đá hậu</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">- ngươi mập, béo, phát phì -</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó đã bỏ Thiên Chúa, Ðấng đã làm ra nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Núi Ðá độ trì nó, nó đã khinh thường.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Chúng thờ các thần xa lạ khiến Người phải ghen tương,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">làm những điều ghê tởm mà trêu giận Người;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> chúng tế những quỷ không phải là Thiên Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tế những thần chúng không biết,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">những thần mới, vừa mới đến,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà cha ông các ngươi đã không khiếp sợ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Núi Ðá sinh ra ngươi, ngươi lại coi thường,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngươi quên Thiên Chúa, Ðấng đã sinh ra ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ðức Chúa thấy vậy thì khinh miệt,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì con trai con gái Người đã trêu giận Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Người phán: &#8220;Ta sẽ ẩn mặt đi không nhìn chúng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">để xem hậu vận chúng ra sao;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì chúng là giống nòi tráo trở,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">những đứa con chẳng chút tín trung.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Chúng đã thờ các thần không phải là Thiên Chúa</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khiến Ta phải ghen tương,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thờ những thần hư ảo mà trêu giận Ta;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ta sẽ dùng một dân không phải là dân</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khiến chúng phải ghen tương,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dùng một dân tộc ngu si mà trêu giận chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Phải, lửa thịnh nộ đã bùng lên trong Ta,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó đốt đến tận đáy sâu âm phủ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thiêu huỷ đất đai với cả hoa màu,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">làm chân núi đồi bốc cháy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Trên chúng, Ta sẽ chồng chất tai ương,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sẽ phóng hết mũi tên của Ta vào chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Khi vì đói, chúng phải hao mòn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì sốt, vì ôn dịch tàn khốc mà phải tiêu tan,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ta sẽ gửi đến chúng nanh thú dữ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">với nọc của loài bò sát trên bụi đất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ngoài thì lưỡi gươm sẽ làm chúng mất con,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trong thì là nỗi kinh hoàng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Cả trai tráng lẫn người trinh nữ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trẻ đang bú cũng như người bạc đầu sẽ chung số phận.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ta đã phán: Ta sẽ đập chúng tan tành,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">làm cho loài người chẳng còn ai nhớ tới,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> nếu như Ta không sợ kẻ thù xúc phạm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðối thủ chúng chớ có hiểu lầm</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà nói rằng: &#8220;Chúng ta cao tay hơn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tất cả điều đó, đâu phải là Ðức Chúa đã làm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Quả thế, chúng là một dân tộc phán đoán sai lạc,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thiếu hẳn trí thông minh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Nếu là người khôn ngoan, chúng sẽ hiểu điều đó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sẽ thông suốt hậu vận của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Làm sao một người đuổi được một ngàn người,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và hai người khiến mười ngàn người trốn chạy,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nếu không phải vì Núi Ðá của chúng đã bán chúng đi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và Ðức Chúa đã nộp chúng rồi?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Vì núi đá của chúng không phải như Núi Ðá của chúng ta.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chính kẻ thù chúng ta đều công nhận.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Nho của chúng lấy giống từ nho của Xơ-đôm,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ những cánh đồng của Gô-mô-ra;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trái nho của chúng là trái nho độc,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chùm nho của chúng mới đắng làm sao!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Rượu của chúng là nọc mãng xà,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là chất độc giết người của rắn hổ mang.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ðiều này chẳng được giữ kỹ bên Ta,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">được niêm phong trong các kho tàng của Ta sao?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Chính Ta sẽ báo oán và đáp trả,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vào lúc mà chân chúng lảo đảo té xiêu,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì ngày chúng lâm nạn đã gần,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và vận hạn chúng đang sầm sập tới.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Thật vậy, Ðức Chúa sẽ xét xử cho thần dân,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sẽ dủ lòng thương hàng tôi tớ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khi Người thấy rằng bàn tay chúng yếu đi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và người nô lệ, kẻ tự do cũng chẳng còn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Bấy giờ Người phán: &#8220;Ðâu rồi các thần của chúng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đâu rồi núi đá chúng ẩn thân?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Ðâu rồi những kẻ ăn mỡ lễ tế của chúng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">uống rượu tế chúng dâng?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các thần đó hãy đứng lên và phù trợ các ngươi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho các ngươi có một nơi ẩn náu!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Bây giờ hãy coi đây: Ta chính là Ta,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bên cạnh Ta, chẳng có thần nào khác,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ta cầm quyền sinh tử, Ta đánh phạt, rồi Ta lại chữa lành,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">không ai cứu khỏi tay Ta được.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Phải, Ta giơ tay lên trời, Ta nói: Ta sống đến muôn đời!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Khi Ta mài lưỡi gươm sáng loé của Ta, khi Ta ra tay xét xử,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì Ta sẽ báo oán các đối thủ của Ta, sẽ đáp trả những kẻ ghét Ta,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Ta sẽ làm cho các mũi tên của Ta say máu,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">gươm của Ta sẽ ăn thịt:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">máu những người bị giết và những tù nhân,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thịt đầu các thủ lãnh quân thù.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Hỡi các dân tộc, hãy reo hò mừng dân Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì Người bắt đền nợ máu các tôi tớ của Người,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">báo oán các đối thủ của Người,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và xá tội cho đất, cho dân của Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Ông Mô-sê cùng đến với ông Hô-sê-a, con ông Nun, và nói cho dân nghe tất cả những lời của bài ca này.</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật là nguồn sống</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> Khi ông Mô-sê đã nói xong tất cả những lời ấy với toàn thể Ít-ra-en, <sup>46</sup> thì ông bảo họ: &#8220;Hãy để tâm vào tất cả những lời mà hôm nay tôi cảnh cáo anh em, hãy truyền những lời đó cho con cái anh em, để chúng lo đem ra thực hành tất cả những lời của Luật này. <sup>47</sup> Thật vậy, đó không phải là một lời trống rỗng đối với anh em, mà đó là sự sống của anh em, và nhờ lời ấy, anh em sẽ được sống trên đất mà anh em sắp qua sông Gio-đan để chiếm hữu.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Báo trước cái chết của ông Mô-sê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Chính ngày đó, Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>49</sup> &#8220;Ngươi hãy lên ngọn núi kia của dãy A-va-rim, lên ngọn núi Nơ-vô, ở đất Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô, và hãy nhìn xem đất Ca-na-an mà ta ban cho con cái Ít-ra-en làm sở hữu. <sup>50</sup> Rồi ngươi hãy chết trên ngọn núi ngươi sắp lên, và hãy về sum họp với gia tộc ngươi, cũng như A-ha-ron, anh ngươi, đã chết tại núi Ho và đã về sum họp với gia tộc. <sup>51</sup> Bởi vì giữa con cái Ít-ra-en, các ngươi đã không trung thành với Ta tại mạch nước Mơ-ri-va ở Ca-đê, trong sa mạc Xin, và bởi vì các ngươi đã không biểu lộ sự thánh thiện của Ta giữa con cái Ít-ra-en, <sup>52</sup> nên ngươi chỉ được thấy đất ấy từ xa, chứ không được vào đó, vào đất Ta ban cho con cái Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 33 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những lời chúc phúc của ông Mô-sê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là lời chúc phúc mà ông Mô-sê, người của Thiên Chúa, đã chúc phúc cho con cái Ít-ra-en trước khi qua đời. <sup>2</sup> Ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ðức Chúa từ Xi-nai ngự đến, từ Xê-ia, Người chiếu soi trên họ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người giãi sáng từ núi Pa-ran, Người đã đến Mơ-ri-va ở Ca-đê,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì họ, từ phía nam Người đến Sườn Núi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Hẳn Chúa yêu thương các dân, toàn dân thánh ở trong tay Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và họ phục dưới chân Ngài, mỗi người nhận lấy lời Ngài phán.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ông Mô-sê đã truyền cho chúng ta một Luật,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là sở hữu của cộng đồng Gia-cóp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ở Giơ-su-run đã có một vua,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">khi các người đứng đầu dân tụ họp, cùng với các chi tộc Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ước gì Rưu-vên sống và không chết,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và số người ít ỏi của nó tồn tại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Về Giu-đa, đây là điều ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Lạy Ðức Chúa, xin nghe tiếng của Giu-đa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xin đưa nó trở về với dân nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và để nó tự tay bảo vệ chính mình,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xin Ngài phù trợ nó chống lại đối phương.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Về Lê-vi, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Thẻ xăm tum-mim và u-rim của Ngài</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thuộc về kẻ hiếu trung với Ngài,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">mà Ngài đã thử thách tại Ma-xa</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và đã cùng tranh tụng bên dòng nước Mơ-ri-va;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> nó là người đã nói về cha mẹ nó: &#8220;Tôi không nhìn thấy họ&#8221;,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">anh em nó, nó không nhìn nhận, con cái nó, nó không biết.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chi tộc Lê-vi đã tuân thủ lời Ngài và đã giữ giao ước của Ngài.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Họ dạy những quyết định của Ngài cho nhà Gia-cóp,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">luật của Ngài cho Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Họ dâng hương thơm để Ngài thưởng thức,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và lễ toàn thiêu trên bàn thờ Ngài.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Lạy Ðức Chúa, xin chúc phúc cho lòng dũng cảm của nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xin Ngài khứng nhận việc tay nó làm;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xin đập gãy lưng thù địch nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và ước gì những kẻ ghét nó không còn chỗi dậy được! &#8220;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Về Ben-gia-min, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Là kẻ được Ðức Chúa yêu thương, nó sống yên hàn ở bên Người,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðấng suốt ngày che chở nó và ngự giữa núi đồi của nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Về Giu-se, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðất của nó được phúc lành của Ðức Chúa:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ơn lộc từ trời, là sương móc nhỏ sa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và từ vực sâu nằm ở phía dưới;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> ơn lộc là những gì trổ sinh dưới ánh mặt trời,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là những gì mọc lên mỗi tuần trăng;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> là sản phẩm hàng đầu của núi non thái cổ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">của gò nổng thiên thu;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> là đất đai và thổ sản của nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hồng ân của Ðấng ngự giữa bụi gai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ước chi những phúc lành ấy xuống trên đầu Giu-se,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trên đỉnh đầu người được thánh hiến giữa anh em mình!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Nó là con bò mộng đầu lòng của Chúa, chúc nó được vinh hiển!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Sừng nó là sừng trâu, nó dùng để quật ngã các dân,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một trật trên khắp cùng cõi đất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðó là vạn vạn người Ép-ra-im, đó là ngàn ngàn quân Mơ-na-se.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Về Dơ-vu-lun, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Hãy vui mừng, hỡi Dơ-vu-lun, trong các chuyến đi của ngươi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và hỡi Ít-xa-kha, trong lều trại của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Họ gọi các dân lên núi, ở đó họ dâng những lễ tế luật truyền;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">họ hút về tài nguyên của biển và các kho tàng ẩn giấu dưới cát.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Về Gát, ông nói: Chúc tụng Ðấng cho Gát được thênh thang!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Như sư tử cái, nó phục sẵn, nó xé mồi, cả vai lẫn đầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Nó coi sản phẩm đầu mùa là của nó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">vì trong đó có phần dành cho người lãnh đạo;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó đến với các người đứng đầu dân,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó thực hành sự công chính của Ðức Chúa</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và các quyết định của Người về Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Về Ðan, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðan là sư tử con chồm lên từ miền Ba-san.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Về Náp-ta-li, ông nói: Náp-ta-li được no đầy hồng ân</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và chứa chan phúc lành của Ðức Chúa;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó hãy chiếm phía tây và phía nam.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Về A-se, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ước gì nó được chúc phúc hơn các người con khác!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ước gì nó được anh em mình ưu ái, và được dầm chân trong dầu!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ước gì then cửa của ngươi bằng sắt bằng đồng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và sức mạnh của ngươi bền bỉ như ngày đời ngươi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Hỡi Giơ-su-run, chẳng có ai như Thiên Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người ngự đến giúp ngươi, lẫm liệt uy hùng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">xa giá Người là trời cao mây thẳm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Thiên Chúa của thời thái cổ là một nơi ẩn náu;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">dưới đất này, cánh tay Người đã hành động từ xưa;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người xua đuổi kẻ thù cho khuất mắt ngươi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và Người phán: &#8220;Hãy tiêu diệt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ít-ra-en sống yên hàn; suối Gia-cóp là dòng suối biệt lập,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trong miền đất có lúa mì và rượu mới,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ở đó, cả trời cũng nhỏ sương.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Hỡi Ít-ra-en, ngươi thật có phúc!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai được như ngươi, hỡi dân được Ðức Chúa cứu?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người là thuẫn đỡ cứu giúp ngươi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">là lưỡi gươm đem lại cho ngươi chiến thắng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các kẻ thù ngươi sẽ nịnh bợ cầu thân,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">còn ngươi sẽ chà đạp các đỉnh cao của chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 34 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;">&nbsp;</p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Mô-sê qua đời</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Từ đồng bằng Mô-áp, ông Mô-sê lên núi Nơ-vô, tới Pít-ga, đối diện với Giê-ri-khô, và Ðức Chúa cho ông xem thấy tất cả miền đất: miền Ga-la-át cho đến Ðan, <sup>2</sup> tất cả Náp-ta-li, miền đất Ép-ra-im và Mơ-na-se, tất cả miền đất Giu-đa cho đến Biển Tây, <sup>3</sup> miền Ne-ghép, vùng sông Gio-đan, thung lũng Giê-ri-khô là thành Chà Là, cho đến Xô-a. <sup>4</sup> Ðức Chúa phán với ông: &#8220;Ðây là miền đất Ta đã thề hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, khi nói: &#8220;Ta sẽ ban đất ấy cho dòng dõi ngươi. Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không được qua đó.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông Mô-sê, tôi trung của Ðức Chúa, qua đời tại đó, trong đất Mô-áp, theo lệnh Ðức Chúa. <sup>6</sup> Ông được mai táng trong thung lũng, ở miền đất Mô-áp, đối diện với Bết Pơ-o. Cho đến ngày hôm nay, không ai biết mộ ông ở đâu. <sup>7</sup> Khi chết, ông Mô-sê thọ một trăm hai mươi tuổi, mắt không mờ, khí lực không giảm. <sup>8</sup> Con cái Ít-ra-en khóc ông Mô-sê trong đồng bằng Mô-áp ba mươi ngày; rồi những ngày than khóc thọ tang ông Mô-sê chấm dứt. <sup>9</sup> Ông Giô-suê, con ông Nun, đã được đầy thần khí khôn ngoan, vì ông Mô-sê đã đặt tay trên ông. Con cái Ít-ra-en nghe ông và làm như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Trong Ít-ra-en, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê, người mà Ðức Chúa biết rõ, mặt giáp mặt. <sup>11</sup> Ðức Chúa đã sai ông thực hiện mọi điềm thiêng dấu lạ tại nước Ai-cập, phạt Pha-ra-ô cùng tất cả bề tôi và cả nước. <sup>12</sup> Ông Mô-sê đã biểu dương tất cả sức mạnh bàn tay ông và gây tất cả nỗi kinh hoàng lớn lao trước mắt toàn thể Ít-ra-en.</span></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/431/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=431&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/02/23/sach-th%e1%bb%a9-lu%e1%ba%adt-d%e1%bb%87-nh%e1%bb%8b-lu%e1%ba%adt/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Dân Số</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/01/26/sach-dan-s%e1%bb%91/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/01/26/sach-dan-s%e1%bb%91/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 26 Jan 2011 11:24:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[I.4. Sách Dân Số]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=418</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Kiểm Tra Dân Số 1 Tại sa mạc Xi-nai ngày mồng một tháng hai năm thứ hai kể từ khi con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập, Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trong Lều Hội Ngộ rằng: 2 &#8220;Các ngươi hãy kiểm tra dân số toàn thể cộng đồng [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=418&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Kiểm Tra Dân Số</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Tại sa mạc Xi-nai ngày mồng một tháng hai năm thứ hai kể từ khi con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập, Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trong Lều Hội Ngộ rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Các ngươi hãy kiểm tra dân số toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách mọi người đàn ông từng người một. <sup>3</sup> Những người từ hai mươi tuổi trở lên, nghĩa là mọi người trong dân Ít-ra-en đến tuổi nhập ngũ, thì ngươi và A-ha-ron hãy liệt kê theo đơn vị của chúng. <sup>4</sup> Mỗi chi tộc còn phải có một người giúp các ngươi, người ấy phải là tộc trưởng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span id="more-418"></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nhân viên kiểm tra</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðây là danh sách những người đứng ra giúp các ngươi: &#8220;Chi tộc Rưu-vên có Ê-li-xua, con Sơ-đê-ua.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Chi tộc Si-mê-ôn có Sơ-lu-mi-ên, con Xu-ri-sát-đai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Chi tộc Giu-đa có Nác-sôn, con Am-mi-na-đáp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Chi tộc Ít-xa-kha có Nơ-than-ên, con Xu-a.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Chi tộc Dơ-vu-lun có Ê-li-áp, con Khe-lôn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con cháu Giu-se: chi tộc Ép-ra-im có Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút, và chi tộc Mơ-na-se có Gam-li-ên, con Pơ-đa-xua.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Chi tộc Ben-gia-min có A-vi-đan, con Ghít-ô-ni.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Chi tộc Ðan có A-khi-e-de, con Am-mi-sát-đai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Chi tộc A-se có Pác-i-ên, con Oóc-ran.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Chi tộc Gát có En-gia-xáp, con Rơ-u-ên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Chi tộc Náp-ta-li có A-khi-ra, con Ê-nan.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðó là những người đại diện của cộng đồng, họ đều là những người phụ trách các chi tộc của họ, chỉ huy quân ngũ Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Mô-sê và ông A-ha-ron nhận những người vừa được chỉ định đích danh, <sup>18</sup> và triệu tập toàn thể cộng đồng vào ngày mồng một tháng hai. Người ta xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách những người đàn ông, từ hai mươi tuổi trở lên, từng người một. <sup>19</sup> Như Ðức Chúa đã truyền cho ông, ông Mô-sê kiểm tra họ trong sa mạc Xi-nai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc kiểm tra</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Con cháu Rưu-vên, trưởng nam của Ít-ra-en, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>21</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Rưu-vên, là 46,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Con cháu Si-mê-ôn, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>23</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Si-mê-ôn, là 59,300.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Con cháu Gát, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>25</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Gát, là 45,650.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Con cháu Giu-đa, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>27</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Giu-đa, là 74,600.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Con cháu Ít-xa-kha, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>29</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ít-xa-kha, là 54,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Con cháu Dơ-vu-lun, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>31</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, là 57,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Con cháu Giu-se: thuộc chi tộc Ép-ra-im, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>33</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ép-ra-im, là 40,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Còn chi tộc Mơ-na-se, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>35</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Mơ-na-se, là 32,200.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Con cháu Ben-gia-min, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>37</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ben-gia-min, là 35,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Con cháu Ðan, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>39</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Ðan, là 62,700.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Con cháu A-se, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>41</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc A-se, là 41,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Con cháu Náp-ta-li, sau khi xác định phổ hệ theo thị tộc và gia tộc, người ta lập danh sách từng người một, tất cả đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, mọi người trong tuổi nhập ngũ; <sup>43</sup> những người được kiểm tra thuộc chi tộc Náp-ta-li, là 53,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Ðó là những người đã được ông Mô-sê và ông A-ha-ron kiểm tra cùng với mười hai người phụ trách Ít-ra-en, mỗi người phụ trách gia tộc mình. <sup>45</sup> Tất cả con cái Ít-ra-en đã được kiểm tra theo gia tộc của họ, từ hai mươi tuổi trở lên, tất cả các chiến binh trong dân Ít-ra-en, <sup>46</sup> tổng số người được kiểm tra, là 603,550.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy chế các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Còn các thầy Lê-vi, vì quy chế chi tộc của mình, thì không được liệt kê vào số đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>49</sup> &#8220;Riêng chi tộc Lê-vi, ngươi sẽ không kiểm tra và không liệt kê chung với con cái Ít-ra-en. <sup>50</sup> Nhưng hãy đặt các thầy Lê-vi phụ trách Nhà Tạm Chứng Ước, cũng như mọi vật dụng và tất cả những gì liên quan tới Nhà Tạm đó. Chính họ sẽ lo việc di chuyển Nhà Tạm và mọi vật dụng, sẽ phục vụ và dựng lều chung quanh Nhà Tạm. <sup>51</sup> Khi dời Nhà Tạm, các thầy Lê-vi sẽ hạ Nhà Tạm xuống, và lúc Nhà Tạm dừng lại thì họ sẽ dựng Nhà Tạm lên. Còn ai khác mà tới gần sẽ phải chết. <sup>52</sup> Con cái Ít-ra-en sẽ dựng lều, mỗi người nơi doanh trại mình, theo cờ hiệu của từng đoàn quân. <sup>53</sup> Còn các thầy Lê-vi thì sẽ dựng lều chung quanh Nhà Tạm Chứng Ước. Như thế thịnh nộ (của Ta) sẽ không giáng xuống cộng đồng con cái Ít-ra-en. Các thầy Lê-vi sẽ phụ trách Nhà Tạm.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>54</sup> Con cái Ít-ra-en đã thi hành tất cả mọi điều y như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thứ tự các chi tộc</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: <sup>2</sup> &#8220;Con cái Ít-ra-en sẽ đóng trại, mỗi người theo cờ hiệu và huy hiệu của gia tộc mình. Chúng sẽ đóng trại ở vòng ngoài, hướng về Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ðóng ở phía đông, hướng mặt trời mọc, là cờ hiệu doanh trại Giu-đa theo đoàn quân của chúng. Ðứng đầu con cháu Giu-đa là Nác-sôn, con Am-mi-na-đáp. <sup>4</sup> Ðoàn quân của chúng, những người đã được kiểm tra, là 74,600.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðóng trại bên cạnh chúng là chi tộc Ít-xa-kha. Ðứng đầu con cháu Ít-xa-kha là Nơ-than-ên, con Xu-a. <sup>6</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 54,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Tiếp theo là chi tộc Dơ-vu-lun, đứng đầu là Ê-li-áp, con Khe-lôn. <sup>8</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 57,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Tổng số những người được kiểm tra thuộc doanh trại Giu-đa là 186,400. Những người này sẽ đi tuyến đầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Phía nam là cờ hiệu doanh trại Rưu-vên theo đoàn quân của chúng. Ðứng đầu là Ê-li-xua, con Sơ-đê-ua. <sup>11</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 46,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ðóng trại bên cạnh chúng là chi tộc Si-mê-ôn. Ðứng đầu con cháu Si-mê-ôn là Sơ-lu-mi-ên, con Xu-ri-sát-đai. <sup>13</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 59,300.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Kế đến là chi tộc Gát. Ðứng đầu con cháu Gát là En-gia-xáp, con Rơ-u-ên. <sup>15</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 45,650.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Tổng số những người được kiểm tra thuộc doanh trại Rưu-vên là 151,450 theo đoàn quân của chúng. Những người này sẽ đi tuyến hai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Tiếp đó Lều Hội Ngộ sẽ lên đường, cùng với doanh trại Lê-vi, đi giữa các doanh trại khác. Ðóng trại theo thứ tự nào thì lên đường cũng theo thứ tự ấy, mỗi người cứ giữ vị trí của mình, tuỳ theo cờ hiệu của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Cờ hiệu doanh trại Ép-ra-im theo đoàn quân của chúng sẽ nằm ở phía tây. Ðứng đầu con cháu Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con Am-mi-hút. <sup>19</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 40,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Bên cạnh chúng là chi tộc Mơ-na-se. Ðứng đầu con cháu Mơ-na-se là Gam-li-ên, con Pơ-đa-xua. <sup>21</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 32,200.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Rồi đến chi tộc Ben-gia-min. Ðứng đầu con cháu Ben-gia-min là A-vi-đan, con Ghít-ô-ni. <sup>23</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 35,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Tổng số những người được kiểm tra thuộc doanh trại Ép-ra-im, là 108,100, tính theo đoàn quân của chúng. Chúng sẽ đi tuyến ba.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Cờ hiệu doanh trại Ðan theo đoàn quân của chúng sẽ nằm ở phía bắc. Ðứng đầu con cháu Ðan là A-khi-e-de, con Am-mi-sát-đai. <sup>26</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 62,700.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ðóng trại bên cạnh chúng là chi tộc A-se. Ðứng đầu con cháu A-se là Pác-i-ên, con Oóc-ran. <sup>28</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 41,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Kế đến là chi tộc Náp-ta-li. Ðứng đầu con cháu Náp-ta-li là A-khi-ra, con Ê-nan. <sup>30</sup> Ðoàn quân của chúng, những người được kiểm tra, là 53,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Tổng số những người được kiểm tra thuộc doanh trại Ðan là 157,600. Chúng sẽ đi tuyến cuối cùng, theo cờ hiệu của mình.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ðó là con cái Ít-ra-en được kiểm tra theo gia tộc của họ. Tổng số những người được kiểm tra, thuộc các doanh trại, theo đoàn quân của họ, là 603,550. <sup>33</sup> Riêng các thầy Lê-vi, thì không phải kiểm tra cùng với con cái Ít-ra-en, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Con cái Ít-ra-en đã thi hành tất cả mọi điều y như Ðức Chúa truyền cho ông Mô-sê. Họ đóng trại theo cờ hiệu, và họ lên đường, mỗi người theo thị tộc và gia tộc của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chi tộc Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Các tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là dòng dõi ông A-ha-ron và ông Mô-sê vào thời Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trên núi Xi-nai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Tên các con ông A-ha-ron như sau: trưởng nam là Na-đáp, rồi đến A-vi-hu, E-la-da và I-tha-ma. <sup>3</sup> Ðó là tên các con ông A-ha-ron, những tư tế đã được xức dầu tấn phong để thi hành chức vụ tư tế. <sup>4</sup> Ông Na-đáp và ông A-vi-hu đã chết trước nhan Ðức Chúa, vì đã dâng lửa phàm tục trước Thánh Nhan, khi còn ở sa mạc Xi-nai; các ông không có con. Chỉ còn hai ông E-la-da và I-tha-ma thi hành chức vụ tư tế trước mặt ông A-ha-ron, thân phụ các ông.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Các thầy Lê-vi. Chức vụ của họ.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>6</sup> &#8220;Hãy gọi chi tộc Lê-vi lại và đặt chúng túc trực bên cạnh tư tế A-ha-ron để giúp nó. <sup>7</sup> Chúng phải đảm nhiệm công việc của nó, cũng như công việc của toàn thể cộng đồng trước Lều Hội Ngộ, để lo phục dịch Nhà Tạm. <sup>8</sup> Chúng sẽ trông coi tất cả các vật dụng trong Lều Hội Ngộ, đồng thời đảm nhiệm công việc của con cái Ít-ra-en, để lo phục dịch Nhà Tạm. <sup>9</sup> Ngươi hãy trao các thầy Lê-vi cho A-ha-ron và các con nó như những người được dâng hiến, những người được dâng hiến mà con cái Ít-ra-en nộp cho nó. <sup>10</sup> Ngươi hãy đặt A-ha-ron và các con nó đảm nhận chức vụ tư tế, còn ai khác mà tới gần sẽ phải chết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Tuyển chọn các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>12</sup> &#8220;Ðây, chính Ta đã chọn các thầy Lê-vi giữa con cái Ít-ra-en thay thế tất cả các trưởng nam, các con đầu lòng trong số con cái Ít-ra-en, cho nên các thầy Lê-vi thuộc về Ta. <sup>13</sup> Thật vậy, tất cả các con đầu lòng đều thuộc về Ta, từ ngày Ta đánh phạt tất cả các con đầu lòng trong đất Ai-cập; Ta đã thánh hiến cho Ta tất cả các con đầu lòng trong Ít-ra-en, của loài người cũng như của súc vật: chúng thuộc về Ta. Ta là Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Kiểm tra các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trong sa mạc Xi-nai rằng: <sup>15</sup> &#8220;Hãy kiểm tra con cái Lê-vi theo gia tộc và thị tộc, tất cả đàn ông con trai tuổi từ một tháng trở lên, hãy ghi số.&#8221; <sup>16</sup> Vậy, ông Mô-sê đã kiểm tra họ theo lệnh Ðức Chúa, như Người đã truyền cho ông. <sup>17</sup> Ðây là con cái Lê-vi nêu đích danh: Ghéc-sôn, Cơ-hát, Mơ-ra-ri. <sup>18</sup> Và đây là tên con cái Ghéc-sôn theo thị tộc: Líp-ni và Sim-y. <sup>19</sup> Con cái Cơ-hát theo thị tộc là Am-ram và Gít-ha, Khép-rôn và Út-di-ên. <sup>20</sup> Con cái Mơ-ra-ri theo thị tộc là Mác-li và Mu-si. Ðó là những thị tộc Lê-vi tính theo gia tộc họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Về phần Ghéc-sôn, có thị tộc Líp-ni và thị tộc Sim-y. Ðó là các thị tộc thuộc dòng họ Ghéc-sôn. <sup>22</sup> Những người được kiểm tra, tính tất cả con trai của họ, tuổi từ một tháng trở lên, là 7,500. <sup>23</sup> Các thị tộc thuộc dòng họ Ghéc-sôn đóng trại đàng sau Nhà Tạm, ở phía tây. <sup>24</sup> Ðứng đầu dòng họ Ghéc-sôn là En-gia-xáp, con La-ên. <sup>25</sup> Công việc của con cháu Ghéc-sôn ở cửa Lều Hội Ngộ là trông coi Nhà Tạm và Lều, cũng như bạt che và bức màn ở lối vào Lều Hội Ngộ, <sup>26</sup> cùng các tấm rèm che khuôn viên, bức màn ở lối vào khuôn viên bao quanh Nhà Tạm và bàn thờ, cũng như các dây thừng dùng vào việc phục dịch.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Về phần Cơ-hát, có thị tộc Am-ram, thị tộc Gít-ha, thị tộc Khép-rôn và thị tộc Út-di-ên. Ðó là các thị tộc thuộc dòng họ Cơ-hát. <sup>28</sup> Tổng cộng tất cả con trai tuổi từ một tháng trở lên, là 8,300. Họ trông coi thánh điện. <sup>29</sup> Các thị tộc thuộc dòng họ Cơ-hát đóng trại bên cạnh Nhà Tạm, ở phía nam. <sup>30</sup> Ðứng đầu dòng họ Cơ-hát là Ê-li-xa-phan, con của Út-di-ên. <sup>31</sup> Công việc của họ là trông coi Hòm Bia, bàn, trụ đèn, các bàn thờ, các đồ thờ dùng trong thánh điện, bức màn, cũng như tất cả các dịch vụ liên hệ. <sup>32</sup> Ðứng đầu các thủ lãnh của các thầy Lê-vi là ông E-la-da, con tư tế A-ha-ron. Ông giám sát các nhân viên phụ trách công việc trong nơi thánh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Về phần Mơ-ra-ri, có thị tộc Mác-li và thị tộc Mu-si. Ðó là các thị tộc thuộc dòng họ Mơ-ra-ri. <sup>34</sup> Những người được kiểm tra, tính tất cả các con trai của họ, tuổi từ một tháng trở lên, là 6,200. <sup>35</sup> Ðứng đầu dòng họ Mơ-ra-ri là Xu-ri-ên, con A-vi-kha-gin. Họ đóng trại bên cạnh Nhà Tạm, ở phía bắc. <sup>36</sup> Công việc của con cháu Mơ-ra-ri là trông coi các tấm ván của Nhà Tạm, các thanh ngang, các cột, đế, cũng như các đồ phụ thuộc và các dịch vụ liên hệ, <sup>37</sup> cũng như các cột chung quanh khuôn viên cùng với các đế, cọc và dây thừng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Các người đóng trại trước Nhà Tạm ở phía đông, nghĩa là trước Lều Hội Ngộ, hướng mặt trời mọc, là ông Mô-sê, ông A-ha-ron và các con ông này, là những người có trách nhiệm trông coi thánh điện thay cho con cái Ít-ra-en; còn ai khác mà tới gần sẽ phải chết. <sup>39</sup> Tổng số những người được kiểm tra thuộc dòng họ Lê-vi, những người ông Mô-sê và ông A-ha-ron đã theo lệnh Ðức Chúa mà kiểm tra theo các thị tộc của họ, tất cả các con trai tuổi từ một tháng trở lên, là 22,000.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>E. Các người thuộc chi tộc Lê-vi. Chuộc các con đầu lòng.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy kiểm tra tất cả các trưởng nam của con cái Ít-ra-en, tuổi từ một tháng trở lên, và lập danh sách chúng. <sup>41</sup> Ta là Ðức Chúa. Hãy dành các người Lê-vi cho Ta thay cho tất cả các trưởng nam trong số con cái Ít-ra-en, và hãy dành súc vật của các người Lê-vi thay cho tất cả các con vật đầu lòng trong đàn vật của con cái Ít-ra-en.&#8221; <sup>42</sup> Theo như Ðức Chúa đã truyền, ông Mô-sê kiểm tra tất cả các con đầu lòng trong số con cái Ít-ra-en. <sup>43</sup> Tổng số các trưởng nam được ghi tên để kiểm tra, tuổi từ một tháng trở lên, là 22,273.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>45</sup> &#8220;Hãy lấy các người Lê-vi thay cho các trưởng nam của con cái Ít-ra-en, và súc vật của các người Lê-vi thay thế các súc vật của chúng: các người Lê-vi sẽ thuộc về Ta. Ta là Ðức Chúa. <sup>46</sup> Ðể làm giá chuộc 273 trưởng nam của con cái Ít-ra-en dôi hơn số người Lê-vi, <sup>47</sup> ngươi sẽ lấy mỗi đầu người là mười lăm chỉ bạc, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. <sup>48</sup> Ngươi sẽ đưa số bạc này cho A-ha-ron và con cái ông làm tiền chuộc số người dôi ra kể trên.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Ông Mô-sê đã nhận món tiền chuộc số người dôi ra mà các người Lê-vi không chuộc thay. <sup>50</sup> Số bạc thu được của các trưởng nam trong số con cái Ít-ra-en là mười bốn ký, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. <sup>51</sup> Ông Mô-sê đã trao số tiền chuộc cho ông A-ha-ron và con cái ông này theo lệnh Ðức Chúa, như Người đã truyền.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thị tộc Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Thị tộc Cơ-hát</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: <sup>2</sup> &#8220;Ngươi hãy lập danh sách con cháu Cơ-hát trong dòng họ Lê-vi theo thị tộc và gia tộc chúng, <sup>3</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những ai đến tuổi nhập ngũ, để chúng phục vụ trong Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Dịch vụ của con cháu Cơ-hát trong Lều Hội Ngộ là phụ trách các đồ thờ cực thánh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi nhổ trại, A-ha-ron sẽ cùng với các con vào Lều, cuốn bức trướng mà phủ lên Hòm Bia Chứng Ước. <sup>6</sup> Chúng sẽ trải lên đó tấm bạt bằng da cá heo, và trên tấm bạt này sẽ phủ tấm vải toàn màu đỏ tía, rồi lắp các đòn khiêng vào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Trên bàn dâng tiến, chúng sẽ trải một tấm vải đỏ tía, rồi đặt lên đó các khay, ly, chén và bình dùng trong lễ tưới rượu. Bánh thường tiến cũng phải có trên đó. <sup>8</sup> Chúng sẽ phủ lên một tấm vải đỏ thẫm và trải thêm tấm bạt da cá heo, rồi lắp các đòn khiêng vào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Chúng sẽ lấy tấm vải đỏ tía mà phủ trụ đèn và đèn, kéo cắt bấc đèn, các đĩa đựng tàn, tất cả các bình đựng dầu đèn. <sup>10</sup> Chúng sẽ để chân đèn cùng tất cả các đồ phụ tùng vào một cái bao da cá heo và đặt lên cáng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Trên bàn thờ bằng vàng, chúng sẽ trải tấm vải đỏ tía và phủ thêm một tấm bạt da cá heo, rồi lắp các đòn khiêng vào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Chúng sẽ lấy các đồ dùng vào việc thờ phượng nơi thánh điện, đem bọc trong tấm vải đỏ tía, phủ thêm một tấm bạt da cá heo, rồi đặt lên cáng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Sau khi đã lấy tro khỏi bàn thờ và trải lên tấm vải điều, <sup>14</sup> chúng sẽ đặt trên đó tất cả đồ dùng vào việc thờ phượng: bình hương, xiên, xẻng, bình rảy, tất cả đồ phụ tùng của bàn thờ, phủ lên đó một tấm bạt bằng da cá heo, và lắp các đòn khiêng vào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Khi A-ha-ron và các con đã hoàn thành việc che phủ thánh điện cùng tất cả các đồ phụ tùng, lúc nhổ trại, thì các con của Cơ-hát sẽ đến khiêng đi; nhưng chúng sẽ không được đụng tới các vật thánh, kẻo phải chết. Ðó là những gì con cái Cơ-hát phải khiêng trong Lều Hội Ngộ. <sup>16</sup> Phận sự của E-la-da, con tư tế A-ha-ron, là lo dầu đèn, hương thơm, lễ phẩm thường tiến, dầu tấn phong; nó phải trông coi toàn bộ Nhà Tạm cùng mọi vật trong đó: các vật thánh và các đồ phụ tùng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: <sup>18</sup> &#8220;Các ngươi đừng để cho dòng họ các thị tộc Cơ-hát bị xoá bỏ khỏi chi tộc Lê-vi. <sup>19</sup> Ðể chúng được sống chứ không phải chết khi tới gần các vật cực thánh, các ngươi sẽ xử với chúng như thế này: A-ha-ron và các con sẽ đến và đặt mỗi người trước cái gì phải làm, trước cái gì phải khiêng vác. <sup>20</sup> Như vậy chúng sẽ không vào mà nhìn các đồ thánh, dù một giây lát, để rồi phải chết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Thị tộc Ghéc-sôn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>22</sup> &#8220;Ngươi cũng hãy lập danh sách con cháu Ghéc-sôn nữa theo gia tộc và thị tộc của chúng; <sup>23</sup> những người tuổi từ ba mươi đến năm mươi, ngươi sẽ kiểm tra hết, nghĩa là tất cả những ai đến tuổi nhập ngũ, để chúng phục vụ trong Lều Hội Ngộ. <sup>24</sup> Ðây là dịch vụ mà các thị tộc Ghéc-sôn phải chu toàn: <sup>25</sup> chúng sẽ mang các tấm thảm của Nhà Tạm và Lều Hội Ngộ, bạt che Lều, tức tấm bạt bằng da cá heo phủ trên Lều, màn che cửa Lều Hội Ngộ, <sup>26</sup> các tấm rèm của khuôn viên, màn che cửa khuôn viên nằm quanh Nhà Tạm và bàn thờ, các dây buộc, các đồ dùng cần thiết cho dịch vụ của chúng, tóm lại tất cả những gì liên quan tới dịch vụ ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Con cái Ghéc-sôn phải thi hành mọi dịch vụ khiêng vác cũng như phục dịch, dưới quyền điều khiển của A-ha-ron và các con; các ngươi hãy giao cho chúng trông coi tất cả những gì chúng phải khiêng vác. <sup>28</sup> Ðó là dịch vụ dành cho các thị tộc con cái Ghéc-sôn trong Lều Hội Ngộ, và chúng làm việc dưới quyền kiểm soát của I-tha-ma, con tư tế A-ha-ron.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Thị tộc Mơ-ra-ri</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ngươi hãy kiểm tra con cháu Mơ-ra-ri theo thị tộc và gia tộc của chúng, <sup>30</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những ai đến tuổi nhập ngũ, để chúng phục vụ trong Lều Hội Ngộ. <sup>31</sup> Ðây là những đồ vật chúng có trách nhiệm phải khiêng vác liên quan đến dịch vụ của chúng trong Lều Hội Ngộ: khung Nhà Tạm, cột, kèo và đế, <sup>32</sup> các cột chung quanh khuôn viên cùng các đế, cọc đóng, dây thừng và tất cả đồ phụ tùng liên quan đến dịch vụ của chúng. Vậy các ngươi hãy kê khai từng thứ một tất cả các đồ vật chúng có trách nhiệm phải khiêng vác.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Ðó là các dịch vụ dành cho các thị tộc con cái Mơ-ra-ri, dịch vụ mà chúng phải thi hành trong Lều Hội Ngộ, dưới quyền kiểm soát của I-tha-ma, con tư tế A-ha-ron.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kiểm tra chi tộc Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ông Mô-sê cùng với ông A-ha-ron và các vị lãnh đạo cộng đồng đã kiểm tra con cháu Cơ-hát theo thị tộc và gia tộc họ, <sup>35</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những người đến tuổi nhập ngũ, để họ phục dịch trong Lều Hội Ngộ. <sup>36</sup> Tổng số người được kiểm tra, tính theo thị tộc, là 2,750. <sup>37</sup> Ðó là số những người trong thị tộc Cơ-hát được kiểm tra, tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Ngộ, mà ông Mô-sê và ông A-ha-ron đã kiểm tra theo lệnh Ðức Chúa đã truyền qua ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Số con cháu Ghéc-sôn được kiểm tra theo thị tộc và gia đình tổ tiên họ, <sup>39</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những người đến tuổi nhập ngũ, để phục vụ trong Lều Hội Ngộ, <sup>40</sup> tổng số những người được kiểm tra, theo thị tộc và gia tộc họ, là 2,630. <sup>41</sup> Ðó là số con cháu Ghéc-sôn được kiểm tra theo thị tộc, tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Ngộ: ông Mô-sê cùng với ông A-ha-ron kiểm tra họ theo lệnh Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Các con cháu Mơ-ra-ri được kiểm tra theo thị tộc và gia tộc, <sup>43</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những ai đến tuổi nhập ngũ, để phục vụ trong Lều Hội Ngộ, <sup>44</sup> tổng số những người được kiểm tra, tính theo thị tộc của họ, là 3,200. <sup>45</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Mơ-ra-ri, mà ông Mô-sê đã cùng với ông A-ha-ron kiểm tra theo lệnh Ðức Chúa đã truyền qua ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Tổng số những người Lê-vi mà ông Mô-sê cùng với ông A-ha-ron và các vị lãnh đạo Ít-ra-en đã kiểm tra theo thị tộc và gia tộc của họ, <sup>47</sup> tuổi từ ba mươi đến năm mươi, nghĩa là tất cả những người đến tuổi phục dịch và khiêng vác trong Lều Hội Ngộ, <sup>48</sup> tổng số những người được kiểm tra là 8,580. <sup>49</sup> Theo lệnh Ðức Chúa truyền qua ông Mô-sê, người ta kiểm tra họ, chỉ định cho mỗi người việc phải làm và đồ vật phải khiêng vác. Thế là họ được kiểm tra như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Loại trừ những người nhiễm uế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Hãy truyền cho con cái Ít-ra-en phải đuổi ra khỏi trại mọi người phong hủi, mọi kẻ mắc bệnh lậu, mọi người nhiễm uế vì xác chết: <sup>3</sup> Các ngươi phải đuổi chúng, bất kể đàn ông hay đàn bà, các ngươi phải đuổi ra khỏi trại, kẻo chúng làm ô uế trại, nơi Ta cư ngụ ở giữa chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Con cái Ít-ra-en đã làm như thế: họ đã đuổi những người ấy ra khỏi trại. Con cái Ít-ra-en đã làm như Ðức Chúa đã phán với ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật bồi hoàn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>6</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Phàm ai, đàn ông hay đàn bà, vì bất trung với Ðức Chúa, mà phạm một trong những tội người ta quen phạm, thì con người ấy phải chịu phạt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nó phải xưng thú tội mình đã phạm và đền bù đầy đủ, ngoài ra còn phải trả thêm một phần năm nữa cho người mình đã làm thiệt hại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu người này không có bà con gần để lãnh của bồi thường thiệt hại, thì vật bồi thường sẽ thuộc về Ðức Chúa, tức là thuộc về tư tế, chưa kể con dê xá tội phải dâng để làm nghi thức xá tội cho người mắc lỗi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Mọi của trích dâng và mọi hiến vật mà con cái Ít-ra-en dâng cho tư tế đều thuộc về tư tế. <sup>10</sup> Hiến vật của ai thì thuộc về người ấy; còn nếu đã dâng cho tư tế thì là của tư tế.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật về chuyện ghen tuông</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>12</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Nếu ai bị vợ mất nết phản bội, <sup>13</sup> nghĩa là có người nằm với người đàn bà ấy mà người chồng không biết; và người vợ đã bí mật thất tiết mà không có ai làm chứng cáo tội, không bắt được quả tang; <sup>14</sup> hoặc người chồng nổi máu ghen và ghen tức vợ đã thực sự thất tiết, hoặc nổi máu ghen và ghen tức vợ mà thật ra vợ đã không thất tiết, <sup>15</sup> thì bấy giờ người chồng phải dẫn vợ đến gặp tư tế, mà tiến dâng bốn lít rưỡi bột lúa mạch vì chuyện vợ mình; nhưng không rưới dầu lên trên và cũng không đổ hương vào, bởi đó là lễ phẩm dâng vì ghen tuông, lễ phẩm để tố cáo tội lỗi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Tư tế sẽ đưa người đàn bà đến đứng trước nhan Ðức Chúa, <sup>17</sup> và lấy một bình sành đựng nước thánh, rồi lấy chút bụi trên nền Nhà Tạm bỏ vào nước. <sup>18</sup> Sau đó, tư tế đặt người đàn bà đứng trước nhan Ðức Chúa và lột khăn trùm đầu nó ra, rồi đặt lên hai bàn tay nó lễ phẩm tố cáo, nghĩa là lễ phẩm vì ghen tuông; đồng thời tay tư tế cầm bình nước chỉ sự đắng cay và nguyền rủa. <sup>19</sup> Bấy giờ tư tế sẽ buộc người đàn bà thề và nói với nó rằng: &#8220;Nếu đã không có người đàn ông nào nằm với chị và nếu chị đã không mất nết mà thất tiết khi chị đang có chồng, thì nước đắng cay và nguyền rủa này sẽ vô hại cho chị. <sup>20</sup> Còn nếu chị có chồng mà mất nết và đã thất tiết với chồng, vì một người đàn ông khác, không phải là chồng chị, đã cho chị nằm với nó &#8211; <sup>21</sup> tư tế buộc người đàn bà thề độc và nói với nó &#8211; Xin Ðức Chúa làm cho dạ chị héo đi, bụng chị sình lên, khiến giữa đồng bào chị, chị thành đề tài cho người ta nguyền rủa và chúc dữ cho nhau. <sup>22</sup> Xin cho nước đắng cay này ngấm vào nội tạng chị, khiến bụng chị sình lên và dạ chị héo đi. Người đàn bà ấy sẽ thưa: &#8220;A-men. A-men.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Tư tế viết những lời nguyền rủa ấy vào giấy và cho nhoà đi trong nước đắng cay, <sup>24</sup> rồi bắt người đàn bà phải uống nước đắng cay và nguyền rủa đó; nước nguyền rủa sẽ ngấm vào người ấy để gây ra cay đắng. <sup>25</sup> Tư tế sẽ nhận lấy từ tay người đàn bà lễ phẩm vì ghen tuông, làm nghi thức trước nhan Ðức Chúa và đặt trên bàn thờ. <sup>26</sup> Tư tế sẽ bốc một nắm từ lễ phẩm đó, làm phần truy tưởng, mà đốt trên bàn thờ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Tư tế cho nó uống nước rồi, nếu thật nó đã thất tiết và phản bội chồng, thì nước nguyền rủa sẽ ngấm vào nó để gây ra cay đắng, và tạng phủ nó sẽ sình lên, dạ nó héo đi. Giữa đồng bào, người đàn bà đó sẽ thành đề tài nguyền rủa. <sup>28</sup> Nếu người đàn bà đó đã không thất tiết, nhưng vẫn trong sạch, thì sẽ không bị hại và sẽ sinh con.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ðó là luật về chuyện ghen tuông, khi một người đàn bà có chồng mà mất nết và đã thất tiết với chồng, <sup>30</sup> hoặc khi người đàn ông nổi máu ghen và ghen tức vợ mình: thì người chồng phải đặt vợ trước nhan Ðức Chúa, và tư tế phải áp dụng đầy đủ luật này. <sup>31</sup> Người chồng sẽ vô can, còn người đàn bà sẽ mang lấy tội mình.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật về lời khấn na-dia</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> thì nó phải kiêng rượu và men nồng: không được uống giấm chua từ chất rượu cũng như giấm chua từ chất men, không được uống mọi thứ nước nho, không được ăn nho tươi cũng như nho khô. <sup>4</sup> Suốt thời gian nó bị ràng buộc bởi lời khấn đó, thì bất cứ thứ gì chiết xuất tự cây nho, từ hột nho cho đến vỏ nho, nó cũng không được ăn. <sup>5</sup> Suốt thời gian nó bị ràng buộc bởi lời khấn, dao cạo không được đụng đến đầu nó; bao lâu chưa mãn thời kỳ khấn đặc biệt để kính Ðức Chúa, thì nó sẽ là người được thánh hiến: nó phải để cho tóc trên đầu mọc tự nhiên. <sup>6</sup> Suốt thời kỳ khấn đặc biệt để kính Ðức Chúa, nó không được tới gần xác chết. <sup>7</sup> Dù là cha mẹ hay anh chị em nó chết, nó cũng không được để cho mình nhiễm uế, bởi vì nó mang trên đầu lời khấn na-dia kính Thiên Chúa. <sup>8</sup> Suốt thời kỳ khấn đặc biệt, nó sẽ là người được thánh hiến cho Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nếu có ai chết bất ngờ bên cạnh nó, khiến cho đầu na-dia của nó bị nhiễm uế, thì nó phải cạo đầu trong ngày tẩy uế; ngày thứ bảy nó sẽ cạo đầu. <sup>10</sup> Ngày thứ tám nó sẽ mang một cặp chim gáy hay một cặp bồ câu trao cho tư tế ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>11</sup> Tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu, và sẽ làm nghi thức xá tội ô uế nó mắc phải vì người chết. Chính hôm đó nó sẽ thánh hiến đầu mình, <sup>12</sup> nó sẽ lại khấn đặc biệt kiêng giữ để kính Ðức Chúa và đưa một con chiên một tuổi tới làm lễ vật đền tội. Thời gian trước đó không được kể vì lời khấn na-dia đã bị vi phạm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Và đây là luật về người khấn na-dia: trong ngày mãn thời kỳ khấn na-dia, nó sẽ vào cửa Lều Hội Ngộ <sup>14</sup> và đem lễ tiến dâng Ðức Chúa: một chiên đực một tuổi, toàn vẹn, làm lễ toàn thiêu, một chiên cái một tuổi, toàn vẹn, làm lễ tạ tội, một con dê đực toàn vẹn làm lễ kỳ an, <sup>15</sup> một rổ bánh không men làm bằng tinh bột nhào dầu, bánh tráng không men tẩm dầu, cùng với các lễ phẩm ngũ cốc và rượu tế kèm theo. <sup>16</sup> Tư tế sẽ đưa những lễ vật ấy tới trước nhan Ðức Chúa để dâng lễ tạ tội và lễ toàn thiêu của nó. <sup>17</sup> Con chiên đực, ông sẽ sát tế để làm lễ kỳ an kính Ðức Chúa cùng với rổ bánh không men, đồng thời tư tế cũng dâng lễ phẩm ngũ cốc và rượu tế. <sup>18</sup> Người na-dia sẽ cạo đầu trước cửa Lều Hội Ngộ theo lời khấn, và lấy tóc đã được thánh hiến của mình mà bỏ vào lửa đang cháy dưới của lễ kỳ an. <sup>19</sup> Khi bả vai của con dê đã chín, thì tư tế lấy bả vai đó, cùng với một chiếc bánh không men trong rổ và một bánh tráng không men, và đặt các thứ đó vào tay người na-dia, sau khi người này đã cạo đầu theo lời khấn. <sup>20</sup> Rồi tư tế tiến dâng các thứ ấy trước nhan Ðức Chúa, theo nghi thức: đó là của thánh dành cho tư tế, không kể cái ức đã được tiến dâng theo nghi thức và phần đùi được giữ lại. Từ đó, người na-dia được phép uống rượu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðó là luật về người khấn na-dia. Lễ tiến của nó dâng cho Ðức Chúa phải theo đúng lời khấn na-dia, ngoài ra nó có thể tuỳ khả năng mình mà dâng thêm. Nó đã khấn theo luật na-dia thế nào, thì phải giữ như vậy.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Công thức chúc lành</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>23</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> &#8220;Nguyện Ðức Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Nguyện Ðức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Nguyện Ðức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Tế Phẩm Của Những Người Ðứng Ðầu Các Chi Tộc</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Và Nghi Thức Tấn Phong Các Thầy Lê-Vi</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dâng các cỗ xe</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ngày ông Mô-sê hoàn thành việc dựng Nhà Tạm, ông xức dầu và thánh hiến nhà ấy cùng với tất cả các vật dụng, bàn thờ và mọi đồ dùng. Khi ông đã xức dầu và thánh hiến tất cả, <sup>2</sup> thì các người đứng đầu Ít-ra-en đã dâng lễ vật; họ là các gia trưởng, những người đứng đầu các chi tộc và phụ trách việc kiểm tra. <sup>3</sup> Lễ tiến họ dâng trước nhan Ðức Chúa là sáu cỗ xe kiệu và mười hai con bò, cứ hai người dâng một cỗ xe và mỗi người một con bò. Họ đem dâng những thứ đó trước Nhà Tạm. <sup>4</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>5</sup> &#8220;Ngươi hãy nhận các vật chúng dâng để sung vào việc phục dịch Lều Hội Ngộ; ngươi sẽ trao các thứ ấy cho các thầy Lê-vi, theo dịch vụ của mỗi người.&#8221; <sup>6</sup> Vậy ông Mô-sê đã nhận xe và bò, rồi trao cho các thầy Lê-vi: <sup>7</sup> hai cỗ xe và bốn con bò cho các con ông Ghéc-sôn theo dịch vụ của họ; <sup>8</sup> còn bốn cỗ xe và tám con bò kia, thì trao cho các con ông Mơ-ra-ri, theo dịch vụ của họ dưới quyền kiểm soát của ông I-tha-ma, con tư tế A-ha-ron. <sup>9</sup> Phần các con ông Cơ-hát, thì ông Mô-sê không cho gì cả, vì dịch vụ của họ là khiêng các đồ thờ trên vai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ vật trong nghi thức cung hiến</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Các người đứng đầu còn tiến dâng lễ vật để cử hành nghi thức cung hiến bàn thờ, trong ngày bàn thờ được xức dầu. Các người đứng đầu tiến dâng lễ vật của họ lên trước bàn thờ. <sup>11</sup> Và Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Mỗi ngày, một trong số những người đứng đầu phải dâng lễ tiến để cử hành nghi thức cung hiến bàn thờ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Người tiến dâng lễ vật ngày đầu tiên là ông Nác-sôn, con ông Am-mi-na-đáp, thuộc chi tộc Giu-đa. <sup>13</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>14</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>15</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>16</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>17</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Nác-sôn, con ông Am-mi-na-đáp, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngày thứ hai, người đem dâng lễ vật là ông Nơ-than-ên, con ông Xu-a, đứng đầu Ít-xa-kha. <sup>19</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>20</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>21</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>22</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>23</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Nơ-than-ên, con ông Xu-a, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ngày thứ ba, người đem dâng lễ vật là ông Ê-li-áp, con ông Khe-lôn, đứng đầu con cái Dơ-vu-lun. <sup>25</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng, &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>26</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>27</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>28</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>29</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến ông Ê-li-áp, con ông Khe-lôn, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ngày thứ bốn, người đem dâng lễ vật là ông Ê-li-xua, con ông Sơ-đê-ua, đứng đầu con cái Rưu-vên. <sup>31</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>32</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>33</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>34</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>35</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Ê-li-xua, con ông Sơ-đê-ua, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Ngày thứ năm, người đem dâng lễ vật là ông Sơ-lu-mi-ên, con ông Xu-ri-sát-đai, đứng đầu con cái Si-mê-ôn. <sup>37</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>38</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>39</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>40</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>41</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Sơ-lu-mi-en, con ông Xu-ri-sát-đai, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Ngày thứ sáu, người đem dâng lễ vật là ông En-gia-xáp, con ông Rơ-u-ên, đứng đầu con cái Gát. <sup>43</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>44</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>45</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>46</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>47</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông En-gia-xáp, con ông Rơ-u-ên, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Ngày thứ bảy, người đem dâng lễ vật là ông Ê-li-sa-ma, con ông Am-mi-hút, đứng đầu con cái Ép-ra-im. <sup>49</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>50</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>51</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>52</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>53</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Ê-li-sa-ma, con ông Am-mi-hút, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>54</sup> Ngày thứ tám, người đem dâng lễ vật là ông Gam-li-ên, con ông Pơ-đa-xua, đứng đầu con cái Mơ-na-se. <sup>55</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>56</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>57</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>58</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>59</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Gam-li-ên, con ông Pơ-đa-xua, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>60</sup> Ngày thứ chín, người đem dâng lễ vật là ông A-vi-đan, con ông Ghít-ô-ni, đứng đầu con cái Ben-gia-min. <sup>61</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>62</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>63</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>64</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>65</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông A-vi-đan, con ông Ghít-ô-ni, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>66</sup> Ngày thứ mười, người đem dâng lễ vật là ông A-khi-e-de, con ông Am-mi-sát-đai, đứng đầu con cái Ðan. <sup>67</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng -tính theo đơn vị đo lường của thánh điện-, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>68</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>69</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>70</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>71</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông A-khi-e-de, con ông Am-mi-sát-đai, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>72</sup> Ngày thứ mười một, người đem dâng lễ vật là ông Pác-i-ên, con ông Oóc-ran, đứng đầu con cái A-se. <sup>73</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>74</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>75</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>76</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>77</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông Pác-i-ên, con ông Oóc-ran, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>78</sup> Ngày thứ mười hai, người đem dâng lễ vật là ông A-khi-ra, con ông Ê-nan, đứng đầu con cái Náp-ta-li. <sup>79</sup> Lễ tiến ông dâng là một khay bằng bạc cân nặng một ký ba, một bình rảy bằng bạc nặng bảy lạng &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện -, cả hai đựng đầy tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, <sup>80</sup> một chén bằng vàng ba lượng đầy hương thơm, <sup>81</sup> một con bò mộng, một con chiên đực và một con chiên con một tuổi làm lễ vật toàn thiêu, <sup>82</sup> một con dê đực làm lễ tạ tội; <sup>83</sup> và để làm lễ kỳ an thì dâng hai con bò, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi. Ðó là lễ tiến mà ông A-khi-ra, con ông Ê-nan, đã dâng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>84</sup> Trên đây là những lễ vật các người đứng đầu Ít-ra-en dâng cúng để cử hành nghi thức cung hiến bàn thờ trong ngày bàn thờ được xức dầu: mười hai khay bằng bạc, mười hai bình rảy bằng bạc, mười hai chén bằng vàng. <sup>85</sup> Mỗi khay nặng một ký ba, và mỗi bình rảy là bảy lạng. Tất cả các vật dụng bằng bạc ấy cân nặng hai mươi bốn ký tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. <sup>86</sup> Mười hai chén bằng vàng đựng đầy hương thơm, mỗi chén ba lượng vàng, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. Tất cả các chén bằng vàng ấy cân nặng một ký hai.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>87</sup> Tổng số súc vật làm lễ toàn thiêu là: mười hai bò mộng, mười hai chiên đực, mười hai chiên con một tuổi cùng với lễ phẩm bằng ngũ cốc kèm theo, mười hai con dê đực làm lễ tạ tội. <sup>88</sup> Và tổng số súc vật làm lễ kỳ an là: hai mươi bốn bò mộng, sáu mươi chiên đực, sáu mươi dê đực, sáu mươi chiên con một tuổi. Ðó là những lễ vật dùng trong nghi thức cung hiến bàn thờ sau khi xức dầu bàn thờ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>89</sup> Khi ông Mô-sê vào Lều Hội Ngộ để đàm đạo với Ðức Chúa, thì ông nghe có tiếng nói với ông từ phía trên nắp xá tội, tức là nắp đậy Hòm Bia Chứng Ước, từ giữa hai thần hộ giá. Và ông đã đàm đạo với Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ngọn đèn trên trụ đèn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron và bảo nó: khi thắp đèn lên thì bảy ngọn đèn phải toả sáng về phía trước trụ đèn.&#8221; <sup>3</sup> Ông A-ha-ron đã làm như thế, ông đã thắp đèn hướng về phía trước trụ đèn, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. <sup>4</sup> Trụ đèn được làm như sau: làm bằng vàng gò, từ thân trụ cho tới các nhánh đều được gò. Ông Mô-sê đã làm trụ đèn theo mẫu Ðức Chúa đã cho ông thấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thầy Lê-vi được dâng cho Ðức Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>6</sup> &#8220;Hãy đưa các thầy Lê-vi ra khỏi đám con cái Ít-ra-en mà thanh tẩy chúng. <sup>7</sup> Ngươi sẽ làm thế này để thanh tẩy chúng: Hãy rảy nước xá tội trên chúng; chúng sẽ cạo toàn thân, giặt sạch áo mà thanh tẩy mình. <sup>8</sup> Chúng sẽ lấy một con bò mộng và tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, còn ngươi thì sẽ lấy một con bò mộng nữa làm của lễ tạ tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Rồi ngươi sẽ đưa các thầy Lê-vi tới trước Lều Hội Ngộ và tập họp toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en lại. <sup>10</sup> Ngươi sẽ dẫn các thầy Lê-vi tới trước nhan Ðức Chúa, và con cái Ít-ra-en sẽ đặt tay trên chúng. <sup>11</sup> A-ha-ron sẽ thay mặt con cái Ít-ra-en làm nghi thức tiến dâng các thầy Lê-vi lên trước nhan Ðức Chúa, và chúng sẽ sung vào việc phục vụ Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Sau đó các thầy Lê-vi sẽ đặt tay lên đầu các con bò mộng. Ngươi sẽ dâng một con làm của lễ tạ tội, và một con làm của lễ toàn thiêu dâng Ðức Chúa để xin ơn xá tội cho các thầy Lê-vi. <sup>13</sup> Ngươi sẽ đặt các thầy Lê-vi đứng trước mặt A-ha-ron và các con ông, rồi tiến dâng chúng cho Ðức Chúa, theo nghi thức. <sup>14</sup> Như thế, ngươi sẽ tách rời các thầy Lê-vi ra khỏi con cái Ít-ra-en: chúng sẽ thuộc về Ta. <sup>15</sup> Sau đó các thầy Lê-vi sẽ vào phục vụ Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Thật vậy, chúng được dâng hiến, được dâng hiến cho Ta, từ giữa con cái Ít-ra-en. Ta đã chọn chúng làm của riêng Ta, thay thế tất cả các con đầu lòng, các trưởng nam của con cái Ít-ra-en. <sup>17</sup> Thật vậy, tất cả các con đầu lòng trong số con cái Ít-ra-en, của loài người cũng như của súc vật đều thuộc về Ta. Ngày Ta đánh phạt tất cả các con đầu lòng trong đất Ai-cập, Ta đã thánh hiến chúng cho Ta, <sup>18</sup> và Ta đã nhận các thầy Lê-vi thay thế tất cả các con đầu lòng trong con cái Ít-ra-en. <sup>19</sup> Trong số con cái Ít-ra-en, Ta đã trao các thầy Lê-vi cho A-ha-ron và cho con cái nó, như những người được dâng hiến để sung vào việc phục dịch của con cái Ít-ra-en trong Lều Hội Ngộ, và để cử hành lễ xá tội cho con cái Ít-ra-en; như thế trong con cái Ít-ra-en sẽ không xảy ra tai hoạ phạt kẻ tới gần nơi thánh.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðối với các thầy Lê-vi, ông Mô-sê và ông A-ha-ron cùng toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en đã thi hành đúng mọi điều Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê về họ; con cái Ít-ra-en đã thi hành như thế đối với họ. <sup>21</sup> Các thầy Lê-vi đã thanh tẩy mình và giặt áo; ông A-ha-ron đã cử hành nghi thức trên dâng họ trước nhan Ðức Chúa, và đã làm lễ xá tội cho họ để thanh tẩy họ. <sup>22</sup> Sau đó các thầy Lê-vi đã vào làm việc phục dịch trong Lều Hội Ngộ, trước mặt ông A-ha-ron và các con. Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê thế nào về các thầy Lê-vi, thì người ta đã thi hành như thế đối với họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời gian phục vụ của các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>24</sup> &#8220;Ðây là những điều liên quan tới các thầy Lê-vi. Từ hai mươi lăm tuổi trở lên, mỗi người phải vào thi hành nghĩa vụ phục dịch Lều Hội Ngộ, <sup>25</sup> và từ năm mươi tuổi thì được về hưu, không phải phục dịch nữa. <sup>26</sup> Người ấy sẽ giúp anh em chu toàn nhiệm vụ trong Lều Hội Ngộ, còn nhiệm vụ của mình thì không phải thi hành nữa. Ngươi sẽ bố trí công việc cho các thầy Lê-vi như thế.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các ngọn đèn trên trụ đèn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron và bảo nó: khi thắp đèn lên thì bảy ngọn đèn phải toả sáng về phía trước trụ đèn.&#8221; <sup>3</sup> Ông A-ha-ron đã làm như thế, ông đã thắp đèn hướng về phía trước trụ đèn, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. <sup>4</sup> Trụ đèn được làm như sau: làm bằng vàng gò, từ thân trụ cho tới các nhánh đều được gò. Ông Mô-sê đã làm trụ đèn theo mẫu Ðức Chúa đã cho ông thấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thầy Lê-vi được dâng cho Ðức Chúa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>6</sup> &#8220;Hãy đưa các thầy Lê-vi ra khỏi đám con cái Ít-ra-en mà thanh tẩy chúng. <sup>7</sup> Ngươi sẽ làm thế này để thanh tẩy chúng: Hãy rảy nước xá tội trên chúng; chúng sẽ cạo toàn thân, giặt sạch áo mà thanh tẩy mình. <sup>8</sup> Chúng sẽ lấy một con bò mộng và tinh bột nhào dầu làm lễ phẩm, còn ngươi thì sẽ lấy một con bò mộng nữa làm của lễ tạ tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Rồi ngươi sẽ đưa các thầy Lê-vi tới trước Lều Hội Ngộ và tập họp toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en lại. <sup>10</sup> Ngươi sẽ dẫn các thầy Lê-vi tới trước nhan Ðức Chúa, và con cái Ít-ra-en sẽ đặt tay trên chúng. <sup>11</sup> A-ha-ron sẽ thay mặt con cái Ít-ra-en làm nghi thức tiến dâng các thầy Lê-vi lên trước nhan Ðức Chúa, và chúng sẽ sung vào việc phục vụ Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Sau đó các thầy Lê-vi sẽ đặt tay lên đầu các con bò mộng. Ngươi sẽ dâng một con làm của lễ tạ tội, và một con làm của lễ toàn thiêu dâng Ðức Chúa để xin ơn xá tội cho các thầy Lê-vi. <sup>13</sup> Ngươi sẽ đặt các thầy Lê-vi đứng trước mặt A-ha-ron và các con ông, rồi tiến dâng chúng cho Ðức Chúa, theo nghi thức. <sup>14</sup> Như thế, ngươi sẽ tách rời các thầy Lê-vi ra khỏi con cái Ít-ra-en: chúng sẽ thuộc về Ta. <sup>15</sup> Sau đó các thầy Lê-vi sẽ vào phục vụ Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Thật vậy, chúng được dâng hiến, được dâng hiến cho Ta, từ giữa con cái Ít-ra-en. Ta đã chọn chúng làm của riêng Ta, thay thế tất cả các con đầu lòng, các trưởng nam của con cái Ít-ra-en. <sup>17</sup> Thật vậy, tất cả các con đầu lòng trong số con cái Ít-ra-en, của loài người cũng như của súc vật đều thuộc về Ta. Ngày Ta đánh phạt tất cả các con đầu lòng trong đất Ai-cập, Ta đã thánh hiến chúng cho Ta, <sup>18</sup> và Ta đã nhận các thầy Lê-vi thay thế tất cả các con đầu lòng trong con cái Ít-ra-en. <sup>19</sup> Trong số con cái Ít-ra-en, Ta đã trao các thầy Lê-vi cho A-ha-ron và cho con cái nó, như những người được dâng hiến để sung vào việc phục dịch của con cái Ít-ra-en trong Lều Hội Ngộ, và để cử hành lễ xá tội cho con cái Ít-ra-en; như thế trong con cái Ít-ra-en sẽ không xảy ra tai hoạ phạt kẻ tới gần nơi thánh.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðối với các thầy Lê-vi, ông Mô-sê và ông A-ha-ron cùng toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en đã thi hành đúng mọi điều Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê về họ; con cái Ít-ra-en đã thi hành như thế đối với họ. <sup>21</sup> Các thầy Lê-vi đã thanh tẩy mình và giặt áo; ông A-ha-ron đã cử hành nghi thức trên dâng họ trước nhan Ðức Chúa, và đã làm lễ xá tội cho họ để thanh tẩy họ. <sup>22</sup> Sau đó các thầy Lê-vi đã vào làm việc phục dịch trong Lều Hội Ngộ, trước mặt ông A-ha-ron và các con. Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê thế nào về các thầy Lê-vi, thì người ta đã thi hành như thế đối với họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thời gian phục vụ của các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>24</sup> &#8220;Ðây là những điều liên quan tới các thầy Lê-vi. Từ hai mươi lăm tuổi trở lên, mỗi người phải vào thi hành nghĩa vụ phục dịch Lều Hội Ngộ, <sup>25</sup> và từ năm mươi tuổi thì được về hưu, không phải phục dịch nữa. <sup>26</sup> Người ấy sẽ giúp anh em chu toàn nhiệm vụ trong Lều Hội Ngộ, còn nhiệm vụ của mình thì không phải thi hành nữa. Ngươi sẽ bố trí công việc cho các thầy Lê-vi như thế.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kèn bạc</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Ngươi hãy làm hai chiếc kèn, làm bằng bạc gò, để dùng mà triệu tập cộng đồng và nhổ trại. <sup>3</sup> Khi các kèn thổi, thì toàn thể cộng đồng tập họp lại bên ngươi, tại cửa Lều Hội Ngộ. <sup>4</sup> Nếu thổi một chiếc, thì các kỳ mục, những người đứng đầu các thị tộc Ít-ra-en, sẽ tập họp lại bên ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi các ngươi thổi kèn báo động, thì các trại nằm ở phía đông sẽ lên đường. <sup>6</sup> Khi các ngươi thổi kèn báo động lần thứ hai, thì các trại ở phía nam sẽ lên đường. Kèn báo động sẽ nổi lên mỗi khi phải nhổ trại lên đường. <sup>7</sup> Còn khi triệu tập đại hội, thì thổi kèn, mà không được báo động. <sup>8</sup> Các con trai của A-ha-ron, là các tư tế, sẽ thổi kèn. Và đó là điều luật vĩnh viễn cho các ngươi và cho dòng dõi các ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi các ngươi xuất trận, trong đất nước các ngươi, chống lại kẻ thù tấn công, các ngươi sẽ thổi kèn báo động, và Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, sẽ nhớ đến các ngươi và cứu các ngươi khỏi quân thù. <sup>10</sup> Trong ngày vui mừng của các ngươi, cũng như trong các đại lễ đã quy định, và các tuần trăng mới, các ngươi sẽ thổi kèn, khi dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an. Ðiều đó sẽ làm cho Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, nhớ đến các ngươi. Chính Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thứ tự lên đường</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Năm thứ hai, tháng hai, ngày hai mươi trong tháng, mây bốc lên khỏi Nhà Tạm Chứng Ước, <sup>12</sup> và từ sa mạc Xi-nai, con cái Ít-ra-en lên đường theo thứ tự. Rồi cột mây đậu lại trong sa mạc Pa-ran.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Họ đã lên đường lần đầu tiên theo lệnh Ðức Chúa truyền qua ông Mô-sê. <sup>14</sup> Trước hết là cờ hiệu doanh trại con cháu Giu-đa lên đường theo các đoàn quân của họ, dưới quyền chỉ huy của ông Nác-sôn, con ông Am-mi-na-đáp. <sup>15</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Ít-xa-kha dưới quyền chỉ huy của ông Nơ-than-ên, con ông Xu-a. <sup>16</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Dơ-vu-lun dưới quyền chỉ huy của ông Ê-li-áp, con ông Khe-lôn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Khi tháo Nhà Tạm xuống, thì con cái Ghéc-sôn sẽ lên đường, và con cái Mơ-ra-ri sẽ khiêng Nhà Tạm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Cờ hiệu doanh trại Rưu-vên đã lên đường theo các đoàn quân của họ và dưới quyền chỉ huy của ông Ê-li-xua, con ông Sơ-đê-ua. <sup>19</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Si-mê-ôn dưới quyền chỉ huy của ông Sơ-lu-mi-ên, con ông Xu-ri-sát-đai. <sup>20</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Gát dưới quyền chỉ huy của ông En-gia-xáp, con ông Rơ-u-ên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðến lượt các người Cơ-hát lên đường, mang theo vật dụng thánh, và Nhà Tạm phải được dựng lên trước khi họ tới.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Tiếp đó là cờ hiệu doanh trại con cháu Ép-ra-im lên đường theo các đoàn quân của họ dưới quyền chỉ huy của ông Ê-li-sa-ma, con ông Am-mi-hút. <sup>23</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Mơ-na-se dưới quyền chỉ huy của ông Gam-li-ên, con ông Pơ-đa-xua. <sup>24</sup> Ðoàn quân chi tộc Ben-gia-min dưới quyền chỉ huy của ông A-vi-đan, con ông Ghít-ô-ni.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Sau cùng, làm hậu quân cho tất cả các doanh trại, cờ hiệu doanh trại con cháu Ðan lên đường, theo các đoàn quân của họ dưới quyền chỉ huy của ông A-khi-e-de, con ông Am-mi-sát-đai. <sup>26</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu A-se dưới quyền chỉ huy của ông Pác-i-ên, con ông Oóc-ran. <sup>27</sup> Ðoàn quân chi tộc con cháu Náp-ta-li dưới quyền chỉ huy của ông A-khi-ra, con ông Ê-nan.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ðó là thứ tự các đoàn quân con cái Ít-ra-en khi họ lên đường.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Mô-sê đề nghị với ông Khô-váp</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ông Mô-sê nói với nhạc phụ mình là ông Khô-váp, con ông Rơ-u-ên, người Ma-đi-an: &#8220;Chúng tôi đang trên đường đi tới nơi mà Ðức Chúa đã hứa: &#8220;Ta sẽ ban đất ấy cho các ngươi. Mời cha đi với chúng tôi, chúng tôi sẽ trọng đãi cha, vì Ðức Chúa đã hứa ban phúc lộc cho Ít-ra-en.&#8221; <sup>30</sup> Ông Khô-váp trả lời: &#8220;Không được, tôi phải về quê cha đất tổ tôi.&#8221; <sup>31</sup> Ông Mô-sê nói: &#8220;Xin cha đừng bỏ chúng tôi; bởi vì cha biết những nơi chúng tôi phải đóng trại trong sa mạc, cha sẽ là đôi mắt của chúng tôi. <sup>32</sup> Và nếu cha cùng đi với chúng tôi, thì chính phúc lộc Ðức Chúa ban cho chúng tôi, chúng tôi sẽ chia sẻ với cha.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cuộc lên đường</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Họ khởi hành từ núi của Ðức Chúa, đi bộ ba ngày; Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa đi trước họ suốt ba ngày, để tìm chỗ cho họ đóng trại.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Và mây của Ðức Chúa che phủ họ ban ngày, lúc họ nhổ trại lên đường.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Khi Hòm Bia khởi hành, ông Mô-sê lên tiếng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Lạy Ðức Chúa, xin đứng lên cho địch thù Ngài tán loạn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và cho kẻ ghét Ngài phải chạy trốn Thánh Nhan! &#8220;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Và lúc Hòm Bia dừng lại, ông nói:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Lạy Ðức Chúa, xin dừng lại,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngự giữa trăm họ Ít-ra-en!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">V. Những Chặng Ðường Trong Sa Mạc</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Táp-ê-ra</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Thế rồi dân bắt đầu kêu ca thấu tai Ðức Chúa vì những khổ cực của họ, và Ðức Chúa đã nghe được. Cơn thịnh nộ của Người bừng lên và lửa của Ðức Chúa bốc cháy nơi họ ở và thiêu huỷ đầu trại. <sup>2</sup> Dân liền kêu cứu ông Mô-sê, ông Mô-sê chuyển cầu lên Ðức Chúa, và lửa đã tắt. <sup>3</sup> Người ta đặt tên cho nơi đó là Táp-ê-ra, vì lửa của Ðức Chúa đã bốc cháy nơi họ ở.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kíp-rốt Ha Ta-a-va. Dân ta thán.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðám dân ô hợp sống giữa dân Ít-ra-en bắt đầu thèm ăn, và cả con cái Ít-ra-en cũng khóc lóc mà nói: &#8220;Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? <sup>5</sup> Nhớ thuở nào ta ăn cá bên Ai-cập mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi. <sup>6</sup> Còn bây giờ đời ta tàn rồi; mọi thứ đó hết sạch, chỉ còn thấy man-na thôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Man-na như hạt ngò và trông nó như nhựa hương. <sup>8</sup> Dân cứ việc chia nhau đi lượm, cho vào cối xay hoặc cối giã mà nghiền tán ra, rồi bỏ vào nồi nấu bánh, và mùi vị của nó như mùi vị bánh chiên dầu. <sup>9</sup> Ðêm về sương rơi trên doanh trại, thì man-na cũng rơi xuống.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Mô-sê can thiệp</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ông Mô-sê nghe thấy dân tụm năm tụm bảy theo thị tộc mà kêu khóc tại cửa lều của mình. Còn Ðức Chúa thì bừng bừng nổi giận. Ông lấy làm khổ tâm <sup>11</sup> và thưa với Ðức Chúa: &#8220;Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con? <sup>12</sup> Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà Ngài lại bảo con: &#8220;Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ, mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng? <sup>13</sup> Con lấy đâu ra thịt cho cả dân này ăn, khi chúng khóc lóc đòi con: &#8220;Cho chúng tôi thịt để chúng tôi ăn? <sup>14</sup> Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. <sup>15</sup> Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn &#8211; ấy là nếu con đẹp lòng Ngài! Ðừng để con thấy mình phải khổ nữa!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðức Chúa trả lời</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy tập họp lại cho Ta bảy mươi người trong số kỳ mục Ít-ra-en, những kẻ ngươi biết là kỳ mục và ký lục trong dân. Ngươi sẽ đem chúng đến Lều Hội Ngộ, để chúng đứng đó với ngươi. <sup>17</sup> Ta sẽ xuống đó nói chuyện với ngươi. Ta sẽ lấy một phần Thần Khí đang ngự trên ngươi mà đặt trên chúng, chúng sẽ cùng với ngươi gánh vác dân này, và ngươi sẽ không còn phải vác một mình nữa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngươi hãy nói với dân: &#8220;Anh em hãy thanh tẩy mình để chuẩn bị cho ngày mai và anh em sẽ được ăn thịt. Phải, anh em đã kêu khóc thấu tai Ðức Chúa rằng: &#8220;Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? Bên Ai-cập, chúng ta sướng biết mấy! Ðức Chúa sẽ ban thịt cho anh em, và anh em sẽ được ăn. <sup>19</sup> Anh em sẽ ăn, không phải một ngày, hai ngày, năm mười ngày, hay hai mươi ngày mà thôi, <sup>20</sup> nhưng suốt cả tháng, cho đến khi thịt lòi ra lỗ mũi làm anh em phát ngấy, vì anh em đã khinh thường Ðức Chúa, Ðấng ngự giữa anh em, và đã kêu khóc trước nhan Người rằng: Chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ông Mô-sê lại nói: &#8220;Con ở giữa một dân có đến sáu trăm ngàn bộ binh, mà Ðức Chúa lại bảo: Ta sẽ ban thịt cho chúng, và chúng sẽ ăn suốt cả tháng. <sup>22</sup> Dù có giết chiên giết bò, liệu có đủ cho họ không? Dù có bắt hết cá dưới biển, liệu có đủ cho họ không?&#8221; <sup>23</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ðức Chúa mà chịu bó tay sao? Bây giờ ngươi sẽ thấy lời Ta phán có đúng hay không.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðức Chúa ban Thần Khí</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ông Mô-sê ra nói lại với dân những lời của Ðức Chúa. Ông tập họp bảy mươi người trong số kỳ mục của dân và đặt họ đứng chung quanh Lều. <sup>25</sup> Ðức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Mô-sê. Người lấy một phần Thần Khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi kỳ mục. Khi Thần Khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn, nhưng việc đó không tái diễn nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Bấy giờ có hai người ở lại trong trại, một người tên là En-đát, một người tên là Mê-đát. Các ông đã được ghi trong danh sách kỳ mục, nhưng đã không đến Lều. Thần Khí đậu xuống trên các ông và các ông bắt đầu phát ngôn trong trại. <sup>27</sup> Một người thanh niên chạy đi báo tin cho ông Mô-sê rằng: &#8220;Ông En-đát và ông Mê-đát đang phát ngôn trong trại!&#8221; <sup>28</sup> Ông Giô-suê con ông Nun, từng theo hầu ông Mô-sê từ hồi còn nhỏ, lên tiếng nói với ông Mô-sê: &#8220;Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!&#8221; <sup>29</sup> Nhưng ông Mô-sê trả lời: &#8220;Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Ðức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều là ngôn sứ!&#8221; Vì Ðức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ. <sup>30</sup> Ông Mô-sê đã vào trại cùng với các kỳ mục Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chim cút</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Một luồng gió do Ðức Chúa khơi dậy đã lùa chim cút từ phía biển tới, và thổi chúng dạt xuống trại thành một đường dài đi một ngày mới hết, ở bốn phía chung quanh trại, dày tới một thước trên mặt đất. <sup>32</sup> Dân bận rộn lượm chim cút suốt ngày suốt đêm ấy và cả ngày hôm sau; người lượm ít nhất cũng được hai trăm thùng, và họ đem phơi chung quanh trại. <sup>33</sup> Thịt còn đang ở giữa hai hàm răng, chưa kịp nhai thì cơn thịnh nộ của Ðức Chúa đã bừng lên trút xuống dân và Ðức Chúa đã đánh phạt dân dữ dội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Và người ta đã đặt tên cho nơi đó là Kíp-rốt Ha Ta-a-va, vì ở đó họ đã chôn đám dân thèm ăn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Từ Kíp-rốt Ha Ta-a-va, dân chúng đã nhổ trại lên đường đi Kha-xê-rốt và ở lại đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bà Mi-ri-am và ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bà Mi-ri-am và ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê về người đàn bà xứ Cút mà ông đã lấy, vì ông đã lấy một người đàn bà xứ Cút làm vợ. <sup>2</sup> Họ nói: &#8220;Ðức Chúa chỉ phán với một mình Mô-sê sao? Người đã chẳng phán với cả chúng ta nữa ư?&#8221; Và Ðức Chúa nghe được. <sup>3</sup> Ông Mô-sê là người hiền lành nhất đời.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa trả lời</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðột nhiên Ðức Chúa phán với ông Mô-sê, ông A-ha-ron và bà Mi-ri-am: &#8220;Cả ba hãy đi ra Lều Hội Ngộ!&#8221; Và ba người đã ra. <sup>5</sup> Ðức Chúa ngự xuống giữa đám mây và dừng lại ở cửa Lều. Người gọi ông A-ha-ron và bà Mi-ri-am, và hai người đi ra. <sup>6</sup> Người phán: &#8220;Hãy nghe Ta nói đây!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nếu trong các ngươi có ai là ngôn sứ,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">thì Ta, Ðức Chúa, Ta sẽ tỏ mình ra cho nó trong thị kiến,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hoặc sẽ phán với nó trong giấc mộng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nhưng với Mô-sê tôi tớ Ta thì khác:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền, chứ không nói bí ẩn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và hình dáng Ðức Chúa, nó được ngắm nhìn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vậy tại sao các ngươi không sợ nói động đến Mô-sê, tôi tớ Ta?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với họ mà bỏ đi. <sup>10</sup> Khi mây bốc lên khỏi Lều, thì bà Mi-ri-am bị cùi, mốc thếch như tuyết; ông A-ha-ron quay nhìn bà Mi-ri-am, thì kìa bà đã bị cùi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lời chuyển cầu của ông A-ha-ron và ông Mô-sê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ông A-ha-ron nói với ông Mô-sê: &#8220;Lỗi tại tôi, thưa ngài, nhưng xin ngài đừng kết tội chúng tôi; chúng tôi đã dại dột mà phạm lỗi và đáng tội. <sup>12</sup> Xin đừng để cho cô ấy nên như đứa chết yểu, vừa lọt lòng mẹ đã bị ăn mòn mất một nửa phần thịt mình rồi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Mô-sê kêu cầu lên Ðức Chúa rằng: &#8220;Ôi, lạy Chúa, xin chữa lành cô ấy!&#8221; <sup>14</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Nếu cha nó phỉ nhổ vào mặt nó, thì nó không phải nhục nhã ê chề bảy ngày liền sao? Nó vẫn phải biệt cư ở ngoài trại bảy ngày rồi mới được vào lại.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Vậy bà Mi-ri-am đã bị biệt cư ở ngoài trại bảy ngày liền, trong khi đó dân chúng không lên đường cho tới khi bà Mi-ri-am được vào lại. <sup>16</sup> Sau đó dân chúng lên đường rời Kha-xê-rốt và đóng trại trong sa mạc Pa-ran.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Do thám đất Ca-na-an</strong> (Ðnl 1:19-24)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Ngươi hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Ít-ra-en. Các ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất cả phải là kỳ mục trong dân.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Vậy từ sa mạc Pa-ran, ông Mô-sê đã sai họ đi, theo lệnh Ðức Chúa truyền. Tất cả họ đều là những người đứng đầu trong con cái Ít-ra-en. <sup>4</sup> Ðây là danh sách họ:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Thuộc chi tộc Rưu-vên, có ông Sam-mu-a, con ông Dắc-cua.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Thuộc chi tộc Si-mê-ôn, có ông Sa-phát, con ông Khô-ri.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Thuộc chi tộc Giu-đa, có ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Thuộc chi tộc Ít-xa-kha, có ông Gích-an, con ông Giô-xép.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Thuộc chi tộc Ép-ra-im, có ông Hô-sê-a, con ông Nun.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Thuộc chi tộc Ben-gia-min, có ông Pan-ti, con ông Ra-phu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, có ông Gát-đi-en, con ông Xô-đi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Thuộc chi tộc Giu-se, ngành Mơ-na-se, có ông Gát-đi, con ông Xu-xi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Thuộc chi tộc Ðan, có ông Am-mi-ên, con ông Gơ-ma-li.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Thuộc chi tộc A-se, có ông Xơ-tua, con ông Mi-kha-ên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Thuộc chi tộc Náp-ta-li, có ông Nác-bi, con ông Vóp-xi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Thuộc chi tộc Gát, có ông Gơ-u-ên, con ông Ma-khi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðó là tên những người ông Mô-sê sai đi do thám đất. Rồi ông Mô-sê đặt tên cho Hô-sê-a, con ông Nun, là Giô-suê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ông Mô-sê sai họ đi do thám đất Ca-na-an. Ông bảo họ: &#8220;Anh em hãy qua miền Ne-ghép mà lên, lên miền núi. <sup>18</sup> Anh em sẽ xem đất, xem nó thế nào, dân ở đó mạnh hay yếu, ít hay nhiều, <sup>19</sup> đất họ ở tốt hay xấu, thành thị của họ là lều trại hay đồn luỹ, <sup>20</sup> đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay không. Anh em hãy can đảm, và lấy ít hoa trái miền đó đem về.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Họ đi lên và do thám đất, từ sa mạc Xin đến Rơ-khốp, trên đường vào Cửa Ải Kha-mát. <sup>22</sup> Họ qua miền Ne-ghép đi lên và tới tận Khép-rôn, ở đó có A-khi-man, Sê-sai và Tan-mai là con cháu của A-nác. Khép-rôn đã được xây bảy năm trước Xô-an bên Ai-cập. <sup>23</sup> Họ vào đến thung lũng Ét-côn, ở đó họ chặt một nhành nho và một chùm nho, rồi hai người dùng sào mà khiêng, họ cũng lấy cả lựu và vả. <sup>24</sup> Người ta gọi nơi ấy là thung lũng Ét-côn, vì chùm nho mà con cái Ít-ra-en đã hái ở đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Báo cáo của đội do thám</strong> (Ðnl 1:25-28)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Sau bốn mươi ngày do thám đất, họ trở về. <sup>26</sup> Họ đến gặp ông Mô-sê, ông A-ha-ron và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, tại Ca-đê trong sa mạc Pa-ran. Họ báo cáo với hai ông và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, và cho những người đó xem hoa trái miền ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Họ thuật lại với ông Mô-sê rằng: &#8220;Chúng tôi đã vào miền đất ông sai chúng tôi đến. Ðúng là miền đất tràn trề sữa và mật, và đây là hoa trái miền ấy. <sup>28</sup> Thế nhưng dân cư miền ấy thì mạnh, thành thị lại kiên cố và rộng lớn lắm; ở đó chúng tôi còn thấy cả con cháu A-nác. <sup>29</sup> Có người A-ma-lếch ở miền Ne-ghép, người Khết, người Giơ-vút và người E-mô-ri ở miền núi, còn người Ca-na-an thì ở bờ biển và dọc sông Gio-đan.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Bấy giờ ông Ca-lếp truyền cho dân đang phản đối ông Mô-sê phải im lặng, ông nói: &#8220;Ta cứ lên chiếm miền ấy, vì chắc chắn ta có thể thắng được.&#8221; <sup>31</sup> Những người đã cùng lên với ông đáp lại: &#8220;Ta không thể lên đánh dân ấy, vì họ mạnh hơn ta.&#8221; <sup>32</sup> Trước mặt con cái Ít-ra-en, họ bắt đầu chê bai miền đất họ đã do thám, họ nói: &#8220;Miền đất chúng ta đã đi qua để do thám là đất nuốt những người ở đó, và tất cả những người chúng tôi thấy ở đó đều là những người cao lớn. <sup>33</sup> Ở đó chúng tôi trông thấy những người khổng lồ, con cháu của A-nác thuộc giống người khổng lồ. Chúng tôi thấy mình chỉ như châu chấu, và họ cũng coi chúng tôi như vậy.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en nổi loạn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Toàn thể cộng đồng lớn tiếng kêu la, dân chúng khóc lóc cả đêm ấy. <sup>2</sup> Tất cả con cái Ít-ra-en đều kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron, toàn thể cộng đồng nói với các ông: &#8220;Phải chi chúng tôi chết ở bên đất Ai-cập, hoặc phải chi chúng tôi chết trong sa mạc này cho xong! <sup>3</sup> Sao Ðức Chúa lại đem chúng tôi vào đất này để chúng tôi ngã gục dưới lưỡi gươm, để vợ con chúng tôi bị giặc bắt? Chúng tôi trở về Ai-cập có tốt hơn không?&#8221; <sup>4</sup> Họ bảo nhau: &#8220;Chúng ta hãy đặt lên một người cầm đầu và trở về Ai-cập.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Trước mặt toàn thể đại hội của cộng đồng con cái Ít-ra-en, ông Mô-sê và ông A-ha-ron sấp mặt xuống đất. <sup>6</sup> Ông Giô-suê, con ông Nun, và ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, là những người đã tham dự cuộc do thám đất, xé áo mình ra <sup>7</sup> và nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en: &#8220;Miền đất chúng tôi đã đi qua để do thám là một đất tốt thật là tốt! <sup>8</sup> Nếu Ðức Chúa thương ta, Người sẽ đưa ta vào đất ấy và ban đất ấy cho ta, một đất tràn trề sữa và mật. <sup>9</sup> Vậy anh em đừng nổi loạn chống Ðức Chúa, và đừng sợ dân đất ấy! Chúng ta sẽ nuốt chửng chúng. Thần hộ mệnh chúng đã lìa xa chúng, còn Ðức Chúa thì ở với ta. Ðừng sợ chúng!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cơn thịnh nộ của ÐỨC CHÚA và lời chuyển cầu của ông Mô-sê</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Cả cộng đồng đang bàn chuyện ném đá các ông, thì vinh quang Ðức Chúa xuất hiện trong Lều Hội Ngộ trước mắt toàn thể con cái Ít-ra-en. <sup>11</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Dân này còn khinh thị Ta đến bao giờ nữa? Cho đến bao giờ, chúng không chịu tin vào Ta, mặc dầu Ta đã làm bấy nhiêu dấu lạ ở giữa chúng? <sup>12</sup> Ta sẽ dùng ôn dịch mà đánh phạt chúng, sẽ không cho chúng hưởng gia nghiệp, rồi Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc lớn và mạnh hơn chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Mô-sê thưa với Ðức Chúa: &#8220;Người Ai-cập đã nghe biết rằng Ngài đã dùng sức mạnh của Ngài mà đưa dân này ra khỏi đất chúng. <sup>14</sup> Và chúng đã kể lại việc đó cho cư dân đất này. Dân đất này đã nghe biết rằng chính Ngài, Ðức Chúa, Ngài ở giữa dân này, chính Ngài, Ðức Chúa, Ngài cho họ được thấy Ngài tận mắt, rằng đám mây của Ngài dừng trên họ, và Ngài đi trước họ ban ngày trong cột mây và ban đêm trong cột lửa. <sup>15</sup> Thế mà Ðức Chúa lại muốn giết cả dân này như giết một người! Các nước đã từng nghe danh tiếng Ngài sẽ nói: <sup>16</sup> &#8220;Chính bởi vì Ðức Chúa đã không thể đem dân ấy vào đất Người đã thề ban cho chúng, mà Người đã hạ sát chúng trong sa mạc. <sup>17</sup> Vậy giờ đây, xin Chúa Thượng của con biểu dương sức mạnh, như Ngài đã phán: <sup>18</sup> &#8220;Ðức Chúa chậm giận và giàu ân nghĩa, chịu đựng lỗi lầm và tội ác, nhưng không dung tha điều gì; phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông. <sup>19</sup> Vậy xin Ngài tha thứ lỗi lầm của dân này theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai-cập cho đến đây.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tha thứ và trừng phạt</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa đáp: &#8220;Ta tha thứ như lời ngươi xin. <sup>21</sup> Tuy nhiên, Ta lấy sự sống của Ta, lấy vinh quang của Ta là Ðức Chúa, vinh quang tràn đầy cõi đất, mà thề: <sup>22</sup> Không một ai trong những người đã thấy vinh quang của Ta và những dấu lạ Ta đã làm bên Ai-cập và trong sa mạc, nhưng đã thách thức Ta cả mười lần và đã không chịu nghe theo tiếng Ta, <sup>23</sup> không một ai trong những người ấy sẽ được thấy miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng, tất cả những ai khinh thị Ta sẽ không được thấy đất ấy. <sup>24</sup> Nhưng tôi trung của Ta là Ca-lếp, vì được một thần khí khác thúc đẩy, và đã một lòng theo Ta, thì Ta sẽ đưa nó vào đất nó đã đi tới, và dòng dõi nó sẽ chiếm hữu đất ấy. <sup>25</sup> Vì người A-ma-lếch và người Ca-na-an ở vùng đồng bằng, nên ngày mai các ngươi hãy quay trở lại, và theo hướng Biển Sậy mà vào sa mạc.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ðức Chúa lại phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: <sup>27</sup> &#8220;Cho tới bao giờ cái cộng đồng hư đốn này cứ tiếp tục lẩm bẩm kêu trách Ta? Ta đã nghe thấy toàn những lời cằn nhằn, đám con cái Ít-ra-en này cứ lẩm bẩm chống Ta. <sup>28</sup> Ngươi hãy nói với chúng: Ta thề -sấm của Ðức Chúa &#8211; Ta sẽ xử với các ngươi như lời các ngươi kêu thấu tai Ta. <sup>29</sup> Trong sa mạc này, thây các ngươi sẽ ngã gục: trong các ngươi, tất cả những người đã được kiểm tra đăng ký, từ hai mươi tuổi trở lên, mà đã cằn nhằn chống Ta, <sup>30</sup> không một ai sẽ được vào đất mà Ta đã giơ tay thề sẽ đưa các ngươi vào cư ngụ, ngoại trừ Ca-lếp, con của Giơ-phun-ne, và Giô-suê, con của Nun. <sup>31</sup> Còn các trẻ con mà các ngươi cho rằng sẽ bị bắt làm chiến lợi phẩm, thì Ta sẽ đưa chúng vào, và chúng sẽ được biết đất các ngươi đã chê bỏ. <sup>32</sup> Còn các ngươi, thây các ngươi sẽ ngã gục trong sa mạc này. <sup>33</sup> Và con cái các ngươi sẽ đi lang thang trong sa mạc bốn mươi năm, chúng sẽ mang lấy tội phản bội của các ngươi cho tới khi tất cả các ngươi thành thây ma trong sa mạc. <sup>34</sup> Theo số ngày các ngươi đã đi do thám đất &#8211; bốn mươi ngày &#8211; mỗi ngày tính là một năm, các ngươi sẽ phải gánh chịu tội ác của các ngươi bốn mươi năm, và các ngươi sẽ biết Ta trừng phạt những kẻ bất tuân như thế nào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ta, Ðức Chúa, Ta đã phán; Ta quyết sẽ thi hành như thế cho toàn thể cộng đồng hư đốn này đã cấu kết với nhau chống lại Ta. Trong sa mạc này chúng sẽ bị tiêu diệt và sẽ chết hết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Những người đã được ông Mô-sê sai đi do thám đất, lúc trở về, đã làm cho cả cộng đồng lẩm bẩm kêu trách ông, vì những lời xuyên tạc về đất ấy, <sup>37</sup> những người đó đã bị phạt chết ngay trước nhan Ðức Chúa, vì manh tâm xuyên tạc về đất ấy. <sup>38</sup> Chỉ có Giô-suê, con ông Nun, và Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, trong số các người đi do thám đất, là còn sống.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Dân Ít-ra-en thất bại</strong> (Ðnl 1: 41-46)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Khi ông Mô-sê thuật lại các những lời ấy cho toàn thể con cái Ít-ra-en, thì dân chúng đã kêu khóc thảm thiết. <sup>40</sup> Thế rồi họ dậy sớm, kéo nhau lên đỉnh núi, và nói: &#8220;Này chúng tôi lên nơi mà Ðức Chúa đã nói, vì chúng tôi đã phạm tội.&#8221; <sup>41</sup> Ông Mô-sê trả lời: &#8220;Sao anh em lại trái lệnh Ðức Chúa như thế? Việc này sẽ không thành công. <sup>42</sup> Ðừng lên, Ðức Chúa không ở với anh em đâu: anh em sẽ bị quân thù đánh bại. <sup>43</sup> Phải, quân A-ma-lếch và quân Ca-na-an sẽ chặn đánh anh em ở đó, và anh em sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, bởi vì anh em đã bỏ không theo Ðức Chúa, và Ðức Chúa không ở với anh em nữa.&#8221; <sup>44</sup> Họ khăng khăng kéo lên đỉnh núi, trong khi Hòm Bia Giao Ước của Ðức Chúa cũng như ông Mô-sê không rời khỏi trại. <sup>45</sup> Quân A-ma-lếch và quân Ca-na-an đóng trên núi ấy đã tràn xuống tấn công và đánh đuổi họ tan tành cho tới Khoóc-ma.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">VI. Luật Lệ Về Hiến Tế.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Quyền Hành Của Các Tư Tế Và Các Thầy Lê-Vi.</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Của dâng cúng kèm theo hiến tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán bảo ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng rằng: Khi các ngươi đã vào cư ngụ trong đất mà Ta sẽ ban cho các ngươi, <sup>3</sup> và khi các ngươi dâng bò bê hay chiên cừu lên Ðức Chúa làm lễ hoả tế, &#8211; bất kỳ lễ toàn thiêu hay lễ hy sinh &#8211; hoặc để giữ trọn một lời khấn, hoặc để dâng một của cúng tự nguyện, hoặc để cử hành các đại lễ theo luật định, ngõ hầu làm vui lòng Ðức Chúa vì hương thơm, <sup>4</sup> thì kẻ tiến dâng lễ còn phải tiến dâng lên Ðức Chúa lễ phẩm nữa, là bốn lít rưỡi tinh bột nhào với hai lít dầu ô-liu; <sup>5</sup> còn rượu tế thì cứ một con chiên con phải dâng hai lít, để làm lễ toàn thiêu hoặc lễ hy sinh. <sup>6</sup> Nếu là chiên đực, thì ngươi sẽ dâng lễ vật phụ là chín lít tinh bột nhào với hai lít rưỡi dầu ô-liu, <sup>7</sup> và rượu tế thì dâng hai lít rưỡi như hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>8</sup> Nếu ngươi dâng một con bò mộng làm lễ toàn thiêu hay lễ hy sinh, để giữ trọn một lời khấn, hoặc để làm lễ kỳ an dâng Ðức Chúa, <sup>9</sup> thì cùng với con bò mộng, ngươi sẽ còn phải dâng một lễ phẩm nữa, là mười ba lít rưỡi tinh bột nhào với bốn lít dầu ô-liu, <sup>10</sup> còn rượu tế thì ngươi sẽ dâng bốn lít, như hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>11</sup> Mỗi con bò mộng hoặc chiên đực, mỗi con cừu hay dê trong đàn ngươi dâng, thì đều phải làm như vậy. <sup>12</sup> Mỗi lần dâng, ngươi đều phải làm như thế, tuỳ theo số lượng nhiều hay ít.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Mọi người bản xứ đều phải làm như thế, khi dâng lễ hoả tế như hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>14</sup> Nếu có ngoại kiều sinh sống giữa các ngươi, hay con cháu các ngươi, mà dâng lễ hoả tế như hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa, thì nó cũng phải làm như các ngươi. <sup>15</sup> Trong đại hội, chỉ có một điều luật duy nhất cho các ngươi và cho ngoại kiều sống giữa các ngươi, điều luật vĩnh viễn trước mặt Ðức Chúa cho con cháu các ngươi cũng như cho các ngươi và cho ngoại kiều. <sup>16</sup> Một luật pháp và một quyết định cho cả các ngươi lẫn ngoại kiều sinh sống giữa các ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bánh đầu mùa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>18</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng rằng: Khi các ngươi tới đất mà Ta sẽ dẫn các ngươi vào, <sup>19</sup> các ngươi ăn thổ sản của đất đó, thì các ngươi phải dành ra trước phần trích dâng để kính Ðức Chúa như sau: <sup>20</sup> từ bột tốt nhất của các ngươi, các ngươi sẽ dâng một chiếc bánh làm phần trích dâng; như ngoài sân lúa người ta dành ra trước phần trích dâng thế nào, thì các ngươi cũng phải làm như vậy; <sup>21</sup> nghĩa là cho đến muôn đời các ngươi sẽ dâng Ðức Chúa phần trích dâng từ bột tốt nhất của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tẩy xoá những lầm lỗi vì vô ý</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> &#8220;Nếu vì vô ý các ngươi không giữ một điều nào trong tất cả các điều răn mà Ðức Chúa đã phán bảo qua ông Mô-sê trên đây, <sup>23</sup> tất cả những gì Ðức Chúa đã truyền cho các ngươi qua Mô-sê, từ ngày Ðức Chúa truyền dạy cho cả con cháu các ngươi về sau nữa, <sup>24</sup> nếu cộng đồng lỗi lầm vì vô ý, thì toàn thể cộng đồng phải dâng một con bò mộng làm lễ toàn thiêu, như hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa, cùng với lễ phẩm và rượu tế theo luật định, lại phải dâng một con dê đực vì lỗi đã phạm. <sup>25</sup> Tư tế sẽ làm nghi thức xá tội trên toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, và chúng sẽ được tha thứ, bởi đó là một tội phạm vì vô ý, và chúng đã dâng lên Ðức Chúa lễ tiến hoả tế cùng với lễ tạ tội lên Ðức Chúa, bởi phạm tội vì vô ý. <sup>26</sup> Như thế toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en cũng như ngoại kiều sinh sống giữa các ngươi đều được tha thứ, bởi toàn dân đã phạm tội vì vô ý.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Nếu một cá nhân phạm tội vì vô ý, thì nó sẽ dâng một con dê cái một tuổi làm lễ tạ tội. <sup>28</sup> Tư tế sẽ làm nghi thức xá tội trên người đã phạm tội vì vô ý, bởi nó vô ý trước nhan Ðức Chúa. Khi cử hành nghi thức xá tội như thế, thì người ấy sẽ được tha thứ. <sup>29</sup> Ðối với người bản xứ trong con cái Ít-ra-en cũng như đối với ngoại kiều sinh sống giữa chúng, các ngươi chỉ có một điều luật phải thi hành trong trường hợp phạm tội vì vô ý.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Nhưng kẻ nào hành động cố tình, dù là người bản xứ hay ngoại kiều, thì nó xúc phạm đến chính Ðức Chúa. Con người ấy sẽ bị tiễu trừ khỏi đồng bào của nó, <sup>31</sup> vì nó đã khinh khi lời Ðức Chúa và phế bỏ lệnh Người truyền. Con người ấy phải bị tiêu diệt. Nó phải mang lấy tội ác của nó.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vi phạm ngày sa-bát</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Khi con cái Ít-ra-en còn ở trong sa mạc, thì người ta bắt được một người đang lượm củi ngày sa-bát. <sup>33</sup> Những người bắt được kẻ đang lượm củi liền điệu y tới ông Mô-sê, ông A-ha-ron và toàn thể cộng đồng. <sup>34</sup> Họ nhốt y lại vì chưa có quyết định phải xử với y như thế nào. <sup>35</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Con người ấy sẽ phải chết; toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó bên ngoài doanh trại.&#8221; <sup>36</sup> Theo lệnh Ðức Chúa truyền cho ông Mô-sê, toàn thể cộng đồng đã đưa y ra khỏi trại, ném đá y và y đã chết.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tua áo</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ngươi hãy nói với con cái Ít-ra-en <sup>38</sup> và bảo chúng phải làm tua khâu vào tà áo của chúng, qua mọi thế hệ, và cột lên tua áo đó một sợi dây đỏ tía. <sup>39</sup> Vậy các ngươi sẽ mang tua áo, và khi nhìn thấy nó, các ngươi sẽ nhớ đến mọi mệnh lệnh của Ðức Chúa mà thi hành, chứ không theo con tim và đôi mắt các ngươi mà đi làm điếm.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Như thế các ngươi sẽ nhớ và thi hành tất cả các mệnh lệnh Ta truyền như những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa các ngươi. <sup>41</sup> Chính Ta, Ðức Chúa, là Thiên Chúa các ngươi, Ta đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập để làm Thiên Chúa của các ngươi, Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa các ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cô-rắc, Ða-than và A-vi-ram nổi loạn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Cô-rắc, con ông Gít-ha, cháu ông Cơ-hát thuộc chi tộc Lê-vi, đã lôi kéo những người thuộc chi tộc Rưu-vên, là Ða-than và A-vi-ram, con của ông Ê-li-áp, với Ôn, con ông Pe-lét. <sup>2</sup> Họ nổi lên chống ông Mô-sê, và cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong số con cái Ít-ra-en, là những người lãnh đạo cộng đồng, là thành viên hội đồng và là những nhân vật tên tuổi. <sup>3</sup> Họ tụ tập trước mặt ông Mô-sê và ông A-ha-ron, và nói với hai ông: &#8220;Các ông quá lắm rồi! Toàn thể cộng đồng đều là thánh, và Ðức Chúa ngự giữa họ. Vậy tại sao các ông lại đè đầu đè cổ cộng đồng của Ðức Chúa?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Nghe thấy vậy, ông Mô-sê sấp mặt xuống đất. <sup>5</sup> Ông nói với Cô-rắc và đồng bọn rằng: &#8220;Sáng mai Ðức Chúa sẽ cho biết ai thuộc về Người, ai được thánh hiến và được Người cho ở gần; kẻ Người chọn thì Người sẽ cho ở gần. <sup>6</sup> Các anh phải làm thế này: Anh Cô-rắc và đồng bọn của anh hãy lấy bình hương, <sup>7</sup> thắp lửa vào bình hương, và ngày mai đổ hương lên trên, trước nhan Ðức Chúa; và kẻ nào Ðức Chúa chọn thì người đó được thánh hiến. Này con cháu Lê-vi, các anh quá quắt lắm đó!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ông Mô-sê nói với Cô-rắc: &#8220;Này con cháu Lê-vi, nghe đây! <sup>9</sup> Thiên Chúa của Ít-ra-en đã biệt đãi các anh giữa cộng đồng Ít-ra-en, đưa các anh đến gần Chúa, để các anh phục dịch Nhà Tạm của Ðức Chúa và túc trực trước cộng đồng mà thi hành tác vụ thay cho họ: như thế, các anh còn cho là quá ít sao? <sup>10</sup> Người đã đưa anh và cùng với anh tất cả các người Lê-vi anh em của anh, tới gần Người, mà các anh còn đòi làm tư tế nữa! <sup>11</sup> Thế là chống Ðức Chúa, anh cùng với cả bọn anh mới toa rập với nhau, chứ ông A-ha-ron là gì mà các anh cằn nhằn ông ấy?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Mô-sê sai đi gọi Ða-than và A-vi-ram, con ông Ê-li-áp, nhưng họ trả lời: &#8220;Chúng tôi không đến! <sup>13</sup> Ông đã đưa chúng tôi ra khỏi đất tràn trề sữa và mật, để chúng tôi phải chết trong sa mạc, như thế là ít hay sao mà ông lại còn tự đặt mình làm thủ lãnh chúng tôi nữa? <sup>14</sup> Thật chẳng phải là ông đã dẫn chúng tôi vào một đất tràn trề sữa và mật, ông cũng chẳng cho chúng tôi đồng ruộng và vườn nho làm sở hữu. Ông tưởng móc mắt được những người này cho họ khỏi thấy sao? Chúng tôi không đến!&#8221; <sup>15</sup> Ông Mô-sê bừng bừng nổi giận, và thưa với Ðức Chúa: &#8220;Xin Ngài đừng chiếu cố lễ phẩm chúng dâng! Dù một con lừa của chúng, con cũng đã không hề lấy, và con cũng chẳng làm thiệt hại một người nào trong bọn chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hình phạt</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Mô-sê nói với ông Cô-rắc: &#8220;Anh và tất cả đồng bọn của anh, ngày mai hãy đến trước nhan Ðức Chúa, anh và họ cùng với ông A-ha-ron. <sup>17</sup> Mỗi người cầm bình hương của mình, đổ hương vào, rồi ai nấy hãy đưa bình hương tới nhan Ðức Chúa, tất cả là hai trăm năm mươi chiếc. Cả anh và ông A-ha-ron nữa, mỗi người hãy mang bình hương của mình.&#8221; <sup>18</sup> Mỗi người cầm bình hương, thắp lửa vào bình và đổ hương lên. Rồi họ đứng ở cửa Lều Hội Ngộ cùng với ông Mô-sê và ông A-ha-ron. <sup>19</sup> Cô-rắc đã triệu tập toàn thể cộng đồng trước mặt các ông, ở cửa Lều Hội Ngộ. Và vinh quang của Ðức Chúa đã xuất hiện trước toàn thể cộng đồng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: <sup>21</sup> &#8220;Các ngươi hãy rời xa cộng đồng này, vì Ta sẽ huỷ diệt nó trong giây lát. <sup>22</sup> Các ông liền sấp mặt xuống đất và kêu: &#8220;Lạy Chúa là Thiên Chúa ban sinh khí cho mọi xác phàm, chỉ có một người phạm tội mà Chúa nổi giận với cả cộng đồng sao?&#8221; <sup>23</sup> Ðức Chúa phán bảo ông Mô-sê rằng: <sup>24</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với cộng đồng: &#8220;Hãy tránh xa khu vực quanh nhà của Cô-rắc, Ða-than và A-vi-ram!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Bấy giờ ông Mô-sê đứng dậy đi về phía Ða-than và A-vi-ram, theo sau ông là các kỳ mục Ít-ra-en. <sup>26</sup> Ông nói với cộng đồng: &#8220;Này, chớ tới gần lều của những con người hư đốn ấy, và đừng đụng tới tất cả những gì của họ, kẻo vì liên luỵ mà anh em cũng bị huỷ diệt với tất cả tội lỗi của họ.&#8221; <sup>27</sup> Và người ta rời xa khu vực quanh nhà của Cô-rắc, Ða-than và A-vi-ram.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ông Mô-sê nói: &#8220;Cứ thế này mà anh em biết là Ðức Chúa đã sai tôi làm những công việc đó, chứ không phải tôi tự ý làm: <sup>29</sup> Nếu những người này chết bình thường như mọi người, nghĩa là số phận chung của mọi người cũng là số phận của họ, thì đúng là Ðức Chúa đã không sai tôi. <sup>30</sup> Còn nếu Ðức Chúa làm điều khác thường này là đất mở họng ra nuốt tươi các người ấy cùng với tất cả những gì của họ, nghĩa là họ bị chôn sống dưới âm phủ, thì anh em sẽ biết rằng những người đó đã khinh dể Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ông vừa nói những lời ấy xong, đất dưới chân họ liền rẽ ra, <sup>32</sup> mở họng nuốt chửng họ, nhà cửa của họ, mọi người nhà của Cô-rắc cũng như tất cả tài sản.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Những người ấy cùng với tất cả những gì của họ đã bị chôn sống dưới âm phủ, và đất đã khép lại vùi lấp họ; họ biến mất khỏi công hội. <sup>34</sup> Tất cả những người Ít-ra-en đứng chung quanh nghe tiếng họ kêu la thì trốn chạy, và nói: &#8220;Coi chừng đất nuốt cả chúng ta bây giờ!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ðức Chúa cho lửa ngốn trọn hai trăm năm mươi người đã dâng hương.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bình hương</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với E-la-da, con của tư tế A-ha-ron, phải cất các bình hương trên đám than hồng đi và hất lửa ấy ra xa. <sup>3</sup> Dù những bình hương đó là của những kẻ đã phạm tội mà phải chết, nhưng chúng đã được thánh hiến, nên các ngươi hãy dát thành những tấm đồng mỏng phủ lên bàn thờ. Quả vậy, các kẻ ấy đã tiến dâng trước nhan Ðức Chúa, và đã thánh hiến chúng; chúng sẽ nên dấu hiệu để cảnh giác con cái Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Tư tế E-la-da lấy các bình hương bằng đồng mà những người chết cháy đã tiến dâng, và dát thành những tấm mỏng phủ lên bàn thờ. <sup>5</sup> Chúng sẽ nhắc cho con cái Ít-ra-en nhớ rằng không một ai ngoài dòng dõi ông A-ha-ron tới gần thắp hương trước nhan Ðức Chúa, mà không bị chung một số phận với Cô-rắc và đồng bọn của y, như Ðức Chúa đã phán qua Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông A-ha-ron chuyển cầu</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Hôm sau toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng: &#8220;Chính các ông đã giết dân của Ðức Chúa.&#8221; <sup>7</sup> Và khi cộng đồng tụ tập trước mặt ông Mô-sê và ông A-ha-ron, thì họ quay về phía Lều Hội Ngộ. Và kìa, mây bao phủ Lều và vinh quang Ðức Chúa xuất hiện. <sup>8</sup> Bấy giờ ông Mô-sê và ông A-ha-ron đến trước Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>10</sup> &#8220;Các ngươi hãy rời xa cộng đồng này, vì Ta sẽ huỷ diệt nó trong giây lát.&#8221; Các ông liền sấp mặt xuống đất. <sup>11</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron: &#8220;Ông hãy cầm bình hương, lấy lửa trên bàn thờ thắp vào, đổ hương lên, rồi lập tức đến với cộng đồng làm nghi thức xá tội cho họ, vì Ðức Chúa đã nổi cơn thịnh nộ và tai hoạ đã bắt đầu.&#8221; <sup>12</sup> Theo lời ông Mô-sê, ông A-ha-ron cầm bình hương, chạy đến giữa công hội, thì này tai hoạ đã bắt đầu hoành hành trong dân. Ông đốt hương và làm nghi thức xá tội cho dân. <sup>13</sup> Ông đứng giữa kẻ chết và người sống, tai hoạ liền chấm dứt. <sup>14</sup> 14,700 người đã chết trong tai hoạ này, không kể những người chết trong vụ Cô-rắc. <sup>15</sup> Ông A-ha-ron trở lại đứng bên ông Mô-sê ở cửa Lều Hội Ngộ, thì tai hoạ dứt hẳn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Cây gậy của ông A-ha-ron</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>17</sup> &#8220;Hãy bảo con cái Ít-ra-en nộp cho ngươi, qua các trưởng tộc, mỗi gia tộc một cây gậy, tất cả là mười hai cây. Ngươi sẽ viết tên mỗi người vào cây gậy của nó. <sup>18</sup> Ngươi sẽ viết tên của A-ha-ron lên cây gậy của Lê-vi, vì thủ lãnh gia tộc của chúng cũng phải có một cây gậy. <sup>19</sup> Ngươi sẽ đặt các cây gậy đó trong Lều Hội Ngộ, trước Chứng Ước, nơi Ta gặp gỡ các ngươi. <sup>20</sup> Ai được Ta chọn thì gậy của nó sẽ đâm chồi, như thế Ta sẽ làm tiêu tan, không để thấu tới Ta những lời con cái Ít-ra-en kêu ca lẩm bẩm, những lời chúng thốt ra chống lại các ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ông Mô-sê nói lại với con cái Ít-ra-en và tất cả các trưởng tộc đã trao gậy cho ông, mỗi người một cây gậy theo số các gia tộc: tất cả là mười hai cây, trong đó có cây gậy của ông A-ha-ron. <sup>22</sup> Ông Mô-sê đặt các gậy đó trước nhan Ðức Chúa trong Lều Chứng Ước. <sup>23</sup> Hôm sau ông Mô-sê tới Lều Chứng Ước, thì kìa, cây gậy của ông A-ha-ron thuộc gia tộc Lê-vi đã đâm chồi, trổ bông và kết trái hạnh đào. <sup>24</sup> Từ trước nhan Ðức Chúa, ông Mô-sê lấy tất cả các cây gậy, đưa ra cho toàn thể con cái Ít-ra-en xem, và mỗi người đã nhận lại cây gậy của mình.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy đưa cây gậy của A-ha-ron đặt lại trước Chứng Ước, để lưu trữ như dấu chỉ cảnh cáo những đứa phản loạn. Như thế ngươi sẽ làm tiêu tan không để thấu tới Ta những lời chúng kêu ca lẩm bẩm; và chúng sẽ khỏi phải chết.&#8221; <sup>26</sup> Ông Mô-sê thi hành như Ðức Chúa đã truyền. Ông đã làm đúng như vậy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vai trò đền tội của tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Con cái Ít-ra-en thưa với ông Mô-sê: &#8220;Chết chúng tôi rồi! Chết hết! Tiêu vong hoàn toàn! <sup>28</sup> Ai mà tới gần Nhà Tạm Ðức Chúa thì sẽ phải chết. Chúng tôi sẽ bị tận diệt sao?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông A-ha-ron: &#8220;Ngươi, con cái ngươi và gia tộc ngươi với ngươi, các ngươi phải chịu trách nhiệm về tội phạm đến nơi thánh. Ngươi và con cái ngươi với ngươi, các ngươi phải chịu trách nhiệm về tội phạm đến chức tư tế của các ngươi. <sup>2</sup> Ngươi hãy đưa cả các anh em ngươi, thuộc chi tộc Lê-vi, chi tộc của cha ngươi đến với ngươi để chúng trợ lực và phục vụ ngươi, ngươi và con cái ngươi, trước Lều Chứng Ước. <sup>3</sup> Chúng sẽ lo phục vụ ngươi và phục vụ tất cả Lều, nhưng không được tới gần các vật thánh cũng như bàn thờ, kẻo cả chúng lẫn các ngươi phải chết. <sup>4</sup> Chúng sẽ trợ lực ngươi và đảm nhận việc phục vụ Lều Hội Ngộ, về mọi dịch vụ liên quan tới Lều; không người nào khác được tới gần các ngươi. <sup>5</sup> Các ngươi sẽ đảm nhận việc phục vụ nơi thánh và phục vụ bàn thờ, và thịnh nộ sẽ không giáng xuống trên con cái Ít-ra-en nữa. <sup>6</sup> Ta đây, Ta đã chọn giữa con cái Ít-ra-en các thầy Lê-vi là anh em của các ngươi, để trao tặng cho các ngươi. Họ là &#8220;những người được dâng hiến&#8221;, thuộc về Ðức Chúa, để chuyên lo phục vụ Lều Hội Ngộ. <sup>7</sup> Ngươi cùng với các con ngươi sẽ thi hành chức vụ tư tế trong mọi việc liên quan tới bàn thờ và những gì sau bức màn trướng. Ðó là dịch vụ của các ngươi. Ta ban chức tư tế cho các ngươi như dịch vụ và hồng ân; còn người nào khác mà tới gần sẽ phải chết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ðức Chúa phán với ông A-ha-ron: &#8220;Ta đây, Ta trao cho ngươi đảm nhận phần trích dâng trong tất cả các của lễ con cái Ít-ra-en dâng cho Ta. Ta ban cho ngươi và con cái ngươi như phần riêng chiếu theo một quy luật vĩnh viễn. <sup>9</sup> Ðây là phần dành cho ngươi, trích từ của lễ cực thánh, không bị hoả tế: tất cả lễ tiến người ta hoàn lại cho Ta trong các lễ phẩm, các hiến lễ xá tội và các hiến lễ đền tội. Ðó là của cực thánh dành cho ngươi và con cái ngươi. <sup>10</sup> Các ngươi sẽ ăn của ấy nơi cực thánh, hễ là nam giới thì được ăn của ấy. Ðó là của thánh đối với ngươi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Và đây cũng là phần dành cho ngươi: phần trích dâng trong tất cả những gì con cái Ít-ra-en tiến dâng theo nghi thức. Ta ban những của ấy cho ngươi và cho con trai con gái ngươi, chiếu theo một quy luật vĩnh viễn. Trong nhà ngươi hễ ai thanh sạch, thì được hưởng. <sup>12</sup> Tất cả tinh dầu hảo hạng, mọi thứ rượu mới và lúa miến tốt nhất, tức là những của đầu mùa người ta dâng lên Ðức Chúa, Ta đều ban cho ngươi. <sup>13</sup> Tất cả thổ sản đầu mùa người ta dâng cho Ðức Chúa đều là của ngươi; trong nhà ngươi hễ ai thanh sạch thì được hưởng. <sup>14</sup> Tất cả những gì là huý vật thánh trong Ít-ra-en đều được dành cho ngươi. <sup>15</sup> Tất cả các con đầu lòng của bất cứ xác phàm nào, dù là người hay súc vật, mà người ta dâng cho Ðức Chúa, đều được dành cho ngươi; nhưng ngươi phải cho chuộc lại con đầu lòng của người ta, và con đầu lòng của súc vật không sạch, ngươi cũng cho chuộc lại. <sup>16</sup> Ngươi sẽ cho chuộc khi nó được một tháng; tiền chuộc ngươi sẽ ấn định là mười lăm chỉ bạc, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện. <sup>17</sup> Nhưng bò, chiên và dê đầu lòng, ngươi sẽ không cho chuộc lại. Chúng là vật thánh, nên máu chúng, ngươi sẽ đổ trên bàn thờ, còn mỡ thì sẽ đốt làm hoả tế thành hương thơm làm đẹp lòng Ðức Chúa, <sup>18</sup> và thịt thì để cho ngươi dùng, cũng như thịt sườn đã được tiến dâng theo nghi thức, và thịt đùi bên phải đều thuộc về ngươi. <sup>19</sup> Tất cả các phần trích dâng trong các của lễ thánh mà con cái Ít-ra-en dâng Ðức Chúa, Ta đều ban cho ngươi cũng như cho con trai con gái ngươi, chiếu theo một quy luật vĩnh viễn. Ðó là giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Ðức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa phán với ông A-ha-ron: &#8220;Ðất chia cho chúng, ngươi sẽ không có phần; ngươi không có gia nghiệp ở giữa chúng, và chính Ta là gia nghiệp của ngươi giữa con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðây Ta ban cho con cái Lê-vi làm gia nghiệp tất cả thuế thập phân dân Ít-ra-en nộp, vì họ có công phục dịch Lều Hội Ngộ. <sup>22</sup> Con cái Ít-ra-en sẽ không được tới gần Lều Hội Ngộ nữa, kẻo phải mang tội đáng chết. <sup>23</sup> Chính các thầy Lê-vi sẽ phục dịch Lều Hội Ngộ và phải mang lấy trách nhiệm về lầm lỗi của mình. Ðây là quy tắc vĩnh viễn cho dòng dõi các ngươi; giữa con cái Ít-ra-en, các thầy Lê-vi sẽ không có gia nghiệp, <sup>24</sup> vì các thuế thập phân con cái Ít-ra-en trích dâng Ðức Chúa, Ta đã ban cho các thầy Lê-vi làm gia nghiệp. Bởi thế Ta mới bảo chúng rằng: giữa con cái Ít-ra-en, chúng sẽ không có gia nghiệp.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thuế thập phân</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>26</sup> &#8220;Ngươi hãy nói với các thầy Lê-vi và bảo họ:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Khi các ngươi thu thuế thập phân của con cái Ít-ra-en nộp, thuế mà Ta đã ban cho các ngươi làm gia nghiệp, thì các ngươi sẽ dành phần trích dâng cho Ðức Chúa, tức là một phần mười thuế thập phân. <sup>27</sup> Của lễ các ngươi dâng đó được kể là phần trích dâng, giống như người ta dâng lúa mì lấy từ ngoài sân và rượu mới lấy từ trong bồn. <sup>28</sup> Như vậy là cả các ngươi nữa, các ngươi cũng dành phần trích dâng Ðức Chúa, từ thuế thập phân mà các ngươi thu của con cái Ít-ra-en. Phần trích dâng cho Ðức Chúa, các ngươi sẽ trao cho tư tế A-ha-ron. <sup>29</sup> Tất cả các món quà người ta biếu, các ngươi phải trích phần dâng cho Ðức Chúa, phần thánh ấy phải là phần tốt nhất.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ngươi hãy nói với họ rằng: Khi các ngươi đã trích dâng phần tốt nhất rồi, thì phần còn lại sẽ được kể là của các ngươi, các thầy Lê-vi, giống như hoa lợi lấy từ ngoài sân và như rượu mới lấy từ trong bồn. <sup>31</sup> Các ngươi cũng như gia đình các ngươi có thể ăn của ấy ở bất cứ nơi nào. Ðó là thù lao của các ngươi, vì các ngươi phục dịch trong Lều Hội Ngộ. <sup>32</sup> Về điểm này các ngươi sẽ không mắc tội gì một khi đã trích dâng phần tuyệt hảo như thế. Nhưng các ngươi chớ xúc phạm đến của thánh con cái Ít-ra-en dâng, kẻo phải chết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tro của bò cái màu hung</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: <sup>2</sup> &#8220;Ðây là quy tắc trong luật mà Ðức Chúa đã truyền: Ngươi hãy bảo con cái Ít-ra-en đưa tới cho ngươi một con bò cái màu hung đỏ, nguyên tuyền, toàn vẹn và chưa bao giờ mang ách. <sup>3</sup> Các ngươi sẽ trao nó cho tư tế E-la-da. Người ta sẽ đưa nó ra ngoài trại và sát tế nó trước mặt ông. <sup>4</sup> Tư tế E-la-da sẽ lấy ngón tay nhúng vào máu nó mà rảy bảy lần về phía mặt tiền Lều Hội Ngộ. <sup>5</sup> Người ta sẽ thiêu con bò trước mắt ông; da, thịt, máu và phân nó đều đốt hết. <sup>6</sup> Và tư tế sẽ lấy gỗ bá hương, hương thảo và chỉ màu đỏ thẫm mà quăng vào giữa con bò đang cháy. <sup>7</sup> Sau đó tư tế phải giặt áo, và lấy nước rửa mình cho sạch, rồi trở về trại, tư tế sẽ bị nhiễm uế cho tới chiều. <sup>8</sup> Người thiêu con bò ấy cũng phải lấy nước giặt áo và rửa mình cho sạch, và cũng bị nhiễm uế cho tới chiều. <sup>9</sup> Một người nào thanh sạch sẽ hốt tro con bò ấy, để ở một nơi thanh sạch, bên ngoài trại. Ðối với cộng đồng con cái Ít-ra-en, thì tro đó được dự trữ dùng làm nước tẩy uế. Ðó là nghi thức tạ tội. <sup>10</sup> Người đã hốt tro con bò cũng phải giặt áo, và cũng bị nhiễm uế cho tới chiều. Ðối với con cái Ít-ra-en cũng như với ngoại kiều trú ngụ giữa chúng, thì đó là một quy tắc vĩnh viễn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trường hợp nhiễm uế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ai đụng vào người chết, bất cứ người chết này là ai, đều bị nhiễm uế trong bảy ngày liền. <sup>12</sup> Ngày thứ ba và thứ bảy, người đó sẽ lấy nước nói trên mà thanh tẩy mình và sẽ được sạch; nếu người đó không thanh tẩy mình ngày thứ ba và thứ bảy, thì sẽ không được sạch. <sup>13</sup> Ai đụng vào người chết -thi thể của một người đã chết- mà không thanh tẩy mình, người đó làm cho Nhà Tạm của Ðức Chúa bị nhiễm uế, người như thế phải bị diệt trừ khỏi Ít-ra-en, vì nó đã không được dội nước tẩy uế. Nó đã bị nhiễm uế, và ô uế vẫn tồn tại nơi nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðây là luật phải giữ khi có người chết trong lều: ai vào lều cũng như mọi người đang ở trong lều, đều bị nhiễm uế trong bảy ngày liền. <sup>15</sup> Mọi bình lọ để mở, không được cột kín, đều bị nhiễm uế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Bất cứ ai ở ngoài đồng đụng vào một người bị gươm đâm, một tử thi, hoặc xương người hay là mồ mả, đều bị nhiễm uế trong bảy ngày liền.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nghi thức dùng nước tẩy uế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðể thanh tẩy người bị nhiễm uế, người ta sẽ lấy một chút tro của con vật đã được hoả tế làm lễ tạ tội, mà pha với nước lã trong một chiếc bình. <sup>18</sup> Rồi một người còn thanh sạch lấy nhành hương thảo nhúng vào nước mà rảy lên lều, lên tất cả các vật dụng cùng mọi người ở đó, lên kẻ đã đụng vào xương cốt, vào người bị gươm đâm, hoặc tử thi hay là mồ mả. <sup>19</sup> Ngày thứ ba và thứ bảy, người thanh sạch phải rảy nước lên người bị nhiễm uế; và ngày thứ bảy người bị nhiễm uế sẽ được sạch tội. Người này phải lấy nước giặt áo và tắm rửa; đến chiều nó sẽ được sạch. <sup>20</sup> Thế nhưng kẻ nào đã bị nhiễm uế mà không chịu tẩy uế, thì nó sẽ bị diệt trừ khỏi công hội, vì nó đã làm cho nơi thánh của Ðức Chúa bị nhiễm uế. Nó đã không được dội nước tẩy uế, nên nó vẫn còn bị nhiễm uế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho chúng. Người nào rảy nước tẩy uế thì phải giặt áo mình; ai đụng vào nước đó sẽ bị nhiễm uế đến chiều. <sup>22</sup> Tất cả những gì mà người bị nhiễm uế đụng vào đều bị nhiễm uế; người nào đụng vào những cái đó cũng bị nhiễm uế cho đến chiều.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">VII. Từ Ca-Ðê Tới Mô-Áp</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mạch nước Mơ-ri-va</strong> (Xh 17: 1-7)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en đến sa mạc Xin vào tháng giêng, và dân ở lại Ca-đê. Bà Mi-ri-am đã qua đời và được chôn cất tại đây.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Cộng đồng không có nước, họ bèn tụ tập phản đối ông Mô-sê và ông A-ha-ron. <sup>3</sup> Dân gây chuyện với ông Mô-sê, họ nói: &#8220;Phải chi lúc anh em chúng tôi tắt thở trước mặt Ðức Chúa, thì chúng tôi cũng tắt thở luôn cho rồi. <sup>4</sup> Hai ông đưa đại hội của Ðức Chúa vào sa mạc này để làm gì? Có phải để chúng tôi và súc vật của chúng tôi chết ở đây hay không? <sup>5</sup> Hai ông đưa chúng tôi từ Ai-cập lên để làm gì? Có phải để đưa chúng tôi vào chốn độc địa này chăng? Ðây không phải là nơi để gieo vãi, không vả, không nho, không lựu, không cả nước uống.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Mô-sê và ông A-ha-ron rời đại hội đến cửa Lều Hội Ngộ, các ông sấp mặt xuống đất. Bấy giờ vinh quang Ðức Chúa hiện ra với các ông. <sup>7</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>8</sup> &#8220;Hãy cầm lấy cây gậy, và cùng với A-ha-ron, anh ngươi, triệu tập cộng đồng lại. Trước mặt chúng, các ngươi sẽ nói với tảng đá và chúng sẽ cho nước; từ tảng đá, ngươi sẽ làm cho nước chảy ra cho chúng, và ngươi sẽ cho cộng đồng và súc vật của chúng uống.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ông Mô-sê cầm lấy cây gậy ở trước nhan Ðức Chúa, như Người đã truyền cho ông. <sup>10</sup> Ông Mô-sê và ông A-ha-ron triệu tập đại hội trước tảng đá; ông Mô-sê nói với họ: &#8220;Nghe đây, hỡi quân phản nghịch! Từ tảng đá này, chúng tôi có thể làm cho nước chảy ra cho các người được không?&#8221; <sup>11</sup> Ông Mô-sê giơ tay, lấy gậy đập vào tảng đá hai lần; nước trào ra lai láng cho cộng đồng và súc vật uống.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Trừng phạt ông Mô-sê và ông A-ha-ron</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Bấy giờ Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: &#8220;Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để biểu dương sự thánh thiện của Ta trước mắt con cái Ít-ra-en, nên các ngươi sẽ không được đưa đại hội này vào đất Ta ban cho chúng.&#8221; <sup>13</sup> Ðó là mạch nước Mơ-ri-va &#8211; nghĩa là gây chuyện &#8211; nơi con cái Ít-ra-en đã gây chuyện với ÐỨC CHÚA, và Người đã biểu dương sự thánh thiện của Người giữa họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ê-đôm không cho mượn đường</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Từ Ca-đê ông Mô-sê sai sứ giả đến nói với vua Ê-đôm rằng: &#8220;Bào huynh của ngài là Ít-ra-en xin thưa với ngài như sau: ngài biết tất cả những nỗi khốn khó chúng tôi đã gặp phải; <sup>15</sup> cha ông chúng tôi đã xuống Ai-cập và chúng tôi đã lưu lại Ai-cập lâu dài như thế nào; rồi những người Ai-cập đã hành hạ chúng tôi cũng như cha ông chúng tôi làm sao; <sup>16</sup> chúng tôi đã kêu lên Ðức Chúa và Người đã nghe tiếng chúng tôi và đã sai thần sứ đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập. Và đây, hiện chúng tôi đang ở Ca-đê, một thành sát ranh giới của Ngài. <sup>17</sup> Vậy xin để chúng tôi đi qua đất của ngài. Chúng tôi sẽ không băng qua ruộng rẫy, vườn nho, không uống nước giếng, nhưng sẽ cứ vương lộ mà đi, không rẽ bên phải hay bên trái, cho tới khi ra khỏi biên giới của ngài.&#8221; <sup>18</sup> Nhưng Ê-đôm trả lời: &#8220;Ngươi không được đi qua đất của ta; nếu không, ta sẽ ra ứng chiến với ngươi.&#8221; <sup>19</sup> Con cái Ít-ra-en đáp lại: &#8220;Chúng tôi sẽ cứ quan lộ mà lên; và nếu chúng tôi và đàn vật của chúng tôi có uống nước của ngài, thì chúng tôi sẽ tính sòng phẳng; có chuyện gì đâu, chúng tôi chỉ đi bộ qua thôi.&#8221; <sup>20</sup> Ê-đôm nói: &#8220;Không được&#8221;, rồi đưa quân đông đảo và võ trang hùng hậu ra chặn đường. <sup>21</sup> Vì Ê-đôm quyết từ chối không cho Ít-ra-en đi qua lãnh thổ của mình, nên Ít-ra-en đã tránh con đường đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông A-ha-ron qua đời</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Từ Ca-đê, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en lên đường, đi vào vùng núi Ho. <sup>23</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên núi Ho, giáp ranh giới xứ Ê-đôm, rằng: <sup>24</sup> &#8220;A-ha-ron sẽ về sum họp với tổ tiên; nó sẽ không được vào đất Ta đã ban cho con cái Ít-ra-en, bởi vì các ngươi đã cưỡng lại lệnh Ta bên mạch nước Mơ-ri-va. <sup>25</sup> Ngươi hãy gọi A-ha-ron và con của nó là E-la-da lại, và đưa chúng lên núi Ho. <sup>26</sup> Ngươi sẽ cởi phẩm phục của A-ha-ron, mặc cho E-la-da con nó; A-ha-ron sẽ về sum họp với tổ tiên và sẽ chết tại đó.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Ông Mô-sê đã làm như Ðức Chúa truyền, và họ lên núi Ho trước mắt toàn thể cộng đồng. <sup>28</sup> Ông Mô-sê cởi phẩm phục của ông A-ha-ron, mặc cho con ông này là E-la-da. Ông A-ha-ron đã qua đời tại đó, trên đỉnh núi. Còn ông Mô-sê và ông E-la-da thì xuống núi. <sup>29</sup> Khi toàn thể cộng đồng hay biết ông A-ha-ron qua đời, thì cả nhà Ít-ra-en đã khóc thương ông ba mươi ngày.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm Khoóc-ma</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Vua A-rát, người Ca-na-an, cư ngụ tại Ne-ghép, nghe biết Ít-ra-en theo đường A-tha-rim mà tới, thì đã tấn công Ít-ra-en và bắt được một số tù binh. <sup>2</sup> Bấy giờ Ít-ra-en đã khấn với Ðức Chúa lời khấn như sau: &#8220;Nếu Ngài trao dân này vào tay con, con sẽ tru diệt các thành của nó.&#8221; <sup>3</sup> Ðức Chúa đã nhận lời Ít-ra-en mà trao người Ca-na-an cho họ, và họ đã tru diệt chúng cùng với các thành của chúng. Người ta đã đặt tên cho nơi đó là Khoóc-ma.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con rắn đồng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Từ núi Ho, họ lên đường theo đường Biển Sậy, vòng qua lãnh thổ Ê-đôm; trong cuộc hành trình qua sa mạc, dân Ít-ra-en mất kiên nhẫn. <sup>5</sup> Họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê rằng: &#8220;Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Bấy giờ Ðức Chúa cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết. <sup>7</sup> Dân đến nói với ông Mô-sê: &#8220;Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách Ðức Chúa và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu Ðức Chúa để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi.&#8221; Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân. <sup>8</sup> Ðức Chúa liền nói với ông: &#8220;Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.&#8221; <sup>9</sup> Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những chặng đường sang hữu ngạn sông Gio-đan</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Con cái Ít-ra-en đã lên đường và đóng trại ở Ô-vốt. <sup>11</sup> Rồi họ lại rời Ô-vốt lên đường và đóng trại ở I-giê Ha A-va-rim trong sa mạc, đối diện với Mô-áp, ở phía đông. <sup>12</sup> Từ đó họ lên đường và đóng ở suối De-rét. <sup>13</sup> Từ đây họ lên đường và đóng trại ở bên kia suối Ác-nôn. Suối này nằm trong sa mạc, khởi từ biên giới E-mô-ri. Vì suối Ác-nôn là biên giới Mô-áp phân ranh Mô-áp với E-mô-ri. <sup>14</sup> Bởi thế có lời trong cuốn &#8220;Chiến sử của Ðức Chúa&#8221; rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ðánh chiếm Va-hếp tại Xu-pha, đánh chiếm luôn suối Ác-nôn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> cả triền suối chạy dài tới khu vực A, dọc theo biên giới Mô-áp.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Và từ đó họ đi tới Bơ-e.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðây chính là giếng mà Ðức Chúa đã nói đến, khi phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy tập họp dân lại, và Ta sẽ ban nước cho chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Bấy giờ Ít-ra-en xướng lên bài ca này:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Vọt lên đi nào, mạch giếng ơi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các bạn hãy ca mừng giếng nước!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Giếng xưa kia bậc thủ lãnh đã đào,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hàng quyền quý của dân đã khơi</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">bằng phủ việt, bằng quyền trượng các ngài!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Từ Mát-ta-na tới Na-kha-li-ên, và từ Na-kha-li-ên tới Ba-mốt. <sup>20</sup> Rồi từ Ba-mốt tới thung lũng nằm trong vùng quê Mô-áp, gần đỉnh Pít-ga, đối diện với sa mạc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chiếm miền hữu ngạn sông Gio-đan</strong> (Ðnl 2:26-3:11)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Bấy giờ Ít-ra-en sai các sứ giả đến thưa với Xi-khôn, vua dân E-mô-ri, rằng: <sup>22</sup> &#8220;Xin để tôi đi qua đất của ngài; tôi sẽ không băng qua ruộng rẫy, vườn nho, không uống nước giếng; nhưng sẽ cứ vương lộ mà đi, cho tới khi ra khỏi biên giới của ngài.&#8221; <sup>23</sup> Nhưng vua Xi-khôn không cho Ít-ra-en băng qua bờ cõi của ông, lại còn tập họp toàn dân, ra chặn đường Ít-ra-en trong sa mạc. Tới Gia-hát, ông giao chiến với Ít-ra-en. <sup>24</sup> Ít-ra-en vung kiếm giết họ và chiếm đất từ Ác-nôn cho tới Giáp-bốc, đến tận biên giới con cái Am-mon. Gia-de là biên giới con cái Am-mon.25 Ít-ra-en đã chiếm lấy tất cả các thành đó và lưu lại trong các thành của người E-mô-ri ở Khét-bôn và các thị trấn phụ thuộc. <sup>26</sup> Khét-bôn quả là kinh thành của Xi-khôn, vua dân E-mô-ri, người đã từng giao tranh với đời vua trước của Mô-áp và chiếm toàn bộ lãnh thổ của vua này cho tới Ác-nôn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Vì thế, thi nhân có lời rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Hãy đến Khét-bôn mà xây dựng lại,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cho kinh thành Xi-khôn được củng cố!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Vì lửa cháy bốc ra từ Khét-bôn và hoả tai từ phố phường Xi-khôn</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">đã huỷ diệt thành A của Mô-áp</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và bọn lãnh chúa trên các điểm cao suối Ác-nôn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Khốn cho mi, Mô-áp hỡi! Này dân Cơ-mốt, ngươi mạt vận rồi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Con trai ngươi bị đuổi xua chạy trốn,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">con gái ngươi bị nộp cho Xi-khôn, vua E-mô-ri.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ruộng rẫy của chúng bị huỷ hoại từ Khét-bôn cho tới Ði-vôn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chúng tôi đã nổi lửa đốt phá từ Nô-phác cho tới Mê-đơ-va.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ít-ra-en đã định cư trên đất người E-mô-ri.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ông Mô-sê sai người đi do thám Gia-de: họ đã chiếm các thị trấn phụ thuộc và trục xuất người E-mô-ri cư ngụ tại đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Rồi họ đổi hướng và lên đường đi Ba-san. Vua Ba-san là Ốc, cùng toàn thể dân của ông ra chặn đường, để giao chiến với họ tại Ét-re-i. <sup>34</sup> Nhưng Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ðừng sợ nó, vì Ta đã trao nó cùng tất cả dân cư và đất đai của nó vào tay ngươi. Ngươi hãy xử với nó như đã xử với Xi-khôn, vua dân E-mô-ri ở Khét-bôn.&#8221; <sup>35</sup> Thế là họ đánh bại vua ấy, con cái và toàn dân ông, không để sót một người nào, và họ đã chiếm lấy đất của ông.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Sau đó con cái Ít-ra-en lại lên đường và đóng trại ở thảo nguyên Mô-áp, bên kia sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Vua Mô-áp cầu cứu ông Bi-lơ-am</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Vua Ba-lác, con vua Xíp-po, đã thấy tất cả những gì Ít-ra-en gây cho người E-mô-ri. <sup>3</sup> Người Mô-áp khiếp sợ trước đám dân đó, vì họ quá đông.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Mô-áp kinh hãi phải đối đầu với con cái Ít-ra-en.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Mô-áp nói với các kỳ mục Ma-đi-an rằng: &#8220;Này đám người ấy sẽ ngốn hết chung quanh chúng ta, như bò ngốn cỏ ngoài đồng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vua liền sai các sứ giả đến mời Bi-lơ-am, con của Bơ-o, ở Pơ-tho, gần sông Cả, trong đất của con cái Am-mon. Vua nói: &#8220;Này, có một dân đã ra khỏi Ai-cập, lan tràn khắp xứ và hiện đang đóng trại đối diện với ta. <sup>6</sup> Bây giờ xin ông đến nguyền rủa dân đó cho ta, vì nó mạnh hơn ta. May ra nhờ thế ta có thể đánh bại được nó và đuổi nó ra khỏi lãnh thổ của ta. Vì ta biết kẻ nào được ông chúc phúc thì được phúc và kẻ nào bị ông nguyền rủa thì mắc hoạ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Các kỳ mục Mô-áp và các kỳ mục Ma-đi-an đã lên đường, cầm theo tiền thù lao cho lời sấm; họ tới gặp ông Bi-lơ-am và chuyển tới ông lời của vua Ba-lác. <sup>8</sup> Ông nói với họ: &#8220;Mời các ông qua đêm ở đây, rồi tôi sẽ trả lời cho các ông theo như Ðức Chúa nói với tôi.&#8221; Vậy các thủ lãnh Mô-áp đã ở lại với ông Bi-lơ-am. <sup>9</sup> Thiên Chúa đến với ông Bi-lơ-am và phán rằng: &#8220;Những kẻ đang ở với ngươi là ai đó?&#8221; <sup>10</sup> Ông Bi-lơ-am thưa lại với Thiên Chúa: &#8220;Ba-lác, con của Xíp-po, vua Mô-áp, đã sai họ đến nói với tôi rằng: <sup>11</sup> Này, đám dân ra khỏi Ai-cập nay đã lan tràn khắp xứ; xin ông đến nguyền rủa nó cho ta. May ra nhờ thế ta có thể giao tranh với nó và đuổi nó đi.&#8221; <sup>12</sup> Bấy giờ Thiên Chúa phán bảo ông Bi-lơ-am: &#8220;Ngươi không được đi với chúng! Không được nguyền rủa dân đó, vì nó đã được chúc phúc.&#8221; <sup>13</sup> Sáng hôm sau ông Bi-lơ-am trỗi dậy và nói với các thủ lãnh vua Ba-lác đã sai đến, rằng: &#8220;Các ông hãy trở về xứ các ông; Ðức Chúa đã từ chối không để cho tôi đi với các ông.&#8221; <sup>14</sup> Vậy các thủ lãnh Mô-áp trỗi dậy, trở về với vua Ba-lác và nói: &#8220;Ông Bi-lơ-am đã từ chối không chịu cùng đến với chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Một lần nữa vua Ba-lác lại sai các thủ lãnh đông hơn và có thế giá hơn những người trước. <sup>16</sup> Họ đến gặp ông Bi-lơ-am và thưa rằng: &#8220;Vua Ba-lác, con của vua Xíp-po nói thế này: Ông đừng ngại đến với ta; <sup>17</sup> chắc chắn ta sẽ hết sức trọng đãi ông, và tất cả những gì ông bảo, ta sẽ làm; ông cứ đến nguyền rủa dân ấy giúp ta.&#8221; <sup>18</sup> Nhưng ông Bi-lơ-am trả lời và nói với bầy tôi vua Ba-lác rằng: &#8220;Vua Ba-lác có cho tôi một nhà đầy bạc đầy vàng, tôi cũng chẳng làm gì trái lệnh Ðức Chúa, Thiên Chúa của tôi được, dù việc lớn hay việc nhỏ. <sup>19</sup> Nhưng bây giờ, cả các ông nữa, mời các ông cũng nghỉ đêm ở đây, và tôi sẽ biết Ðức Chúa có phán thêm điều gì với tôi không.&#8221; <sup>20</sup> Ðêm ấy Thiên Chúa đến với ông Bi-lơ-am và phán bảo ông: &#8220;Những người ấy đến, không phải để gọi ngươi đó sao? Cứ trỗi dậy, đi với chúng. Nhưng ngươi chỉ được làm điều Ta bảo ngươi.&#8221; <sup>21</sup> Sáng ngày, ông Bi-lơ-am trỗi dậy, thắng con lừa cái của mình và lên đường với các thủ lãnh Mô-áp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Con lừa cái của ông Bi-lơ-am</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa bừng lên vì ông đã ra đi, và thần sứ của Ðức Chúa đứng trên đường chận lối ông đi. Ông cỡi con lừa cái của mình, có hai tiểu đồng đi theo. <sup>23</sup> Khi con lừa thấy thần sứ của Ðức Chúa đứng trên đường, gươm trần trong tay, thì nó tránh đường, đi xuống ruộng. Ông Bi-lơ-am đánh con lừa cho nó lên trên đường.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Bấy giờ thần sứ của Ðức Chúa đứng chặn tại một đường mòn giữa các vườn nho, tả hữu có tường. <sup>25</sup> Con lừa cái trông thấy thần sứ của Ðức Chúa thì đi ép vào tường khiến chân ông Bi-lơ-am bị cọ xát. Ông lại đánh nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Thần sứ của Ðức Chúa lại đi tới và đứng ở một nơi chật hẹp đến nỗi không còn chỗ tránh qua bên tả bên hữu. <sup>27</sup> Con lừa trông thấy thần sứ của Ðức Chúa, liền nằm bẹp xuống bên dưới ông Bi-lơ-am. Ông Bi-lơ-am nổi nóng lại dùng gậy đánh con lừa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Bấy giờ Ðức Chúa liền mở miệng con lừa; nó nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Tôi đã làm gì ông, mà ông lại đánh tôi những ba lần?&#8221; <sup>29</sup> Ông Bi-lơ-am nói với con lừa: &#8220;Vì mày đã ngạo tao. Tao mà có sẵn chiếc gươm trong tay, thì tao đã giết mày rồi!&#8221; <sup>30</sup> Con lừa nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Tôi không phải là con lừa cái của ông, mà ông đã cỡi mãi cho tới ngày hôm nay sao? Tôi có quen làm như vậy với ông bao giờ chưa?&#8221; Ông đáp: &#8220;Chưa bao giờ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Bấy giờ Ðức Chúa mới mở mắt cho ông Bi-lơ-am thấy thần sứ của Ðức Chúa trên đường, gươm trần trong tay. Ông quỳ xuống, sấp mặt sát đất. <sup>32</sup> Thần sứ của Ðức Chúa nói với ông: &#8220;Tại sao ngươi đánh con lừa của ngươi những ba lần? Này, chính Ta đứng ra chặn đường ngươi, vì trước mặt Ta, con đường này nguy hiểm. <sup>33</sup> Con lừa cái thấy Ta, thì nó đã tránh mặt Ta những ba lần. Giả như nó không tránh mặt Ta, thì chắc chắn Ta đã giết chết ngươi, còn nó thì Ta đã để cho sống.&#8221; <sup>34</sup> Ông Bi-lơ-am thưa với thần sứ của Ðức Chúa: &#8220;Tôi đã trót phạm tội, vì tôi không biết là Ngài đứng chặn đường không cho tôi đi. Bây giờ nếu Ngài thấy là không được, thì tôi sẽ quay về nhà.&#8221; <sup>35</sup> Thần sứ của Ðức Chúa nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Ngươi cứ đi với các người ấy; nhưng ngươi chỉ được nói điều Ta bảo ngươi.&#8221; Thế là ông Bi-lơ-am cùng đi với các thủ lãnh của vua Ba-lác.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Bi-lơ-am và vua Ba-lác</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>36</sup> Khi ông Ba-lác nghe tin ông Bi-lơ-am tới, thì ra đón ông tại kinh thành Mô-áp, trên ranh giới Ác-nôn, ở điểm chót của ranh giới. <sup>37</sup> Vua Ba-lác nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Nào tôi đã chẳng cho người đến mời ông sao? Tại sao ông lại không đến với tôi? Dễ thường tôi không đủ khả năng trọng đãi ông?&#8221; <sup>38</sup> Ông Bi-lơ-am thưa lại với vua Ba-lác: &#8220;Này tôi đã đến với ông đây. Nhưng tôi có thể nói gì bây giờ? Lời nào Thiên Chúa đặt vào miệng tôi thì tôi nói thôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Ông Bi-lơ-am cùng đi với vua Ba-lác; họ tới Kia-giát Khu-xốt. <sup>40</sup> Vua Ba-lác sát tế bò chiên và gửi biếu ông Bi-lơ-am và các thủ lãnh đang ở với ông này. <sup>41</sup> Sáng hôm sau vua Ba-lác mời ông Bi-lơ-am tới, và đưa ông lên Ba-mốt Ba-an; từ đây ông nhìn thấy phần cuối trại của dân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Bi-lơ-am thưa với vua Ba-lác: &#8220;Xin xây cho tôi bảy bàn thờ ngay tại đây, liệu ở đây cho tôi bảy con bò mộng và bảy con cừu đực.&#8221; <sup>2</sup> Vua Ba-lác làm như ông Bi-lơ-am nói. Và vua Ba-lác cùng ông Bi-lơ-am dâng một con bò mộng và một con cừu đực tại mỗi bàn thờ. <sup>3</sup> Ông Bi-lơ-am thưa với vua Ba-lác: &#8220;Xin ngài đứng cạnh lễ toàn thiêu của ngài; còn tôi, tôi sẽ đi. Có khi Ðức Chúa sẽ hiện ra cho tôi gặp Người; và Người cho tôi thấy gì, tôi sẽ tỏ cho ngài biết.&#8221; Và ông đi lên một ngọn đồi hoang.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lời sấm của Bi-lơ-am</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Thiên Chúa đón gặp ông Bi-lơ-am, và ông thưa với Người: &#8220;Tôi đã sắp đặt bảy bàn thờ và đã dâng một con bò mộng và một con cừu đực tại mỗi bàn thờ.&#8221; <sup>5</sup> Bấy giờ Ðức Chúa đặt một lời vào miệng ông Bi-lơ-am, và bảo ông rằng: &#8220;Hãy trở về với Ba-lác và nói như sau.&#8221; <sup>6</sup> Ông trở về với vua, thì này vua đang đứng cạnh lễ toàn thiêu cùng với tất cả các thủ lãnh Mô-áp. <sup>7</sup> Ông cất tiếng đọc bài thơ của mình như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Từ A-ram, Ba-lác vua Mô-áp đã cho mời tôi đến</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ các vùng đồi núi phía đông:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Hãy đến mà trù Gia-cóp cho ta, hãy đến mà rủa Ít-ra-en!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Làm sao tôi trù được kẻ Thượng Ðế không trù?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Làm sao tôi rủa được kẻ Ðức Chúa không rủa?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Thật ra, tôi đã thấy nó từ các đỉnh núi cao,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">từ các ngọn đồi, tôi đã nhìn ngắm nó:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nó là một dân được tách biệt;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">không bị xếp đồng hàng với chư dân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ai đếm được bụi đất của Gia-cóp?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai điểm được một phần tư của Ít-ra-en?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ước chi tôi được chết cái chết của người công chính,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và tôi được mãn phần như họ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Vua Ba-lác nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Ông làm gì ta thế? Ta đưa ông tới để ông nguyền rủa kẻ thù của ta, thế mà, này ông chỉ chúc phúc thôi!&#8221; <sup>12</sup> Ông trả lời và nói: &#8220;Tôi lại không phải lo nói điều Ðức Chúa đặt vào miệng tôi sao?&#8221; <sup>13</sup> Vua Ba-lác nói với ông: &#8220;Mời ông đi chỗ khác với ta, từ nơi ấy ông sẽ thấy dân; ông sẽ chỉ thấy phần cuối của nó, chứ không thấy hết đâu. Từ nơi ấy, ông hãy nguyền rủa nó cho ta.&#8221; <sup>14</sup> Bấy giờ vua đưa ông ấy tới cánh đồng Xô-phim, lên ngọn Pít-ga, rồi xây bảy bàn thờ, và dâng một con bò mộng và một con cừu đực làm lễ toàn thiêu tại mỗi bàn thờ. <sup>15</sup> Ông Bi-lơ-am thưa với vua Ba-lác: &#8220;Xin ngài đứng đây, bên các lễ toàn thiêu của ngài, còn tôi sẽ đi gặp Thiên Chúa ở đàng kia.&#8221; <sup>16</sup> Ðức Chúa đón ông Bi-lơ-am, Người đặt vào miệng ông một lời và bảo ông rằng: &#8220;Hãy trở về với Ba-lác và nói như sau.&#8221; <sup>17</sup> Ông trở về với vua, thì này vua đang đứng bên các lễ toàn thiêu của mình cùng với các thủ lãnh Mô-áp. Vua Ba-lác hỏi: &#8220;Ðức Chúa đã nói gì thế?&#8221; <sup>18</sup> Ông Bi-lơ-am cất tiếng đọc bài thơ của mình như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Này vua Ba-lác, đứng dậy mà nghe,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">hãy lắng tai nghe tôi, hỡi con của Xíp-po:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Thiên Chúa không phải là phàm nhân mà gian ngoa được,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cũng chẳng là con người mà phải hối hận.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Phải chăng Người nói mà không làm?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Hay Người phán mà không thực hiện?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Này Chúa bắt tôi phải chúc phúc,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tôi sẽ chúc phúc mà không tiếc lời.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Tôi đã không thấy gian ác nơi Gia-cóp,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cũng chẳng gặp áp bức trong Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðức Chúa, Thiên Chúa của nó, hằng kề bên,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tiếng &#8220;vạn tuế Ðức Vua&#8221; trỗi vang lừng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Thiên Chúa đã đưa nó ra khỏi Ai-cập,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người là sức mạnh của nó tựa sừng trâu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Vì chẳng có tiếng trù hại Gia-cóp,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cũng không có lời rủa chống Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Mà người ta còn nói về Gia-cóp</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và Ít-ra-en: Thiên Chúa làm gì vậy?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Này một dân chỗi dậy như sư tử cái,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">như sư tử đực, nó chồm lên.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nó không nằm xuống khi chưa nuốt mồi,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">chưa uống máu những người nó đã giết.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Vua Ba-lác nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Nếu ông không nguyền rủa nó được, thì ít ra đừng chúc phúc cho nó!&#8221; <sup>26</sup> Nhưng ông Bi-lơ-am trả lời và nói với vua Ba-lác: &#8220;Tôi đã không thưa với ngài là tôi phải làm tất cả những gì Ðức Chúa phán bảo sao?&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Vua Ba-lác lại nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Ðến đây, ta sẽ đưa ông đi nơi khác, may ra tại đó Thiên Chúa sẽ chấp thuận cho ông nguyền rủa nó cho ta.&#8221; <sup>28</sup> Vua Ba-lác đưa ông Bi-lơ-am lên ngọn Pơ-o, là ngọn núi đối diện với sa mạc. <sup>29</sup> Ông Bi-lơ-am nói với vua Ba-lác: &#8220;Xin xây cho tôi bảy bàn thờ ngay tại đây, liệu ở đây cho tôi bảy con bò mộng và bảy con cừu đực.&#8221; <sup>30</sup> Vua Ba-lác làm như ông Bi-lơ-am nói và ông đã dâng một con bò mộng và một con cừu đực làm lễ toàn thiêu tại mỗi bàn thờ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi ông Bi-lơ-am thấy Ðức Chúa vui lòng chúc phúc cho Ít-ra-en, thì ông không đi tìm lời trù rủa như mấy lần trước, nhưng quay mặt về phía sa mạc. <sup>2</sup> Ông Bi-lơ-am ngước mắt lên và nhìn thấy Ít-ra-en đóng trại theo chi tộc của họ. Thần khí Thiên Chúa ở trên ông, <sup>3</sup> ông liền cất tiếng đọc bài thơ sau đây:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Sấm ngôn của Bi-lơ-am, con Bơ-o,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sấm ngôn của người mắt vẫn mở.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">người ngắm nhìn thị kiến Ðấng Toàn Năng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Hỡi Gia-cóp, lều bạt của ngươi đẹp biết mấy!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Hỡi Ít-ra-en, đẹp biết mấy doanh trại của ngươi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Như thung lũng trải dài, như vườn cạnh bờ sông,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">như lô hội Ðức Chúa đã trồng,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">như hương nam mọc bên dòng nước.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Từ các bồn của nó, nước tràn ra,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và hạt giống nó được tưới dồi dào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vua của nó cao cả hơn A-gác,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và vương quốc nó được tôn vinh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Thiên Chúa đã đưa nó ra khỏi Ai-cập,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người là sức mạnh của nó tựa sừng trâu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nó sẽ nuốt chư dân thù nghịch nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Xương của chúng, nó sẽ nghiền nát tan</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và dùng tên bắn gục quân thù.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nó phục xuống, nằm yên như sư tử.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Nó tựa sư tử cái, ai nào dám tấn công?</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Phúc thay kẻ chúc phúc cho ngươi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Và khốn cho kẻ trù rủa ngươi!&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Vua Ba-lác nổi giận với ông Bi-lơ-am. Vua đập tay và nói với ông Bi-lơ-am: &#8220;Ta đã vời ông đến để ông nguyền rủa quân thù của ta, nhưng này, đã ba lần ông chỉ chúc phúc cho nó. <sup>11</sup> Bây giờ ông hãy về đi. Ta đã nói ta sẽ trọng đãi ông, nhưng này Ðức Chúa không cho ông được trọng đãi.&#8221; <sup>12</sup> Ông Bi-lơ-am thưa vua Ba-lác: &#8220;Tôi đã không nói với các sứ giả ngài sai đến với tôi thế này sao, là <sup>13</sup> vua Ba-lác có cho tôi một nhà đầy bạc đầy vàng, tôi cũng không thể trái lệnh Ðức Chúa, mà tự ý làm điều gì, dù tốt hay xấu; Ðức Chúa nói sao, tôi nói vậy. <sup>14</sup> Bây giờ tôi sắp về với dân tôi. Này, tôi nói cho ngài biết điều mà dân (Ít-ra-en) sẽ làm cho dân ngài trong những ngày gần đây.&#8221; <sup>15</sup> Rồi ông cất tiếng đọc bài thơ của mình như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Sấm ngôn của Bi-lơ-am, con Bơ-o,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sấm ngôn của người mắt vẫn mở.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Sấm ngôn của người nghe các lời Thiên Chúa,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và biết những tư tưởng của Ðấng Tối Cao,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">được Ðấng Toàn Năng cho nhìn linh thị,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">của người ngủ mà mắt vẫn mở trong lúc xuất thần.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">sẽ đập vào màng tang Mô-áp, đánh vỡ sọ tất cả con cái Sết,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> và xâm chiếm Ê-đôm,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">cả Xê-ia cũng bị xâm chiếm nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ít-ra-en sẽ biểu dương sức mạnh,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Gia-cóp sẽ thống trị quân thù,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và tiêu diệt kẻ trốn khỏi thành phố.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi thấy A-ma-lếch, ông cất tiếng đọc câu thơ như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;A-ma-lếch đứng đầu chư dân</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhưng hậu vận nó sẽ muôn đời tận tuyệt.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Khi thấy người Kê-ni, ông cất tiếng đọc câu thơ như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Hiện nay dinh thự ngươi kiên cố,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">và tổ ấm ngươi được đặt trên đá tảng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nhưng Ca-in sẽ phải tiêu vong,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">ngươi sẽ bị Át-sua cầm tù, biết đến khi nao? &#8220;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Và ông cất tiếng đọc câu thơ như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">&#8220;Ôi, khi Thiên Chúa ra tay, ai nào sống nổi!</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Tàu bè từ Kít-tim đến, đàn áp Át-sua, đàn áp Ê-ve,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">nhưng chính nó cũng muôn đời tận tuyệt.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Sau đó ông Bi-lơ-am đứng dậy lên đường về xứ, còn vua Ba-lác cũng đường mình mà đi.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 25 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ít-ra-en tại Pơ-o</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi trú ngụ tại Sít-tim, dân Ít-ra-en bắt đầu dâm đãng với gái Mô-áp. <sup>2</sup> Bọn này rủ rê dân thờ cúng các thần của chúng; dân đã ăn uống và thờ lạy các thần của chúng. <sup>3</sup> Ít-ra-en bán mình cho Ba-an Pơ-o và Ðức Chúa nổi cơn thịnh nộ với họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy đem tất cả các thủ lãnh của dân ra ngoài nắng mà treo lên trước mặt Ðức Chúa, để Ðức Chúa nguôi cơn thịnh nộ với Ít-ra-en.&#8221; <sup>5</sup> Ông Mô-sê nói với các thẩm phán: &#8220;Mỗi người trong anh em hãy giết những kẻ đã bán mình cho Ba-an Pơ-o.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Bỗng một người trong số con cái Ít-ra-en xuất hiện, dẫn theo một gái Ma-đi-an về nhà, ngay trước mắt ông Mô-sê và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en lúc ấy đang khóc lóc tại cửa Lều Hội Ngộ. <sup>7</sup> Thấy vậy, ông Pin-khát, con của E-la-da, cháu tư tế A-ha-ron, liền đứng lên giữa cộng đồng, cầm một chiếc giáo trong tay, <sup>8</sup> đi theo người Ít-ra-en vào tận phòng hắn và đâm cả hai người, gã đàn ông Ít-ra-en và mụ đàn bà kia ngay giữa bụng. Thế là chấm dứt tai ương đe doạ con cái Ít-ra-en. <sup>9</sup> Số người chết trong tai ương đó, là 24,000.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ðức Chúa phán bảo ông Mô-sê rằng: <sup>11</sup> &#8220;Pin-khát con của E-la-da, cháu tư tế A-ha-ron, đã ngăn Ta trút cơn phẫn nộ xuống con cái Ít-ra-en, khi nó cũng nổi ghen như Ta, chống lại bọn người kia. Vì vậy Ta không tiêu diệt con cái Ít-ra-en trong cơn ghen của Ta. <sup>12</sup> Cho nên, ngươi hãy bảo nó: Này, Ta ban cho nó giao ước bình an của Ta. <sup>13</sup> Ðối với nó, cũng như con cháu nó sau này, đó sẽ là giao ước bảo đảm cho nó chức tư tế đời đời, bởi vì nó đã nổi ghen cho Thiên Chúa của nó, và làm cho con cái Ít-ra-en được xá tội.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Người Ít-ra-en đã bị đâm cùng với người đàn bà Ma-đi-an tên là Dim-ri, con của Xa-lu, đứng đầu một gia tộc thuộc Si-mê-ôn. <sup>15</sup> Và người đàn bà Ma-đi-an bị đâm tên là Cót-bi, con gái ông Xua, ông này là thủ lãnh các dòng họ một gia tộc Ma-đi-an.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán bảo ông Mô-sê rằng: <sup>17</sup> &#8220;Hãy tấn công quân Ma-đi-an và giết chúng đi. <sup>18</sup> Vì chúng đã tấn công các ngươi, và dùng mưu mô quỷ quyệt đối với các ngươi trong vụ Pơ-o và vụ Cót-bi, con gái một thủ lãnh Ma-đi-an, chị em của chúng, kẻ đã bị đâm chết ngày xảy ra tai ương trong vụ Pơ-o.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 26 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông E-la-da, con tư tế A-ha-ron rằng: <sup>2</sup> &#8220;Các ngươi hãy kiểm tra toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, từ hai mươi tuổi trở lên, nghĩa là mọi người đến tuổi nhập ngũ trong dân Ít-ra-en.&#8221; <sup>3</sup> Ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã kiểm tra tại thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, <sup>4</sup> những người từ hai mươi tuổi trở lên, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en, khi họ đã ra khỏi đất Ai-cập.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Rưu-vên, trưởng nam của Ít-ra-en. Con cái Rưu-vên: Kha-nốc, thủy tổ thị tộc Kha-nốc; Pa-lu, thủy tổ thị tộc Pa-lu; <sup>6</sup> Khét-rôn, thủy tổ thị tộc Khét-rôn; Các-mi, thủy tổ thị tộc Các-mi. <sup>7</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Rưu-vên. Tổng số người được kiểm là 43,730.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Con cháu Pa-lu: Ê-li-áp. <sup>9</sup> Các con Ê-li-áp là Nơ-mu-ên, Ða-than và A-vi-ram. Chính Ða-than và A-vi-ram, những người được chỉ định trong cộng đồng, đã nổi lên chống ông Mô-sê và ông A-ha-ron, cùng toa rập với Cô-rắc chống lại Ðức Chúa. <sup>10</sup> Ðất đã mở họng nuốt chửng chúng và Cô-rắc, khiến cả bọn phải tiêu vong, và lửa đã thiêu huỷ 250 mạng để làm gương. <sup>11</sup> Thế nhưng con cái Cô-rắc đã không chết.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Con cháu Si-mê-ôn, theo thị tộc của họ: Nơ-mu-ên, thủy tổ thị tộc Nơ-mu-ên; Gia-min, thủy tổ thị tộc Gia-min; Gia-khin, thủy tổ thị tộc Gia-khin; <sup>13</sup> De-rác, thủy tổ thị tộc De-rác; Sa-un, thủy tổ thị tộc Sa-un. <sup>14</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Si-mê-ôn, số người được kiểm tra là 22,000.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Con cháu Gát, theo thị tộc của họ: Xơ-phôn, thủy tổ thị tộc Xơ-phôn; Khác-ghi, thủy tổ thị tộc Khác-ghi; Su-ni, thủy tổ thị tộc Su-ni; <sup>16</sup> Ót-ni, thủy tổ thị tộc Ót-ni; Ê-ri, thủy tổ thị tộc Ê-ri; <sup>17</sup> A-rốt, thủy tổ thị tộc A-rốt; Ác-ê-li, thủy tổ thị tộc Ác-ê-li. <sup>18</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Gát, số người được kiểm tra là 40,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Các con Giu-đa là E và Ô-nan, nhưng E và Ô-nan chết trong đất Ca-na-an. <sup>20</sup> Con cháu Giu-đa theo thị tộc: Sê-la, thủy tổ thị tộc Sê-la; Pe-rét, thủy tổ thị tộc Pe-rét; De-rác, thủy tổ thị tộc De-rác. <sup>21</sup> Con cháu Pe-rét: Khét-rôn, thủy tổ thị tộc Khét-rôn; Kha-mun, thủy tổ thị tộc Kha-mun. <sup>22</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Giu-đa, số người được kiểm tra là 76,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Con cháu Ít-xa-kha theo thị tộc của họ: Tô-la, thủy tổ thị tộc Tô-la; Pu-va, thủy tổ thị tộc Pu-va; <sup>24</sup> Gia-súp, thủy tổ thị tộc Gia-súp; Sim-rôn, thủy tổ thị tộc Sim-rôn. <sup>25</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Ít-xa-kha, số người được kiểm tra là 64,300.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Con cháu Dơ-vu-lun theo thị tộc của họ: Xe-rét, thủy tổ thị tộc Xe-rét; Ê-lôn, thủy tổ thị tộc Ê-lôn; Giác-lơ-ên, thủy tổ thị tộc Giác-lơ-ên. <sup>27</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, số người được kiểm tra là 60,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Con cái Giu-se, theo chi tộc họ: Mơ-na-se và Ép-ra-im. <sup>29</sup> Con cháu Mơ-na-se: Ma-khia, thủy tổ thị tộc Ma-khia; Ma-khia sinh Ga-la-át: Ga-la-át, thủy tổ thị tộc Ga-la-át. <sup>30</sup> Ðây là con cái Ga-la-át: I-e-de, thủy tổ thị tộc I-e-de; Khê-léc, thủy tổ thị tộc Khê-léc. <sup>31</sup> Át-ri-ên, thủy tổ thị tộc Át-ri-ên; Se-khem, thủy tổ thị tộc Se-khem. <sup>32</sup> Sơ-mi-đa, thủy tổ thị tộc Sơ-mi-đa; Khê-phe, thủy tổ thị tộc Khê-phe. <sup>33</sup> Xơ-lóp-khát, con của Khê-phe, không có con trai, chỉ có con gái, và đây là tên các con gái của Xơ-lóp-khát: Mác-la, Nô-a, Khoóc-la, Min-ca và Tia-xa. <sup>34</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Mơ-na-se; số người được kiểm tra là 52,700.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ðây là con cháu Ép-ra-im, theo thị tộc của họ: Su-the-lác, thủy tổ thị tộc Su-the-lác; Be-khe, thủy tổ thị tộc Be-khe; Ta-khan, thủy tổ thị tộc Ta-khan. <sup>36</sup> Và đây là các con cháu Su-the-lác: Ê-ran, thủy tổ thị tộc Ê-ran. <sup>37</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Ép-ra-im, số người được kiểm tra là 32,500. Những người ấy là con cháu Giu-se, theo các thị tộc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Con cháu Ben-gia-min theo thị tộc của họ: Be-la, thủy tổ thị tộc Be-la; Át-bên, thủy tổ thị tộc Át-bên; A-khi-ram, thủy tổ thị tộc A-khi-ram. <sup>39</sup> Sơ-phu-pham, thủy tổ thị tộc Sơ-phu-pham; Khu-pham, thủy tổ thị tộc Khu-pham. <sup>40</sup> Các con của Be-la là: Ác-đơ và Na-a-man; Ác-đơ, thủy tổ thị tộc Ác-đơ; Na-a-man, thủy tổ thị tộc Na-a-man. <sup>41</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Ben-gia-min; số người được kiểm tra là 45,600.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Ðây là con cháu Ðan theo thị tộc của họ: Su-kham, thủy tổ thị tộc Su-kham. Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Ðan được kiểm tra. <sup>43</sup> Tất cả các thị tộc thuộc Su-kham được kiểm tra, số người là 64,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Con cháu A-se theo thị tộc của họ: Gim-na, thủy tổ thị tộc Gim-na; Gít-vi, thủy tổ thị tộc Gít-vi; Bơ-ri-a, thủy tổ thị tộc Bơ-ri-a. <sup>45</sup> Thuộc con cháu Bơ-ri-a: Khe-ve, thủy tổ thị tộc Khe-ve; Man-ki-ên, thủy tổ thị tộc Man-ki-ên. <sup>46</sup> Tên người con gái của A-se là Xa-rác. <sup>47</sup> Ðó là các thị tộc con cháu A-se; số người được kiểm tra là 53,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Con cháu Náp-ta-li theo thị tộc của họ: Giác-xơ-ên, thủy tổ thị tộc Giác-xơ-ên; Gu-ni, thủy tổ thị tộc Gu-ni. <sup>49</sup> Giê-xe, thủy tổ thị tộc Giê-xe; Si-lêm, thủy tổ thị tộc Si-lêm. <sup>50</sup> Ðó là các thị tộc Náp-ta-li, theo các thị tộc của họ; số người được kiểm tra là 45,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>51</sup> Ðây tổng số con cái Ít-ra-en là 601,730.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>53</sup> &#8220;Ðất đai sẽ được phân chia cho những người ấy theo số tên đã ghi. <sup>54</sup> Ðông người thì ngươi sẽ chia cho phần lớn hơn làm gia nghiệp, và ít người thì ngươi sẽ chia cho phần nhỏ hơn làm gia nghiệp; ngươi sẽ cho mỗi chi tộc phần gia nghiệp tương xứng với số người đã được kiểm tra. <sup>55</sup> Nhưng phải bắt thăm để chia đất. Theo tên các chi tộc tổ tiên của chúng mà lãnh phần. <sup>56</sup> Cứ bắt thăm mà lãnh, tuỳ theo đông người hay ít người.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kiểm tra các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>57</sup> Ðây là các thầy Lê-vi đã được kiểm tra theo thị tộc của họ: Ghéc-sôn, thủy tổ thị tộc Ghéc-sôn; Cơ-hát, thủy tổ thị tộc Cơ-hát; Mơ-ra-ri, thủy tổ thị tộc Mơ-ra-ri.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>58</sup> Ðây là các thị tộc thuộc chi tộc Lê-vi: Thị tộc Líp-ni, thị tộc Khép-rôn, thị tộc Mác-li, thị tộc Mu-si, thị tộc Cô-rắc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>59</sup> Tên người vợ của Am-ram là Giô-khe-vét, con gái ông Lê-vi, ông đã sinh bên Ai-cập. Bà đã sinh cho ông Am-ram: A-ha-ron, Mô-sê và người em gái là Mi-ri-am. <sup>60</sup> Ông A-ha-ron sinh ra Na-đáp, A-vi-hu, E-la-da, và I-tha-ma. <sup>61</sup> Na-đáp và A-vi-hu đã chết khi họ dâng lửa phàm trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>62</sup> Số người Lê-vi được kiểm tra, tất cả con trai từ một tháng trở lên, là 23,000 bởi họ đã không được kiểm tra chung với con cái Ít-ra-en, vì không được chung phần gia nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>63</sup> Ðó là những người được ông Mô-sê và tư tế E-la-da kiểm tra, khi các ông kiểm tra con cái Ít-ra-en trong thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô. <sup>64</sup> Không ai trong những người ấy đã được ông Mô-sê và tư tế A-ha-ron kiểm tra, khi các ông kiểm tra con cái Ít-ra-en trong sa mạc Xi-nai. <sup>65</sup> Vì, về những người này, Ðức Chúa đã phán là họ sẽ phải chết trong sa mạc. Bởi vậy, trừ ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, và trừ ông Giô-suê, con ông Nun, thì không còn ai nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">VIII. Quy Ðịnh Mới</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kiểm tra</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">19 Sau tai ương đó,</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 26 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông E-la-da, con tư tế A-ha-ron rằng: <sup>2</sup> &#8220;Các ngươi hãy kiểm tra toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, từ hai mươi tuổi trở lên, nghĩa là mọi người đến tuổi nhập ngũ trong dân Ít-ra-en.&#8221; <sup>3</sup> Ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã kiểm tra tại thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, <sup>4</sup> những người từ hai mươi tuổi trở lên, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en, khi họ đã ra khỏi đất Ai-cập.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Rưu-vên, trưởng nam của Ít-ra-en. Con cái Rưu-vên: Kha-nốc, thủy tổ thị tộc Kha-nốc; Pa-lu, thủy tổ thị tộc Pa-lu; <sup>6</sup> Khét-rôn, thủy tổ thị tộc Khét-rôn; Các-mi, thủy tổ thị tộc Các-mi. <sup>7</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Rưu-vên. Tổng số người được kiểm là 43,730.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Con cháu Pa-lu: Ê-li-áp. <sup>9</sup> Các con Ê-li-áp là Nơ-mu-ên, Ða-than và A-vi-ram. Chính Ða-than và A-vi-ram, những người được chỉ định trong cộng đồng, đã nổi lên chống ông Mô-sê và ông A-ha-ron, cùng toa rập với Cô-rắc chống lại Ðức Chúa. <sup>10</sup> Ðất đã mở họng nuốt chửng chúng và Cô-rắc, khiến cả bọn phải tiêu vong, và lửa đã thiêu huỷ 250 mạng để làm gương. <sup>11</sup> Thế nhưng con cái Cô-rắc đã không chết.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Con cháu Si-mê-ôn, theo thị tộc của họ: Nơ-mu-ên, thủy tổ thị tộc Nơ-mu-ên; Gia-min, thủy tổ thị tộc Gia-min; Gia-khin, thủy tổ thị tộc Gia-khin; <sup>13</sup> De-rác, thủy tổ thị tộc De-rác; Sa-un, thủy tổ thị tộc Sa-un. <sup>14</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Si-mê-ôn, số người được kiểm tra là 22,000.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Con cháu Gát, theo thị tộc của họ: Xơ-phôn, thủy tổ thị tộc Xơ-phôn; Khác-ghi, thủy tổ thị tộc Khác-ghi; Su-ni, thủy tổ thị tộc Su-ni; <sup>16</sup> Ót-ni, thủy tổ thị tộc Ót-ni; Ê-ri, thủy tổ thị tộc Ê-ri; <sup>17</sup> A-rốt, thủy tổ thị tộc A-rốt; Ác-ê-li, thủy tổ thị tộc Ác-ê-li. <sup>18</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Gát, số người được kiểm tra là 40,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Các con Giu-đa là E và Ô-nan, nhưng E và Ô-nan chết trong đất Ca-na-an. <sup>20</sup> Con cháu Giu-đa theo thị tộc: Sê-la, thủy tổ thị tộc Sê-la; Pe-rét, thủy tổ thị tộc Pe-rét; De-rác, thủy tổ thị tộc De-rác. <sup>21</sup> Con cháu Pe-rét: Khét-rôn, thủy tổ thị tộc Khét-rôn; Kha-mun, thủy tổ thị tộc Kha-mun. <sup>22</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Giu-đa, số người được kiểm tra là 76,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Con cháu Ít-xa-kha theo thị tộc của họ: Tô-la, thủy tổ thị tộc Tô-la; Pu-va, thủy tổ thị tộc Pu-va; <sup>24</sup> Gia-súp, thủy tổ thị tộc Gia-súp; Sim-rôn, thủy tổ thị tộc Sim-rôn. <sup>25</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Ít-xa-kha, số người được kiểm tra là 64,300.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Con cháu Dơ-vu-lun theo thị tộc của họ: Xe-rét, thủy tổ thị tộc Xe-rét; Ê-lôn, thủy tổ thị tộc Ê-lôn; Giác-lơ-ên, thủy tổ thị tộc Giác-lơ-ên. <sup>27</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, số người được kiểm tra là 60,500.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Con cái Giu-se, theo chi tộc họ: Mơ-na-se và Ép-ra-im. <sup>29</sup> Con cháu Mơ-na-se: Ma-khia, thủy tổ thị tộc Ma-khia; Ma-khia sinh Ga-la-át: Ga-la-át, thủy tổ thị tộc Ga-la-át. <sup>30</sup> Ðây là con cái Ga-la-át: I-e-de, thủy tổ thị tộc I-e-de; Khê-léc, thủy tổ thị tộc Khê-léc. <sup>31</sup> Át-ri-ên, thủy tổ thị tộc Át-ri-ên; Se-khem, thủy tổ thị tộc Se-khem. <sup>32</sup> Sơ-mi-đa, thủy tổ thị tộc Sơ-mi-đa; Khê-phe, thủy tổ thị tộc Khê-phe. <sup>33</sup> Xơ-lóp-khát, con của Khê-phe, không có con trai, chỉ có con gái, và đây là tên các con gái của Xơ-lóp-khát: Mác-la, Nô-a, Khoóc-la, Min-ca và Tia-xa. <sup>34</sup> Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Mơ-na-se; số người được kiểm tra là 52,700.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ðây là con cháu Ép-ra-im, theo thị tộc của họ: Su-the-lác, thủy tổ thị tộc Su-the-lác; Be-khe, thủy tổ thị tộc Be-khe; Ta-khan, thủy tổ thị tộc Ta-khan. <sup>36</sup> Và đây là các con cháu Su-the-lác: Ê-ran, thủy tổ thị tộc Ê-ran. <sup>37</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Ép-ra-im, số người được kiểm tra là 32,500. Những người ấy là con cháu Giu-se, theo các thị tộc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Con cháu Ben-gia-min theo thị tộc của họ: Be-la, thủy tổ thị tộc Be-la; Át-bên, thủy tổ thị tộc Át-bên; A-khi-ram, thủy tổ thị tộc A-khi-ram. <sup>39</sup> Sơ-phu-pham, thủy tổ thị tộc Sơ-phu-pham; Khu-pham, thủy tổ thị tộc Khu-pham. <sup>40</sup> Các con của Be-la là: Ác-đơ và Na-a-man; Ác-đơ, thủy tổ thị tộc Ác-đơ; Na-a-man, thủy tổ thị tộc Na-a-man. <sup>41</sup> Ðó là các thị tộc con cháu Ben-gia-min; số người được kiểm tra là 45,600.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Ðây là con cháu Ðan theo thị tộc của họ: Su-kham, thủy tổ thị tộc Su-kham. Ðó là các thị tộc thuộc chi tộc Ðan được kiểm tra. <sup>43</sup> Tất cả các thị tộc thuộc Su-kham được kiểm tra, số người là 64,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Con cháu A-se theo thị tộc của họ: Gim-na, thủy tổ thị tộc Gim-na; Gít-vi, thủy tổ thị tộc Gít-vi; Bơ-ri-a, thủy tổ thị tộc Bơ-ri-a. <sup>45</sup> Thuộc con cháu Bơ-ri-a: Khe-ve, thủy tổ thị tộc Khe-ve; Man-ki-ên, thủy tổ thị tộc Man-ki-ên. <sup>46</sup> Tên người con gái của A-se là Xa-rác. <sup>47</sup> Ðó là các thị tộc con cháu A-se; số người được kiểm tra là 53,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Con cháu Náp-ta-li theo thị tộc của họ: Giác-xơ-ên, thủy tổ thị tộc Giác-xơ-ên; Gu-ni, thủy tổ thị tộc Gu-ni. <sup>49</sup> Giê-xe, thủy tổ thị tộc Giê-xe; Si-lêm, thủy tổ thị tộc Si-lêm. <sup>50</sup> Ðó là các thị tộc Náp-ta-li, theo các thị tộc của họ; số người được kiểm tra là 45,400.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>51</sup> Ðây tổng số con cái Ít-ra-en là 601,730.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>53</sup> &#8220;Ðất đai sẽ được phân chia cho những người ấy theo số tên đã ghi. <sup>54</sup> Ðông người thì ngươi sẽ chia cho phần lớn hơn làm gia nghiệp, và ít người thì ngươi sẽ chia cho phần nhỏ hơn làm gia nghiệp; ngươi sẽ cho mỗi chi tộc phần gia nghiệp tương xứng với số người đã được kiểm tra. <sup>55</sup> Nhưng phải bắt thăm để chia đất. Theo tên các chi tộc tổ tiên của chúng mà lãnh phần. <sup>56</sup> Cứ bắt thăm mà lãnh, tuỳ theo đông người hay ít người.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kiểm tra các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>57</sup> Ðây là các thầy Lê-vi đã được kiểm tra theo thị tộc của họ: Ghéc-sôn, thủy tổ thị tộc Ghéc-sôn; Cơ-hát, thủy tổ thị tộc Cơ-hát; Mơ-ra-ri, thủy tổ thị tộc Mơ-ra-ri.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>58</sup> Ðây là các thị tộc thuộc chi tộc Lê-vi: Thị tộc Líp-ni, thị tộc Khép-rôn, thị tộc Mác-li, thị tộc Mu-si, thị tộc Cô-rắc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>59</sup> Tên người vợ của Am-ram là Giô-khe-vét, con gái ông Lê-vi, ông đã sinh bên Ai-cập. Bà đã sinh cho ông Am-ram: A-ha-ron, Mô-sê và người em gái là Mi-ri-am. <sup>60</sup> Ông A-ha-ron sinh ra Na-đáp, A-vi-hu, E-la-da, và I-tha-ma. <sup>61</sup> Na-đáp và A-vi-hu đã chết khi họ dâng lửa phàm trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>62</sup> Số người Lê-vi được kiểm tra, tất cả con trai từ một tháng trở lên, là 23,000 bởi họ đã không được kiểm tra chung với con cái Ít-ra-en, vì không được chung phần gia nghiệp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>63</sup> Ðó là những người được ông Mô-sê và tư tế E-la-da kiểm tra, khi các ông kiểm tra con cái Ít-ra-en trong thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô. <sup>64</sup> Không ai trong những người ấy đã được ông Mô-sê và tư tế A-ha-ron kiểm tra, khi các ông kiểm tra con cái Ít-ra-en trong sa mạc Xi-nai. <sup>65</sup> Vì, về những người này, Ðức Chúa đã phán là họ sẽ phải chết trong sa mạc. Bởi vậy, trừ ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, và trừ ông Giô-suê, con ông Nun, thì không còn ai nữa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 27 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Gia tài cho con gái</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Bấy giờ các con gái của ông Xơ-lóp-khát tiến đến. Ông này là con ông Khê-phe, cháu ông Ga-la-át, chắt ông Ma-khia, chít ông Mơ-na-se, thuộc chi tộc ông Giu-se. Và đây là tên các cô gái đó: Mác-la, Nô-a, Khoóc-la, Min-ca và Tia-xa. <sup>2</sup> Họ đứng trước mặt ông Mô-sê, trước mặt tư tế E-la-da, trước mặt các thủ lãnh và toàn thể cộng đồng, ở cửa Lều Hội Ngộ, và nói: <sup>3</sup> &#8220;Cha chúng tôi đã mất trong sa mạc. Người đã không có chân trong nhóm những kẻ toa rập với nhau chống lại Ðức Chúa, tức là nhóm Cô-rắc. Chỉ vì tội riêng mình mà người đã mất đi, khi chưa có con trai. <sup>4</sup> Tại sao cha chúng tôi lại bị xoá tên khỏi thị tộc của người, vì người không có con trai? Xin cho chúng tôi một phần đất giữa các anh em của cha chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ông Mô-sê trình lên Ðức Chúa trường hợp của họ. <sup>6</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>7</sup> &#8220;Các con gái của Xơ-lóp-khát nói có lý. Ngươi phải cho chúng một phần đất làm gia nghiệp giữa các anh em của cha chúng; ngươi sẽ chuyển cho chúng gia nghiệp của cha chúng. <sup>8</sup> Và ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en: &#8220;Khi một người nào chết mà không có trai, thì anh em sẽ chuyển gia nghiệp của người đó cho con gái người đó. <sup>9</sup> Nếu người đó không có con gái, anh em sẽ trao gia nghiệp cho anh em của người đó. <sup>10</sup> Nếu người đó không có anh em, thì sẽ trao gia nghiệp cho anh em của cha người đó. <sup>11</sup> Còn nếu cha người đó không có anh em, thì sẽ trao gia nghiệp cho thân nhân gần nhất trong thị tộc; người này sẽ làm chủ gia nghiệp đó. Ðối với con cái Ít-ra-en, đó sẽ là một quy tắc pháp lý, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ông Giô-suê làm thủ lãnh cộng đồng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ngươi hãy lên ngọn núi kia của dãy A-va-rim, và hãy nhìn xem miền đất mà Ta ban cho con cái Ít-ra-en. <sup>13</sup> Khi đã nhìn xem rồi, ngươi cũng sẽ về sum họp với gia tiên, như A-ha-ron anh ngươi, <sup>14</sup> vì ở sa mạc Xin, trong lúc cộng đồng chống đối Ta, các ngươi đã chống lại lệnh Ta truyền làm cho nước chảy ra để tỏ bày sự thánh thiện của Ta trước mắt chúng. Ðó là vụ nước Mơ-ri-va ở Ca-đê, trong sa mạc Xin.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông Mô-sê thưa với Ðức Chúa: <sup>16</sup> &#8220;Ước gì Ðức Chúa, là Thiên Chúa ban sinh khí cho mọi xác phàm, đặt một người lãnh đạo cộng đồng. <sup>17</sup> Người ấy sẽ ra vào trước họ và dẫn họ ra vào, để cộng đồng của Ðức Chúa đừng giống như đàn chiên không có mục tử chăn dắt.&#8221; <sup>18</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Ngươi hãy đem theo Giô-suê, con của Nun, là người có thần khí nơi mình, và ngươi sẽ đặt tay trên nó. <sup>19</sup> Ngươi sẽ cho nó đứng trước mặt tư tế E-la-da và trước mặt toàn thể cộng đồng. Ngươi sẽ truyền lệnh cho nó trước mắt chúng. <sup>20</sup> Ngươi sẽ chia cho nó một phần uy quyền của ngươi, để toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en nghe lời nó. <sup>21</sup> Nó sẽ đứng trước mặt tư tế E-la-da. Tư tế sẽ đến trước nhan Ðức Chúa mà xin thẻ xăm u-rim cho nó. Theo lệnh của tư tế, toàn thể cộng đồng, nghĩa là nó và mọi con cái Ít-ra-en, sẽ ra sẽ vào.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông Mô-sê đã làm như Ðức Chúa truyền cho ông: Ông đã đem theo Giô-suê và cho ông này đứng trước mặt tư tế E-la-da và trước mặt toàn thể cộng đồng. <sup>23</sup> Ông đặt tay trên ông Giô-suê và ra lệnh cho ông ấy như Ðức Chúa đã dùng ông Mô-sê mà phán.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 28 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Xác định về các hy lễ</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy ra lệnh cho con cái Ít-ra-en, và nói với chúng lời của Ta:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Vào đúng thời đúng buổi, các ngươi sẽ chăm lo dâng lên Ta lễ vật, lương thực, dưới hình thức hoả tế nghi ngút hương thơm, làm thoả lòng Ta.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ngươi sẽ nói với chúng: Ðây là lễ hoả tế anh em sẽ dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">A. Hy lễ thường nhật </span></strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Xh 29 :38-46)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Mỗi ngày phải dâng làm lễ vật toàn thiêu thường tiến hai con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>4</sup> một con vào lúc sáng, một con vào lúc chập tối. <sup>5</sup> Ngoài ra ngươi sẽ dâng bốn lít rưỡi tinh bột lúa miến nhào với hai lít dầu ô-liu giã trong cối. <sup>6</sup> Ðó là lễ toàn thiêu thường tiến dâng trên núi Xi-nai, lễ vật nghi ngút hương thơm làm thoả lòng Ðức Chúa; đó là lễ hoả tế dâng Người. <sup>7</sup> Số lượng rượu tế dâng cùng với con chiên thứ nhất là hai lít; người ta sẽ đổ rượu nồng dâng Ðức Chúa, trong nơi thánh. <sup>8</sup> Còn con chiên thứ hai, ngươi sẽ dâng vào lúc chập tối, cùng với lễ phẩm và rượu tế như ban sáng: đó là lễ hoả tế, hương thơm dâng Ðức Chúa, làm thoả lòng Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Ngày sa-bát</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ngày sa-bát, các ngươi sẽ dâng hai con chiên một tuổi, toàn vẹn, cùng với chín lít tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm, kèm theo rượu tế. <sup>10</sup> Ðó là lễ toàn thiêu của ngày sa-bát, riêng cho mỗi ngày sa-bát, không kể lễ toàn thiêu thường xuyên và lễ tưới rượu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Ngày sóc</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Hàng tháng, vào ngày sóc, các ngươi sẽ dâng lên Ðức Chúa làm lễ toàn thiêu: hai con bò tơ, một con cừu đực, bảy chiên một tuổi, toàn vẹn. <sup>12</sup> Khi dâng mỗi con bò, thì phải dâng mười ba lít rưỡi tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm; khi dâng con cừu đực độc nhất, thì phải dâng chín lít tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm. <sup>13</sup> Mỗi lần dâng một con chiên, thì phải dâng bốn lít rưỡi tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm: đó là lễ toàn thiêu, là lễ vật nghi ngút hương thơm, làm thoả lòng Ðức Chúa, là lễ hoả tế dâng Người. <sup>14</sup> Số lượng rượu tế dâng cùng với con bò sẽ là bốn lít, cùng với con cừu đực là hai lít rưỡi, và cùng với con chiên là hai lít. Ðó sẽ là lễ toàn thiêu phải dâng tháng này qua tháng nọ, tất cả mọi tháng trong năm. <sup>15</sup> Không kể lễ toàn thiêu thường tiến, còn phải dâng Ðức Chúa một con cừu đực làm lễ tạ tội, kèm theo lễ tưới rượu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">D. Lễ bánh không men </span> </strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Lv 23 :5-8)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ngày mười bốn tháng giêng, sẽ cử hành lễ Vượt Qua kính Ðức Chúa, <sup>17</sup> và ngày mười lăm tháng ấy sẽ là một ngày lễ. Trong bảy ngày, người ta sẽ ăn bánh không men. <sup>18</sup> Ngày thứ nhất sẽ phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa, anh em không được làm một việc nặng nhọc nào. <sup>19</sup> Anh em sẽ dâng hoả tế làm lễ toàn thiêu kính Ðức Chúa: hai bò tơ, một cừu đực và bảy con chiên một tuổi; anh em phải chọn những con toàn vẹn. <sup>20</sup> Phải dâng tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm: khi dâng mỗi con bò thì dâng mười ba lít rưỡi, khi dâng con cừu đực thì dâng chín lít; <sup>21</sup> mỗi lần dâng một con chiên trong số bảy con, thì dâng bốn lít rưỡi. <sup>22</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ vật tạ tội, để cử hành nghi lễ xá tội cho anh em. <sup>23</sup> Anh em sẽ dâng những lễ vật đó, không kể lễ toàn thiêu ban sáng là một phần lễ toàn thiêu thường tiến. <sup>24</sup> Anh em sẽ dâng như thế mỗi ngày trong suốt bảy ngày: đó là lương thực, là hoả tế, là lễ vật nghi ngút hương thơm, làm thoả lòng Ðức Chúa, kèm theo lễ toàn thiêu thường tiến và lễ tưới rượu. <sup>25</sup> Ngày thứ bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa, anh em không được làm một việc nặng nhọc nào.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ð. Lễ các tuần </span> </strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Lv 23 :15-22)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ngày hoa trái đầu mùa, khi dâng tiến Ðức Chúa lễ phẩm mới vào lễ các Tuần, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa, anh em không được làm một việc nặng nhọc nào. <sup>27</sup> Anh em sẽ dâng lễ vật toàn thiêu nghi ngút hương thơm, làm thoả lòng Ðức Chúa: hai con bò tơ, một con cừu đực, bảy con chiên một tuổi. <sup>28</sup> Phải dâng tinh bột lúa miến nhào dầu làm lễ phẩm: khi dâng mỗi con bò thì dâng mười ba lít rưỡi, khi dâng con cừu đực độc nhất thì dâng chín lít, <sup>29</sup> mỗi lần dâng một con chiên trong số bảy con, thì dâng bốn lít rưỡi. <sup>30</sup> Cũng phải dâng một con dê đực để cử hành lễ xá tội cho anh em. <sup>31</sup> Anh em sẽ dâng những lễ vật đó, không kể lễ toàn thiêu thường tiến và lễ phẩm của lễ đó; anh em phải chọn những con vật toàn vẹn; anh em sẽ dâng các lễ vật đó kèm theo rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 29 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">E. Ngày hò reo </span></strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"> (Lv 23: 23-25)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ngày mồng một tháng bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa; anh em không được làm một việc nặng nhọc nào: đối với anh em, đó sẽ là ngày Hò reo. <sup>2</sup> Anh em sẽ dâng lễ toàn thiêu như hương thơm làm thoả lòng Ðức Chúa: một bò tơ, một cừu đực, bảy con chiên một tuổi, toàn vẹn. <sup>3</sup> Phải dâng tinh bột lúa miến nhào dầu làm lễ phẩm: khi dâng con bò, thì dâng mười ba lít rưỡi; khi dâng con cừu đực thì dâng chín lít, <sup>4</sup> và khi dâng mỗi con chiên trong số bảy con, thì dâng bốn lít rưỡi. <sup>5</sup> Anh em cũng phải dâng một con cừu đực làm lễ tạ tội, để cử hành lễ xá tội cho anh em. <sup>6</sup> Ấy là không kể lễ toàn thiêu dâng mỗi tháng với lễ phẩm, lễ toàn thiêu thường tiến với lễ phẩm, và các lễ tưới rượu như luật định. Ðó là những lễ toàn thiêu như hương thơm làm thoả lòng Ðức Chúa, là lễ hoả tế kính Người.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">G. Ngày xá tội </span> </strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Lv 23 :26-32)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ngày mồng mười tháng bảy đó, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa; anh em phải ăn chay hãm mình và không được làm một công việc tay chân nặng nhọc nào. <sup>8</sup> Anh em sẽ dâng lên Ðức Chúa lễ toàn thiêu như hương thơm làm thoả lòng Người: một bò tơ, một cừu đực, bảy con chiên một tuổi; anh em phải chọn những con toàn vẹn. <sup>9</sup> Phải dâng tinh bột lúa miến nhào dầu làm lễ phẩm: khi dâng con bò, thì dâng mười ba lít rưỡi; khi dâng con cừu đực độc nhất, thì dâng chín lít; <sup>10</sup> khi dâng mỗi con chiên trong số bảy con, thì dâng mỗi lần bốn lít rưỡi. <sup>11</sup> Anh em sẽ phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ tạ tội dâng vào ngày xá tội, lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và các thứ rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">H. Lễ lều </span> </strong><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">(Lv 23 :33-44)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ngày rằm tháng bảy, anh em phải tập hợp để thờ phượng Ðức Chúa; anh em không được làm một việc nặng nhọc nào, và phải mừng lễ kính Ðức Chúa trong bảy ngày. <sup>13</sup> Anh em sẽ dâng lên Ðức Chúa lễ toàn thiêu, lễ hoả tế, như hương thơm làm thoả lòng Người: mười ba bò tơ, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, những con toàn vẹn. <sup>14</sup> Phải dâng tinh bột lúa miến nhào dầu làm lễ phẩm: khi dâng mỗi con bò trong số mười ba con, thì dâng mười hai lít; khi dâng mỗi con cừu đực trong số hai con thì dâng tám lít; <sup>15</sup> mỗi lần dâng một con chiên trong số mười bốn con, thì dâng bốn lít. <sup>16</sup> Anh em cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ngày thứ hai thì dâng mười hai con bò tơ, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>18</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò tơ, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>19</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và các thứ rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ngày thứ ba thì dâng mười một bò, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>21</sup> cùng với các lễ phẩm và rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>22</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ngày thứ tư thì dâng mười bò, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>24</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>25</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ngày thứ năm thì dâng chín bò, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>27</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>28</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ngày thứ sáu thì dâng tám bò, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>30</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>31</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ngày thứ bảy thì dâng bảy bò, hai cừu đực, mười bốn con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>33</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>34</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ngày thứ tám, anh em sẽ có một cuộc họp long trọng, và không được làm một việc nặng nhọc nào. <sup>36</sup> Anh em phải dâng lễ toàn thiêu, lễ hoả tế, như hương thơm làm thoả lòng Ðức Chúa: một bò, một cừu đực, bảy con chiên một tuổi, toàn vẹn, <sup>37</sup> cùng với lễ phẩm và các thứ rượu tế kèm theo số bò, cừu đực và chiên, như luật định. <sup>38</sup> Cũng phải dâng một con dê đực làm lễ tạ tội, không kể lễ toàn thiêu thường tiến, cũng như lễ phẩm và rượu tế.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Ðó là những gì anh em phải làm để kính Ðức Chúa trong các ngày lễ của anh em: các lễ toàn thiêu, lễ phẩm, lễ tưới rượu và lễ kỳ an, không kể những lễ vật anh em đã khấn hứa và những lễ vật tự nguyện.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 30 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ông Mô-sê đã nói với con cái Ít-ra-en như Ðức Chúa đã truyền cho ông.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Luật về các lời khấn hứa</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Ông Mô-sê nói với các thủ lãnh các chi tộc con cái Ít-ra-en: &#8220;Ðây là điều Ðức Chúa đã truyền:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Khi người đàn ông nào khấn hứa với Ðức Chúa hay thề hứa tự buộc mình làm điều gì, thì người ấy sẽ không được lỗi lời mình: người ấy phải thực hiện những gì miệng đã nói ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Khi một phụ nữ khấn hứa với Ðức Chúa và tự buộc mình làm điều gì, lúc thiếu thời còn ở nhà cha, <sup>5</sup> và nếu cha người ấy nghe nói về lời khấn hứa và điều người ấy tự buộc mình làm, mà ông vẫn im lặng, thì mọi lời khấn hứa của người ấy có hiệu lực, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hiệu lực. <sup>6</sup> Nhưng nếu cha người ấy phản đối ngay trong ngày ông nghe biết được, thì mọi lời khấn hứa và mọi điều người ấy tự buộc mình làm, không có hiệu lực. Ðức Chúa sẽ dung thứ cho người ấy, vì cha người ấy đã phản đối.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu người ấy đi lấy chồng, khi vẫn còn phải giữ những lời khấn hứa hay bị ràng buộc bởi một lời hứa thiếu suy nghĩ nào miệng người ấy đã thốt ra, <sup>8</sup> và nếu người chồng nghe biết được mà vẫn im lặng trong ngày nghe biết được chuyện ấy, thì những lời khấn hứa của người phụ nữ ấy có hiệu lực, và những điều mà người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hiệu lực. <sup>9</sup> Nhưng nếu trong ngày nghe biết được, chồng người ấy phản đối, thì anh ta huỷ bỏ lời khấn hứa còn ràng buộc người vợ, và lời hứa thiếu suy nghĩ người vợ đã tự buộc mình phải giữ, Ðức Chúa sẽ dung thứ cho người phụ nữ ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Lời khấn hứa của người đàn bà goá hoặc bị chồng bỏ, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm, đều có hiệu lực đối với người ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nếu tại chính nhà chồng, một phụ nữ đã khấn hứa hoặc lấy lời thề tự buộc mình làm điều gì, <sup>12</sup> và nếu người chồng nghe biết được mà vẫn im lặng, không phản đối, thì mọi lời khấn hứa của người ấy có hiệu lực, và mọi điều người ấy tự buộc mình làm cũng đều có hịệu lực. <sup>13</sup> Nhưng nếu người chồng huỷ bỏ ngay trong ngày nghe biết, thì mọi điều miệng người vợ thốt ra khi khấn hứa và tự buộc mình làm, sẽ không có hiệu lực: người chồng đã huỷ bỏ, thì Ðức Chúa cũng dung thứ cho người phụ nữ ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Người chồng có thể chứng nhận là có hiệu lực, hay huỷ bỏ mọi lời người vợ khấn hứa và thề tự buộc ăn chay hãm mình. <sup>15</sup> Nếu người chồng cứ im lặng cho đến hôm sau, thì đó là chứng nhận mọi lời khấn hứa của vợ hoặc mọi điều người vợ tự buộc mình làm có hiệu lực; người chồng chứng nhận là có hiệu lực, vì đã im lặng trong ngày nghe biết được. <sup>16</sup> Nhưng nếu người chồng huỷ bỏ các điều ấy sau khi nghe biết, thì sẽ phải mang lấy tội của vợ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðó là những quy luật Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê về mối tương quan giữa chồng và vợ, giữa cha và con gái lúc thiếu thời còn ở nhà cha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 31 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">IX. Phân Chia Chiến Lợi Phẩm Và Ðất Ðai</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thánh chiến chống Ma-đi-an</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy trả thù người Ma-đi-an cho con cái Ít-ra-en, rồi ngươi sẽ về sum họp với gia tiên ngươi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Ông Mô-sê nói với dân: &#8220;Một số người trong anh em hãy chuẩn bị sẵn sàng để ra trận tiến đánh Ma-đi-an, để trả thù dân ấy cho Ðức Chúa. <sup>4</sup> Anh em sẽ sai người ra trận; cứ mỗi chi tộc trong các chi tộc Ít-ra-en, thì lấy một ngàn người.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Trong số ngàn vạn người Ít-ra-en, người ta tuyển mộ mỗi chi tộc một ngàn người, tức là mười hai ngàn người được chuẩn bị sẵn sàng để ra trận. <sup>6</sup> Ông Mô-sê sai họ ra trận, mỗi chi tộc một ngàn người; cùng ra trận với họ, có ông Pin-khát, con của tư tế E-la-da, tay cầm các đồ thánh và kèn thúc quân.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Họ đã ra trận, tiến đánh Ma-đi-an, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê, và họ giết tất cả đàn ông con trai. <sup>8</sup> Ngoài những người đã bị sát hại đó, họ còn giết các vua Ma-đi-an: E-vi, Re-kem, Xua, Khua, Re-va, là năm vua Ma-đi-an; rồi họ dùng gươm giết ông Bi-lơ-am, con ông Bơ-o. <sup>9</sup> Con cái Ít-ra-en bắt phụ nữ Ma-đi-an và con cái chúng làm tù nhân; họ đã lấy mọi thú vật, mọi súc vật và mọi của cải chúng làm chiến lợi phẩm. <sup>10</sup> Họ nổi lửa đốt tất cả các thành dân đó ở và mọi lều trại của chúng. <sup>11</sup> Sau đó họ lấy mọi chiến lợi phẩm và tất cả những gì họ chiếm được, cả người lẫn thú vật, <sup>12</sup> rồi đem các tù nhân và những gì đã chiếm được cũng như chiến lợi phẩm về trại, về vùng thảo nguyên Mô-áp gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, để nộp cho ông Mô-sê, cho tư tế E-la-da và cộng đồng con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tàn sát phụ nữ và thanh tẩy chiến lợi phẩm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Mô-sê, tư tế E-la-da và mọi thủ lãnh của cộng đồng ra gặp họ ở ngoài trại. <sup>14</sup> Ông Mô-sê nổi giận với các tướng lãnh, với các vị chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đi trận trở về. <sup>15</sup> Ông Mô-sê nói với họ: &#8220;Sao anh em lại để cho cả bọn đàn bà này sống? <sup>16</sup> Chính bọn chúng đã nghe lời Bi-lơ-am, mà lôi cuốn con cái Ít-ra-en phạm tội bất trung với Ðức Chúa trong vụ Pơ-o, nên tai hoạ đã giáng xuống cộng đồng của Ðức Chúa. <sup>17</sup> Vậy bây giờ, hãy giết hết các con trai, cũng như mọi phụ nữ đã biết đến việc vợ chồng, đã ăn ở với đàn ông. <sup>18</sup> Còn mọi con gái nhỏ tuổi chưa ăn ở với đàn ông, thì hãy để cho chúng sống và thuộc về anh em. <sup>19</sup> Về phần anh em, ai đã giết người, ai đã đụng tới người bị sát hại, hãy đóng quân ngoài trại trong bảy ngày. Anh em cũng như các tù nhân đều phải thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và thứ bảy. <sup>20</sup> Anh em phải thanh tẩy mọi quần áo, mọi đồ bằng da, mọi sản phẩm bằng lông dê và mọi đồ gỗ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Tư tế E-la-da nói với các binh lính đã đi chiến đấu: &#8220;Ðây là quy tắc pháp luật Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê: <sup>22</sup> Chỉ có vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì, <sup>23</sup> nghĩa là tất cả những gì chịu được lửa, anh em mới phải cho qua lửa để các vật ấy được sạch; tuy nhiên, các vật ấy phải được thanh tẩy bằng nước tẩy uế. Tất cả những gì không chịu được lửa, thì anh em phải nhúng vào nước.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Anh em phải giặt quần áo ngày thứ bảy và anh em sẽ được sạch, rồi sau đó mới trở vào trại.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phân chia chiến lợi phẩm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>26</sup> &#8220;Cùng với tư tế E-la-da và các gia trưởng trong cộng đồng, ngươi hãy làm sổ kê khai những gì đã lấy được, đã bắt được, người cũng như súc vật. <sup>27</sup> Rồi ngươi hãy chia những gì đã lấy được: một nửa cho các chiến sĩ đã ra trận và một nửa cho toàn thể cộng đồng. <sup>28</sup> Sau đó, từ phần dành cho các chiến sĩ đã ra trận, ngươi sẽ trích ra một phần năm trăm số người, bò bê, lừa và chiên cừu, để làm thuế nộp cho Ðức Chúa. <sup>29</sup> Anh em sẽ lấy phần đó trong phần dành cho các chiến sĩ mà trao cho tư tế E-la-da, làm phần trích dâng Ðức Chúa. <sup>30</sup> Còn trong phần dành cho con cái Ít-ra-en, ngươi sẽ chọn lấy một phần năm mươi số người, bò bê, lừa, chiên dê, mọi thú vật, rồi trao cho các thầy Lê-vi có nhiệm vụ canh giữ Nhà Tạm của Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ông Mô-sê và tư tế E-la-da làm như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. <sup>32</sup> Những của đoạt được, những phần còn lại của chiến lợi phẩm mà các người tham chiến đã chiếm lấy, là 675,000 chiên dê, <sup>33</sup> 72,000 bò bê, <sup>34</sup> 61,000 con lừa, <sup>35</sup> và nhân mạng, tức là những phụ nữ chưa ăn ở với đàn ông, tất cả là 32,000 người. <sup>36</sup> Một nửa phần chiến lợi phẩm chia cho các người đã ra trận là: 337,500 chiên dê, <sup>37</sup> trong số đó, thuế nộp cho Ðức Chúa là 675 con; <sup>38</sup> 36,000 bò bê, trong số đó, thuế nộp cho Ðức Chúa là 72 con; <sup>39</sup> 30,500 con lừa, trong số đó, thuế nộp cho Ðức Chúa là 61 con; <sup>40</sup> 16,000 nhân mạng, trong số đó, thuế nộp cho Ðức Chúa là 32 mạng. <sup>41</sup> Ông Mô-sê đã trao cho tư tế E-la-da phần trích dâng Ðức Chúa, như Người truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Còn nửa phần chiến lợi phẩm kia được chia cho con cái Ít-ra-en, ông Mô-sê đã tách ra khỏi phần chia cho các người đã ra trận; <sup>43</sup> nửa phần đó thuộc về cộng đồng, gồm có 337,500 chiên dê, <sup>44</sup> 36,000 bò bê, <sup>45</sup> 30,500 con lừa, <sup>46</sup> 16,000 nhân mạng. <sup>47</sup> Trong nửa phần đã chia cho con cái Ít-ra-en, ông Mô-sê chọn lấy một phần năm mươi số người và thú vật, rồi trao cho các thầy Lê-vi có nhiệm vụ canh giữ Nhà Tạm của Ðức Chúa, như Người truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các lễ phẩm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>48</sup> Bấy giờ, các tướng lãnh, các vị chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đến gần ông ông Mô-sê <sup>49</sup> và nói: &#8220;Các tôi tớ ngài đã kiểm lại số những người chiến đấu dưới quyền chúng tôi, và không thấy thiếu một người nào cả. <sup>50</sup> Vậy chúng tôi đem những đồ bằng vàng mà mỗi người đã tìm thấy, làm lễ tiến dâng lên Ðức Chúa, để cử hành lễ xá tội cho chúng tôi trước nhan Ðức Chúa. Những đồ bằng vàng đó là vòng cổ tay, vòng cánh tay, nhẫn, khuyên tai và kiềng.&#8221; <sup>51</sup> Ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã nhận vàng họ dâng và mọi đồ kim hoàn. <sup>52</sup> Tổng cộng số vàng họ đã trích ra để dâng Ðức Chúa là một trăm bảy mươi ký, được các chỉ huy một ngàn quân và các vị chỉ huy một trăm quân đem nộp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>53</sup> Trước đó, ai nấy trong quân đội đều đoạt phần chiến lợi phẩm cho mình. <sup>54</sup> Cho nên, ông Mô-sê và tư tế E-la-da đã nhận vàng của các vị chỉ huy một ngàn quân và một trăm quân, rồi mang đến Lều Hội Ngộ, làm kỷ vật tưởng nhớ con cái Ít-ra-en trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 32 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phân chia vùng bên kia sông Gio-đan</strong> (Ðnl 3: 12-22)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Con cái ông Rưu-vên và con cái ông Gát có nhiều đàn súc vật rất đông. Khi thấy rằng vùng Gia-de và vùng Ga-la-át là nơi thuận lợi cho việc chăn nuôi súc vật, <sup>2</sup> họ đến thưa với ông Mô-sê, với tư tế E-la-da và các thủ lãnh cộng đồng: <sup>3</sup> &#8220;Các thành A-ta-rốt, Ði-vôn, Gia-de, Nim-ra, Khét-bôn, En-a-lê, Xơ-vam, Nơ-vô và Bơ-ôn <sup>4</sup> là vùng đất Ðức Chúa đã đánh phạt trước cộng đồng Ít-ra-en, là vùng đất nuôi được súc vật. Mà các tôi tớ ngài lại có súc vật.&#8221; <sup>5</sup> Họ nói tiếp: &#8220;Nếu chúng tôi được đẹp lòng ngài, thì xin ban cho các tôi tớ ngài vùng đất này làm sở hữu. Xin đừng để chúng tôi phải đi qua sông Gio-đan.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Mô-sê nói với con cái ông Gát và con cái ông Rưu-vên: &#8220;Anh em của anh em phải ra chiến trường, mà anh em thì ở lại đây hay sao? <sup>7</sup> Tại sao anh em làm cho con cái Ít-ra-en phải nản lòng không muốn đi qua bên xứ mà Ðức Chúa đã ban cho họ? <sup>8</sup> Cha ông anh em đã làm như thế, khi tôi sai họ đi từ Ca-đê Bác-nê-a để do thám xứ đó. <sup>9</sup> Họ lên đến thung lũng Ét-côn; họ do thám xứ đó, rồi làm cho con cái Ít-ra-en nản lòng, để họ không vào xứ mà Ðức Chúa đã ban cho họ. <sup>10</sup> Nên trong ngày đó, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa bừng cháy; Người thề rằng: <sup>11</sup> &#8220;Nếu ngày nào những người đã lên từ Ai-cập, hai mươi tuổi trở lên, thấy đất mà Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp&#8230;, vì chúng đã không trọn tình đi theo Ta; <sup>12</sup> chỉ trừ Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, người Cơ-nát, và Giô-suê, con ông Nun, vì họ đã trọn tình đi theo Ðức Chúa. <sup>13</sup> Cơn thịnh nộ của Ðức Chúa bừng lên phạt Ít-ra-en, và Người đã bắt họ phải đi lang thang trong sa mạc bốn mươi năm, cho đến khi toàn thể thế hệ đã làm sự dữ trước mắt Ðức Chúa đều chết hết. <sup>14</sup> Này đây, hỡi nòi tội nhân, anh em thay thế cha ông mình mà nổi dậy, khiến cơn thịnh nộ của Ðức Chúa đối với Ít-ra-en càng tăng lên! <sup>15</sup> Nếu anh em quay lưng lại với Người, thì Người còn tiếp tục để Ít-ra-en lại trong sa mạc, và như thế, anh em sẽ làm cho tất cả dân này bị tiêu diệt.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Họ tiến đến gần ông Mô-sê và nói: &#8220;Chúng tôi sẽ làm ở đây bãi quây cho chiên cừu của chúng tôi, và xây thành thị cho con em chúng tôi. <sup>17</sup> Còn chúng tôi sẽ cầm khí giới ngay và dẫn đầu con cái Ít-ra-en, cho tới khi chúng tôi đưa họ đến nơi thuộc về họ; nhưng con em chúng tôi sẽ ở lại trong các thành kiên cố, để khỏi bị dân bản xứ tấn công. <sup>18</sup> Chúng tôi sẽ không trở về nhà cho đến khi ai nấy trong dân Ít-ra-en đều được thừa hưởng phần gia nghiệp của mình. <sup>19</sup> Quả thật, chúng tôi sẽ không chia phần gia nghiệp với họ bên kia sông Gio-đan hoặc xa hơn nữa, vì gia nghiệp bên này sông Gio-đan, ở phía đông, sẽ lọt về phần chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ông Mô-sê nói với họ: &#8220;Nếu anh em thực hiện điều đó, nếu anh em cầm khí giới để ra trận trước nhan Ðức Chúa, <sup>21</sup> nếu trong số anh em, tất cả những người được võ trang đi qua sông Gio-đan trước nhan Ðức Chúa, (và ở lại đó) cho đến khi Người đuổi địch thù đi khuất mắt Người, <sup>22</sup> và nếu anh em chỉ trở về sau khi xứ ấy quy hàng trước nhan Ðức Chúa, thì anh em được coi như đã làm xong nhiệm vụ đối với Ðức Chúa, với Ít-ra-en, và vùng đất này sẽ là sở hữu của anh em trước nhan Ðức Chúa. <sup>23</sup> Nhưng nếu anh em không làm như thế, thì anh em sẽ đắc tội với Ðức Chúa; và anh em nên biết rằng chính anh em sẽ chuốc lấy tội đó cho mình. <sup>24</sup> Anh em hãy xây thành cho con em và làm bãi quây cho chiên cừu, hãy thực hiện những gì miệng anh em đã nói.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Con cái ông Gát và con cái ông Rưu-vên thưa với ông Mô-sê: &#8220;Các tôi tớ ngài sẽ làm như lời ngài truyền. <sup>26</sup> Vợ con, súc vật và mọi thú vật của chúng tôi sẽ ở đây, trong các thành Ga-la-át; <sup>27</sup> nhưng các tôi tớ ngài, mọi kẻ đã được võ trang để ra trận, sẽ đi qua trước nhan Ðức Chúa để chiến đấu, theo lời ngài đã nói.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ông Mô-sê đã ban mệnh lệnh liên quan đến họ cho tư tế E-la-da, cho ông Giô-suê, con ông Nun, và cho những người đứng đầu các gia tộc của các chi tộc con cái Ít-ra-en. <sup>29</sup> Ông Mô-sê nói với họ: &#8220;Nếu con cái ông Gát và con cái ông Rưu-vên, mọi kẻ đã được võ trang để chiến đấu, cùng với anh em đi qua sông Gio-đan trước nhan Ðức Chúa, và nếu anh em chinh phục được vùng đất đó, thì anh em sẽ cho họ đất Ga-la-át làm sở hữu. <sup>30</sup> Nhưng nếu họ không chịu mang khí giới đi qua sông với anh em, thì họ sẽ phải nhận một phần đất làm sở hữu giữa anh em, trong xứ Ca-na-an.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Con cái ông Gát và con cái ông Rưu-vên thưa: &#8220;Ðiều Ðức Chúa đã phán với các tôi tớ ngài, chúng tôi sẽ làm; <sup>32</sup> chính chúng tôi sẽ cầm khí giới đi qua xứ Ca-na-an trước nhan Ðức Chúa; và xin ngài cho chúng tôi được chiếm hữu phần đất bên này sông Gio-đan làm gia nghiệp.&#8221; <sup>33</sup> Ông Mô-sê ban cho họ &#8211; nghĩa là cho con cái ông Gát, con cái ông Rưu-vên và một nửa chi tộc Mơ-na-se, con ông Giu-se &#8211; vương quốc của Xi-khôn, vua E-mô-ri, vương quốc của Ốc, vua Ba-san; đó là vùng đất gồm các thành cùng với lãnh thổ của các thành ấy, thêm vào đó các thành của vùng đất chung quanh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Con cái ông Gát đã xây Ði-vôn, A-ta-rốt, A-rô-e, <sup>35</sup> A-rốt Sô-phan, Gia-de, Gioóc-bô-ha, <sup>36</sup> Bết Nim-ra, Bết Ha-ran, là những thành kiên cố; họ cũng đã làm bãi quây cho chiên cừu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Con cái ông Rưu-vên cũng đã xây Khét-bôn, En-a-lê, Kia-gia-tha-gim, <sup>38</sup> Nơ-vô, Ba-an Mơ-ôn (các thành này đã đổi tên) và Xíp-ma. Họ đặt tên cho các thành họ đã xây.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Con cái ông Ma-khia, con ông Mơ-na-se, đi tới xứ Ga-la-át; họ chiếm xứ đó và đuổi người E-mô-ri đang ở đấy. <sup>40</sup> Ông Mô-sê cho ông Ma-khia là con ông Mơ-na-se, xứ Ga-la-át, và ông Ma-khia định cư tại đó. <sup>41</sup> Ông Gia-ia, con ông Mơ-na-se, đi chiếm các trại của họ và đặt tên là trại của Gia-ia. <sup>42</sup> Nô-vác đi chiếm Cơ-nát cùng các vùng phụ cận; ông lấy tên mình là Nô-vác mà đặt cho chỗ đó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 33 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các chặng đường của cuộc xuất hành</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là những chặng đường con cái Ít-ra-en đã qua, khi họ ra khỏi đất Ai-cập, theo đoàn quân của họ, dưới sự hướng dẫn của ông Mô-sê và ông A-ha-ron. <sup>2</sup> Ông Mô-sê ghi lại những điểm khởi hành cho từng chặng đường, theo lệnh của Ðức Chúa. Ðây là những chặng đường của họ, dựa theo các điểm khởi hành.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Họ rời Ram-xết lên đường vào tháng giêng, ngày rằm tháng giêng. Hôm sau lễ Vượt Qua, con cái Ít-ra-en ra đi ngang nhiên trước mắt toàn dân Ai-cập, <sup>4</sup> trong khi dân Ai-cập lo chôn cất người nhà của chúng đã bị Ðức Chúa đánh phạt, nghĩa là mọi con trai đầu lòng. Ðức Chúa đã trừng phạt các thần của chúng.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Con cái Ít-ra-en lên đường rời Ram-xết và đóng trại ở Xúc-cốt. <sup>6</sup> Họ lên đường rời Xúc-cốt và đóng trại ở Ê-tham, ven sa mạc. <sup>7</sup> Họ lên đường rời Ê-tham, nhưng quay trở lại phía Pi Ha-khi-rốt, đối diện với Ba-an Xơ-phôn, rồi đóng trại đằng trước Mích-đôn. <sup>8</sup> Họ lên đường rời Pi Ha-khi-rốt, đi qua biển mà vào sa mạc; họ đi ba ngày đường trong sa mạc Ê-tham, rồi đóng trại ở Ma-ra. <sup>9</sup> Họ lên đường rời Ma-la tới Ê-lim. Ở Ê-lim, có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Và họ đóng trại ở đó. <sup>10</sup> Họ lên đường rời Ê-lim và đóng trại gần Biển Sậy. <sup>11</sup> Họ lên đường rời Biển Sậy và đóng trại gần sa mạc Xin. <sup>12</sup> Họ lên đường rời sa mạc Xin và đóng trại ở Ðốp-ca. <sup>13</sup> Họ lên đường rời Ðốp-ca và đóng trại ở A-lút. <sup>14</sup> Họ lên đường rời A-lút và đóng trại ở Rơ-phi-đim; tại đó không có nước cho dân uống. <sup>15</sup> Họ lên đường rời Rơ-phi-đim và đóng trại trong sa mạc Xi-nai. <sup>16</sup> Họ lên đường rời sa mạc Xi-nai và đóng trại ở Kíp-rốt Ha Ta-a-va. <sup>17</sup> Họ lên đường rời Kíp-rốt Ha Ta-a-va và đóng trại ở Kha-xê-rốt. <sup>18</sup> Họ lên đường rời Kha-xê-rốt và đóng trại ở Rít-ma. <sup>19</sup> Họ lên đường rời Rít-ma và đóng trại ở Rim-môn Pe-rét. <sup>20</sup> Họ lên đường rời Rim-môn Pe-rét và đóng trại ở Líp-na. <sup>21</sup> Họ lên đường rời Líp-na và đóng trại ở Rít-xa. <sup>22</sup> Họ lên đường rời Rít-xa và đóng trại ở Cơ-hê-la-tha. <sup>23</sup> Họ lên đường rời Cơ-hê-la-tha và đóng trại ở núi Se-phe. <sup>24</sup> Họ lên đường rời núi Se-phe và đóng trại ở Kha-ra-đa. <sup>25</sup> Họ lên đường rời Kha-ra-đa và đóng trại ở Mác-hê-lốt. <sup>26</sup> Họ lên đường rời Mác-hê-lốt và đóng trại ở Ta-khát. <sup>27</sup> Họ lên đường rời Ta-khát và đóng trại ở Te-rác. <sup>28</sup> Họ lên đường rời Te-rác và đóng trại ở Mít-ca. <sup>29</sup> Họ lên đường rời Mít-ca và đóng trại ở Khát-mô-na. <sup>30</sup> Họ lên đường rời Khát-mô-na và đóng trại ở Mô-xê-rốt. <sup>31</sup> Họ lên đường rời Mô-xê-rốt và đóng trại ở Bơ-nê Gia-a-can. <sup>32</sup> Họ lên đường rời Bơ-nê Gia-a-can và đóng trại ở Kho Ha Ghít-gát. <sup>33</sup> Họ lên đường rời Kho Ha Ghít-gát và đóng trại ở Giót-va-tha. <sup>34</sup> Họ lên đường rời Giót-va-tha và đóng trại ở Áp-rô-na. <sup>35</sup> Họ lên đường rời Áp-rô-na và đóng trại ở E-xi-ôn Ghe-ve. <sup>36</sup> Họ lên đường rời E-xi-ôn Ghe-ve và đóng trại trong sa mạc Xin, nghĩa là Ca-đê. <sup>37</sup> Họ lên đường rời Ca-đê và đóng trại ở núi Ho, cuối xứ Ê-đôm. <sup>38</sup> Tư tế A-ha-ron lên núi Ho theo lệnh của Ðức Chúa và qua đời ở đó, vào năm thứ bốn mươi sau khi con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập, ngày mồng một tháng năm. <sup>39</sup> Ông A-ha-ron thọ được một trăm hai mươi ba tuổi, -khi ông qua đời ở núi Ho. <sup>40</sup> Bấy giờ vua A-rát, người Ca-na-an, cư ngụ tại Ne-ghép trong xứ Ca-na-an, nghe tin con cái Ít-ra-en đến. <sup>41</sup> Họ lên đường rời núi Ho và đóng trại ở Xan-mô-na. <sup>42</sup> Họ lên đường rời Xan-mô-na và đóng trại ở Pu-nôn. <sup>43</sup> Họ lên đường rời Pu-nôn và đóng trại ở Ô-vốt. <sup>44</sup> Họ lên đường rời Ô-vốt và đóng trại ở I-giê Ha A-va-rim, giáp giới với Mô-áp. <sup>45</sup> Họ lên đường rời I-gim và đóng trại ở Ði-vôn Gát. <sup>46</sup> Họ lên đường rời Ði-vôn Gát và đóng trại ở An-môn Ðíp-la-tha-gim. <sup>47</sup> Họ lên đường rời An-môn Ðíp-la-tha-gim và đóng trại ở dãy núi A-va-rim, đối diện với Nơ-vô. <sup>48</sup> Họ lên đường rời dãy núi A-va-rim và đóng trại ở vùng thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô. <sup>49</sup> Họ đóng trại gần sông Gio-đan, từ Bết Ha Giơ-si-mốt đến A-vên Ha Sít-tim, trong vùng thảo nguyên Mô-áp.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phân chia đất Ca-na-an. Mệnh lệnh của Thiên Chúa.</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>50</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trong vùng thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô: <sup>51</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>52</sup> các ngươi sẽ đuổi mọi dân cư trong xứ cho khuất mắt các ngươi, và phá huỷ tất cả các hình ảnh, các tượng đúc của chúng, các ngươi sẽ tiêu huỷ mọi nơi cao của chúng. <sup>53</sup> Các ngươi sẽ chiếm đất ấy và lập cư ở đó, vì Ta đã cho các ngươi đất ấy để chiếm hữu. <sup>54</sup> Các ngươi sẽ bắt thăm để chia nhau đất ấy làm gia nghiệp, tuỳ theo các thị tộc của các ngươi: thị tộc nào đông người, các ngươi sẽ cho một phần đất lớn làm gia nghiệp; thị tộc nào ít người hơn, các ngươi sẽ cho một phần đất nhỏ hơn làm gia nghiệp. Ai bắt thăm được nơi nào, thì sẽ ở tại đó. Các ngươi sẽ tính theo các chi tộc mà chia phần gia nghiệp. <sup>55</sup> Nếu các ngươi không đuổi các dân cư trong xứ cho khuất mắt, thì những kẻ các ngươi để sót lại sẽ nên như gai chọc mắt, như mũi nhọn đâm sườn; chúng sẽ quấy rối các ngươi trên đất các ngươi đến ở. <sup>56</sup> Và bấy giờ, Ta sẽ đối xử với các ngươi như Ta đã định đối xử với chúng.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 34 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Biên giới xứ Ca-na-an</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>2</sup> &#8220;Hãy ra lệnh cho con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi anh em vào đất Ca-na-an, thì phần đất rơi vào tay anh em làm gia nghiệp, chính là đất Ca-na-an với các biên giới như sau:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Phía nam, đất của anh em sẽ bắt đầu từ sa mạc Xin, giáp giới Ê-đôm. Ranh giới phía nam sẽ khởi sự từ cuối Biển Muối, ở mạn đông. <sup>4</sup> Rồi ranh giới đó sẽ vòng xuống phía nam, lên giốc Ác-ráp-bim, đi qua Xin, đến phía nam Ca-đê Bác-nê-a, rồi lại tiến về Kha-xa Át-đa và đi qua Át-môn; <sup>5</sup> sau đó, từ Át-môn, ranh giới vòng xuống Suối Ai-cập để đi ra Biển.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Phía tây, anh em sẽ có Biển Lớn làm ranh giới. Ðó sẽ là ranh giới phía tây của anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Và đây là ranh giới phía bắc: từ Biển Lớn, anh em sẽ vạch một đường lên núi Ho; <sup>8</sup> rồi từ núi Ho, anh em sẽ vạch một đường đến Cửa Ải Kha-mát. Ranh giới sẽ đi đến Xơ-đát, <sup>9</sup> rồi chạy tiếp đến Díp-rôn và đi tới Kha-xa Ê-nan. Ðó sẽ là ranh giới phía bắc của anh em.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Sau đó, anh em sẽ vạch một đường làm ranh giới phía đông từ Kha-xa Ê-nan đến Sơ-pham. <sup>11</sup> Từ Sơ-pham, ranh giới đó sẽ đi xuống Ríp-la, ở phía đông A-gin. Ði xuống nữa, ranh giới đó sẽ tiếp giáp với các đồi phía đông biển hồ Kin-ne-rét; <sup>12</sup> rồi đi xuống theo dọc sông Gio-đan và đi tới Biển Muối. Ðó sẽ là đất của anh em với các ranh giới chung quanh.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông Mô-sê ra lệnh cho con cái Ít-ra-en: &#8220;Ðó là đất mà anh em sẽ bắt thăm để chia nhau làm gia nghiệp, đất mà Ðức Chúa đã truyền phải ban cho chín chi tộc và một nửa chi tộc.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Vì chi tộc con cái ông Rưu-vên, theo số các gia tộc của họ, chi tộc con cái Gát, theo số các gia tộc của họ đã lãnh phần gia nghiệp của họ rồi, và nửa chi tộc Mơ-na-se cũng đã lãnh phần gia nghiệp của họ. <sup>15</sup> Hai chi tộc và một nửa chi tộc này đã lãnh phần gia nghiệp của họ bên kia sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô, phía đông, phía mặt trời mọc.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Việc chia đất</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>17</sup> &#8220;Ðây là tên những người sẽ chia đất cho các ngươi làm gia nghiệp; tư tế E-la-da và Giô-suê, con của Nun. <sup>18</sup> Các ngươi sẽ lấy thêm một đầu mục, mỗi chi tộc một người, để phụ trách việc chia đất làm gia nghiệp. <sup>19</sup> Ðây là tên những người đó:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Chi tộc Giu-đa có Ca-lếp, con của Giơ-phun-ne;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> chi tộc con cái Si-mê-ôn, có Sơ-mu-ên, con của Am-mi-hút;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> chi tộc Ben-gia-min có Ê-li-đát, con của Kít-lôn;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> chi tộc con cái Ðan, có đầu mục Búc-ki, con của Gioóc-li;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> về con cái Giu-se, chi tộc con cái Mơ-na-se, có đầu mục Khan-ni-ên, con của Ê-phốt;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> chi tộc con cái Ép-ra-im, có đầu mục Cơ-mu-ên, con của Síp-tan;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> chi tộc con cái Dơ-vu-lun, có đầu mục Ê-li-xa-phan, con của Pác-nác;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> chi tộc con cái Ít-xa-kha, có đầu mục Pan-ti-ên, con của Át-dan;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> chi tộc con cái A-se, có đầu mục A-khi-hút, con của Sơ-lô-mi;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> chi tộc con cái Náp-ta-li, có đầu mục Pơ-đa-ên, con của Am-mi-hút.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ðó là những người Ðức Chúa đã truyền lệnh phải chia cho con cái Ít-ra-en các phần gia nghiệp trong đất Ca-na-an.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 35 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần dành cho các thầy Lê-vi</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê trong vùng thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô: <sup>2</sup> &#8220;Hãy ra lệnh cho con cái Ít-ra-en phải nhường một số thành, lấy trong gia nghiệp thuộc quyền sở hữu của chúng, cho các người Lê-vi ở; các ngươi cũng sẽ nhường cho các người Lê-vi những đồng cỏ chung quanh các thành ấy. <sup>3</sup> Các thành ấy sẽ là nơi chúng ở; còn các đồng cỏ thì dành cho mọi thú vật, súc vật và các vật dụng của chúng. <sup>4</sup> Ðồng cỏ chung quanh những thành các ngươi nhường cho người Lê-vi, sẽ rộng năm trăm thước kể từ tường thành trở ra.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Bên ngoài thành, các ngươi sẽ đo một ngàn thước phía đông, một ngàn thước phía nam, một ngàn thước phía tây, một ngàn thước phía bắc, còn thành thì ở giữa; đó sẽ là đồng cỏ thuộc các thành của chúng. <sup>6</sup> Những thành các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ là sáu thành trú ẩn: các ngươi để cho kẻ sát nhân đến đó nương náu; ngoài ra, các ngươi sẽ nhường thêm bốn mươi hai thành nữa. <sup>7</sup> Tổng số các thành nhường cho người Lê-vi sẽ là bốn mươi tám, cùng với đồng cỏ thuộc các thành ấy. <sup>8</sup> Các thành được nhường là những thành lấy trong số các thành thuộc quyền sở hữu của con cái Ít-ra-en: chi tộc nào có nhiều, các ngươi sẽ lấy nhiều; chi tộc nào có ít, các ngươi sẽ lấy ít; mỗi chi tộc sẽ nhường một số thành của mình cho người Lê-vi, tuỳ theo phần gia nghiệp mình đã nhận được.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các thành trú ẩn</strong> (Ðnl 9: 1-13; Gr 20: 1-9)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: <sup>10</sup> &#8220;Hãy bảo con cái Ít-ra-en rằng: Khi đi qua sông Gio-đan vào đất Ca-na-an, <sup>11</sup> các ngươi sẽ chọn một số thành làm thành trú ẩn cho các ngươi; kẻ nào đã vô ý làm thiệt mạng ai, thì sẽ có thể đến đó nương náu. <sup>12</sup> Các thành ấy sẽ là nơi các ngươi trú ẩn để tránh người đòi nợ máu, và như thế kẻ sát nhân sẽ không phải chết khi chưa được xét xử trước mặt cộng đồng. <sup>13</sup> Trong số những thành các ngươi nhường sẽ có sáu thành trú ẩn cho các ngươi: <sup>14</sup> ba thành các ngươi nhường bên kia sông Gio-đan, và ba thành các ngươi nhường trên đất Ca-na-an, sẽ là những thành trú ẩn. <sup>15</sup> Sáu thành đó sẽ là nơi trú ẩn cho con cái Ít-ra-en, cũng như cho khách ngoại kiều và người trú ngụ giữa các ngươi. Kẻ nào đã vô ý làm thiệt mạng ai, thì sẽ có thể đến đó nương náu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ai dùng đồ sắt mà đánh người khác chết, thì là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân sẽ phải bị xử tử. <sup>17</sup> Ai cầm trong tay một hòn đá chết người mà đánh người khác chết, thì là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân sẽ phải bị xử tử. <sup>18</sup> Ai cầm trong tay đồ vật bằng gỗ có thể giết người mà đánh người khác chết, thì là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân sẽ phải bị xử tử. <sup>19</sup> Chính người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân; khi gặp tên sát nhân, người đó sẽ giết nó.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Nếu ai vì căm hờn mà xô ngã người khác, hay cố tình ném vật gì trúng người ấy, làm cho người ấy chết, <sup>21</sup> hoặc ai vì thù ghét mà giơ tay đánh người ấy chết, kẻ đã đánh sẽ bị xử tử: đó là một kẻ sát nhân. Người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân, khi gặp nó. <sup>22</sup> Nhưng nếu vì ngẫu nhiên, chứ không phải vì thù ghét, ai xô ngã người khác, hay vô ý ném vật gì trúng người ấy, <sup>23</sup> hoặc ai vì không thấy mà đánh rơi trúng người ấy một hòn đá chết người, làm cho người ấy chết, tuy chẳng thù ghét cũng chẳng muốn hại người ấy, <sup>24</sup> cộng đồng sẽ chiếu theo các luật đó mà phân xử đôi bên: kẻ đã đánh và người đòi nợ máu. <sup>25</sup> Cộng đồng sẽ gỡ kẻ sát nhân khỏi tay người đòi nợ máu, rồi đưa nó trở về thành trú ẩn là nơi nó đã tới nương náu. Nó sẽ ở lại đó cho đến khi thượng tế, là người đã được xức dầu thánh, qua đời. <sup>26</sup> Nhưng nếu kẻ sát nhân ra khỏi ranh giới thành trú ẩn là nơi nó đã tới nương náu, <sup>27</sup> và người đòi nợ máu gặp thấy nó bên ngoài ranh giới thành nó trú ẩn, và giết nó, thì không mắc tội đổ máu. <sup>28</sup> Vì kẻ sát nhân phải ở lại trong thành nó trú ẩn cho đến khi thượng tế qua đời; chỉ khi nào thượng tế qua đời, kẻ sát nhân mới được trở về đất sở hữu của nó. <sup>29</sup> Ðó sẽ là những quy tắc pháp lý các ngươi phải tuân giữ qua mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các ngươi ở.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Trong mọi trường hợp đánh chết người, người ta sẽ dựa vào lời khai của các chứng nhân mà xử tử kẻ sát nhân. Nhưng lời khai của một chứng nhân duy nhất sẽ không thể làm cho ai bị kết án tử hình. <sup>31</sup> Các ngươi sẽ không được nhận tiền chuộc mạng một kẻ sát nhân can án chết: nó sẽ phải bị xử tử. <sup>32</sup> Các ngươi cũng không được nhận tiền chuộc cho phép kẻ đã trốn vào thành trú ẩn được về ở xứ sở, trước khi thượng tế qua đời. <sup>33</sup> Các ngươi sẽ không được làm nhiễm uế đất các ngươi ở, vì chính máu làm nhiễm uế đất ấy, và không có gì có thể tẩy rửa đất ấy khỏi máu đã đổ ra tại đó, ngoài máu của người đã làm đổ máu. <sup>34</sup> (Các) ngươi sẽ không gây ô nhục cho đất (các) ngươi ở, cũng là nơi Ta ngự; vì Ta là Ðức Chúa, Ta ngự giữa con cái Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 36 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Gia nghiệp của phụ nữ có chồng</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi đó, các gia trưởng của thị tộc con cái ông Ga-la-át, con ông Ma-khia, cháu ông Mơ-na-se, trong số các thị tộc con cái ông Giu-se, tiến đến và lên tiếng trước mặt ông Mô-sê và các đầu mục cũng là gia trưởng của con cái Ít-ra-en <sup>2</sup> mà rằng: &#8220;Ðức Chúa đã truyền lệnh cho đức ông phải dùng lối bắt thăm mà chia đất cho con cái Ít-ra-en làm gia nghiệp. Ðức ông cũng nhận được lệnh của Ðức Chúa bắt phải ban gia nghiệp của ông Xơ-lóp-khát, người anh em của chúng tôi, cho các con gái ông ấy. <sup>3</sup> Mà nếu các cô này lấy chồng thuộc các chi tộc con cái Ít-ra-en, gia nghiệp của họ sẽ bị xén khỏi gia nghiệp cha ông chúng tôi. Gia nghiệp của họ sẽ nhập vào gia nghiệp của chi tộc mà họ sẽ là thành viên, và như vậy phần gia nghiệp của chúng tôi sẽ bị xén bớt. <sup>4</sup> Ðến lúc con cái Ít-ra-en mừng năm toàn xá, gia nghiệp của họ sẽ nhập vào gia nghiệp của chi tộc mà họ là thành viên, và sẽ bị xén khỏi gia nghiệp của chi tộc cha ông chúng tôi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Theo lệnh của Ðức Chúa, ông Mô-sê truyền cho con cái Ít-ra-en rằng: &#8220;Chi tộc con cái ông Giu-se nói đúng. <sup>6</sup> Ðây là điều Ðức Chúa đã truyền về các con gái ông Xơ-lóp-khát: chúng sẽ lấy người vừa mắt chúng, nhưng chỉ được lấy người thuộc thị tộc trong chi tộc của cha chúng. <sup>7</sup> Như thế, gia nghiệp con cái Ít-ra-en sẽ không chuyển từ chi tộc này sang chi tộc khác, nhưng mỗi người con cái Ít-ra-en sẽ gắn bó với gia nghiệp của chi tộc cha ông mình. <sup>8</sup> Trong các chi tộc con cái Ít-ra-en, người con gái nào hưởng gia nghiệp, thì phải lấy chồng thuộc một trong các thị tộc của chi tộc cha mình, để mỗi người trong con cái Ít-ra-en giữ được gia nghiệp cha ông mình. <sup>9</sup> Không gia nghiệp nào được chuyển từ chi tộc này sang chi tộc khác, nhưng mỗi chi tộc con cái Ít-ra-en sẽ gắn bó với gia nghiệp của mình.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Các con gái ông Xơ-lóp-khát làm đúng như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê: <sup>11</sup> Mác-la, Tia-xa, Khoóc-la, Min-ca và Nô-va, là những con gái ông Xơ-lóp-khát, lấy các con trai của chú bác. <sup>12</sup> Họ đã lấy người thuộc các thị tộc con cái ông Mơ-na-se, con ông Giu-se, và như thế gia nghiệp của họ vẫn thuộc về thị tộc trong chi tộc cha họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ðó là những mệnh lệnh và luật lệ Ðức Chúa đã truyền cho con cái Ít-ra-en qua trung gian ông Mô-sê, trong vùng thảo nguyên Mô-áp, gần sông Gio-đan, đối diện với Giê-ri-khô.</span></p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/418/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=418&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2011/01/26/sach-dan-s%e1%bb%91/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Sách Lê Vi</title>
		<link>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2010/12/28/sach-le-vi/</link>
		<comments>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2010/12/28/sach-le-vi/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Dec 2010 20:34:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Giới trẻ Tân Độ</dc:creator>
				<category><![CDATA[I.3. Sách Lê Vi]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh thánh cựu ước]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://giotregiaoxutando.wordpress.com/?p=412</guid>
		<description><![CDATA[- Chương 01 - I. Nghi Thức Các Lễ Tế Lễ toàn thiêu 1 Ðức Chúa gọi ông Mô-sê, và từ Lều Hội Ngộ, Người phán với ông rằng: 2 &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi một người trong các ngươi dâng lễ tiến lên Ðức Chúa, nếu là gia súc [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=412&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 01 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">I. Nghi Thức Các Lễ Tế</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ toàn thiêu</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa gọi ông Mô-sê, và từ Lều Hội Ngộ, Người phán với ông rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi một người trong các ngươi dâng lễ tiến lên Ðức Chúa, nếu là gia súc thì các ngươi phải dâng bò hay chiên dê làm lễ tiến.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Nếu người ấy tiến dâng một con bò làm lễ toàn thiêu, thì phải tiến dâng một con đực toàn vẹn; người ấy sẽ tiến dâng nó ở cửa Lều Hội Ngộ, để được Ðức Chúa đoái nhận. <sup>4</sup> Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con vật dâng làm lễ toàn thiêu, và nó sẽ được đoái nhận để cử hành nghi thức xá tội cho người ấy. <sup>5</sup> Người ấy sẽ sát tế con bò tơ trước nhan Ðức Chúa, và các con A-ha-ron là các tư tế, sẽ tiến dâng máu; chúng sẽ rảy máu chung quanh bàn thờ đặt ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>6</sup> Người ấy sẽ lột da con vật dâng làm lễ toàn thiêu, và xả nó ra từng mảnh. <sup>7</sup> Các con A-ha-ron, là các tư tế, sẽ nhóm lửa trên bàn thờ và xếp củi trên lửa. <sup>8</sup> Các con A-ha-ron là các tư tế, sẽ xếp các mảnh thịt, cùng với đầu và mỡ, trên củi đặt trên lửa ở bàn thờ. <sup>9</sup> Còn lòng và chân, người ấy sẽ lấy nước mà rửa, rồi tư tế sẽ đốt tất cả cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là lễ toàn thiêu, lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><span id="more-412"></span><br />
</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Nếu người ấy tiến dâng chiên dê làm lễ toàn thiêu, một con chiên con hay một con dê, thì phải tiến dâng một con đực toàn vẹn. <sup>11</sup> Người ấy sẽ sát tế nó bên cạnh bàn thờ, về phía bắc, trước nhan Ðức Chúa, và các con A-ha-ron là các tư tế, sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ. <sup>12</sup> Người ấy sẽ xả nó ra từng mảnh, rồi tư tế sẽ xếp những mảnh ấy, cùng với đầu và mỡ, trên củi đặt trên lửa ở bàn thờ. <sup>13</sup> Còn lòng và chân, người ấy sẽ lấy nước mà rửa, rồi tư tế sẽ tiến dâng tất cả và đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là lễ toàn thiêu, lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>14</sup> Nếu người ấy tiến dâng lên Ðức Chúa một con chim làm lễ toàn thiêu, thì phải dâng chim gáy hoặc bồ câu non. <sup>15</sup> Tư tế sẽ tiến dâng nó tại bàn thờ, cấu đầu nó và đốt nó cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, máu thì bóp vào thành bàn thờ. <sup>16</sup> Tư tế sẽ lấy cái diều và bộ lông ra, ném bên cạnh bàn thờ, về phía đông, vào chỗ đổ tro. <sup>17</sup> Người ta sẽ chặt đôi nó ở giữa hai cánh, nhưng không tách hẳn ra; tư tế sẽ đốt nó cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, trên củi đặt trên lửa. Ðó là lễ toàn thiêu, lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 02 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ phẩm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi có ai tiến dâng lễ phẩm lên Ðức Chúa, thì phải dâng tinh bột; người ấy sẽ rưới dầu lên trên và đổ nhũ hương vào. <sup>2</sup> Người ấy sẽ đưa lễ phẩm đến cho các con A-ha-ron là các tư tế. Tư tế sẽ bốc một nắm đầy tinh bột, dầu và tất cả nhũ hương, rồi đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, làm kỷ vật dành cho Ðức Chúa. Ðó là lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>3</sup> Phần còn lại của lễ phẩm thì thuộc về A-ha-ron và các con nó; đó là phần rất thánh lấy từ các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Khi (các) ngươi dâng lễ phẩm là bột nhào nướng lò làm lễ tiến, thì đó phải là tinh bột làm thành bánh ngọt không men nhào với dầu, và làm thành bánh tráng không men phết dầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nếu lễ tiến của (các) ngươi là một lễ phẩm nướng chảo, thì phải là tinh bột nhào với dầu, không men. <sup>6</sup> (Các) ngươi sẽ bẻ nó ra từng miếng và rưới dầu lên trên. Ðó là lễ phẩm. <sup>7</sup> Nếu lễ tiến của (các) ngươi là một lễ phẩm nấu trong nồi, thì phải làm bằng tinh bột với dầu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> (Các) ngươi sẽ đem đến dâng Ðức Chúa lễ phẩm làm bằng các thứ ấy; người ta sẽ tiến dâng cho tư tế, tư tế sẽ đem đến gần bàn thờ. <sup>9</sup> Từ lễ phẩm ấy, tư tế sẽ lấy ra phần kỷ vật dành cho Ðức Chúa, đem đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Phần còn lại của lễ phẩm thì thuộc về A-ha-ron và các con; đó là phần rất thánh lấy từ các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Không lễ phẩm nào (các) ngươi tiến dâng Ðức Chúa được làm bằng chất lên men, vì (các) ngươi không bao giờ được lấy men và lấy mật ong mà đốt cho cháy nghi ngút làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>12</sup> (Các) ngươi có thể dâng những thứ ấy lên Ðức Chúa làm lễ tiến sản phẩm đầu mùa, nhưng không được đưa lên bàn thờ để thành hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>13</sup> (Các) ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm (các) ngươi dâng tiến; (các) ngươi không được để lễ phẩm (các) ngươi thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa (các) ngươi; (các) ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của (các) ngươi. <sup>14</sup> Nếu (các) ngươi tiến dâng Ðức Chúa của đầu mùa làm lễ phẩm, thì phải tiến dâng gié lúa rang, hột lúa mới đã xay, làm lễ phẩm của đầu mùa. <sup>15</sup> (Các) ngươi sẽ đổ dầu lên trên và bỏ nhũ hương vào. Ðó là lễ phẩm. <sup>16</sup> Tư tế sẽ đốt cho cháy nghi ngút phần kỷ vật dành cho Ðức Chúa, tức là một phần hột lúa xay và dầu cùng với tất cả nhũ hương. Ðó là lễ hoả tế dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 03 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hy lễ kỳ an</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Nếu lễ tiến của người ấy là một hy lễ kỳ an, và người ấy muốn tiến dâng bò đực hay bò cái, thì phải tiến dâng trước nhan Ðức Chúa một con vật toàn vẹn. <sup>2</sup> Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con vật dâng làm lễ tiến, và sẽ sát tế nó ở cửa Lều Hội Ngộ. Các con A-ha-ron, là các tư tế, sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ. <sup>3</sup> Người ấy sẽ tiến dâng một phần hy lễ kỳ an làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, đó là lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, tất cả lớp mỡ ở trên bộ lòng, <sup>4</sup> hai trái cật và lớp mỡ bọc ngoài, gần lưng, và khối mỡ trên gan mà người ấy sẽ tách ra cùng với các trái cật. <sup>5</sup> Các con A-ha-ron sẽ đốt những thứ ấy cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, bên trên lễ toàn thiêu đặt trên củi ở trên lửa. Ðó là lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Nếu người ấy tiến dâng chiên dê làm lễ kỳ an dâng Ðức Chúa, thì phải tiến dâng một con đực hay một con cái toàn vẹn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu người ấy dâng một chiên con làm lễ tiến, thì phải tiến dâng nó trước nhan Ðức Chúa. <sup>8</sup> Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con vật dâng làm lễ tiến, và sẽ sát tế nó trước Lều Hội Ngộ. Các con A-ha-ron sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ. <sup>9</sup> Người ấy sẽ tiến dâng một phần hy lễ kỳ an làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, đó là: mỡ của nó, trọn cái đuôi mà người ấy sẽ cắt sát xương cùng, lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, tất cả lớp mỡ ở trên bộ lòng, <sup>10</sup> hai trái cật và lớp mỡ bọc ngoài, gần lưng, và khối mỡ trên gan mà người ấy sẽ tách ra cùng với các trái cật. <sup>11</sup> Tư tế sẽ đốt những thứ ấy cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là thức ăn hoả tế dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nếu lễ tiến của người ấy là một con dê, thì phải tiến dâng nó trước nhan Ðức Chúa. <sup>13</sup> Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con vật, và sẽ sát tế nó trước cửa Lều Hội Ngộ. Các con A-ha-ron sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ. <sup>14</sup> Người ấy sẽ tiến dâng một phần con vật làm lễ tiến, làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, đó là: lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, tất cả lớp mỡ ở trên bộ lòng, <sup>15</sup> hai trái cật và lớp mỡ bọc ngoài, gần lưng, và khối mỡ trên gan mà người ấy sẽ tách ra cùng với các trái cật. <sup>16</sup> Tư tế sẽ đốt những thứ ấy cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là thức ăn hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðây là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở: tất cả những gì là mỡ và huyết, các ngươi không được ăn.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 04 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ tạ tội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>a. Tạ tội cho tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Khi có người nào vô ý phạm tội trái với một trong các mệnh lệnh của Ðức Chúa và làm một trong những điều không được làm, <sup>3</sup> nếu là tư tế đã được xức dầu tấn phong mà phạm tội, khiến dân cũng mắc lỗi, thì vì tội đã phạm, nó phải tiến dâng một con bò tơ toàn vẹn lên Ðức Chúa làm lễ tạ tội. <sup>4</sup> Nó sẽ đưa con bò đến cửa Lều Hội Ngộ trước nhan Ðức Chúa; nó sẽ đặt tay trên đầu con bò và sát tế con bò trước nhan Ðức Chúa. <sup>5</sup> Tư tế đã được xức dầu tấn phong sẽ lấy một phần máu con bò và đưa vào Lều Hội Ngộ. <sup>6</sup> Tư tế sẽ nhúng ngón tay vào máu và rảy máu đó bảy lần trước nhan Ðức Chúa, phía trước màn trướng thánh điện. <sup>7</sup> Tư tế sẽ bôi máu lên các góc cong của bàn thờ dâng hương thơm đặt trong Lều Hội Ngộ, trước nhan Ðức Chúa, rồi đổ tất cả máu bò còn lại xuống chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu đặt ở cửa Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Còn tất cả mỡ của con bò dâng làm lễ tạ tội, nó sẽ trích riêng ra, đó là: lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, tất cả lớp mỡ ở trên bộ lòng, <sup>9</sup> hai trái cật và lớp mỡ bọc ngoài, gần lưng, và khối mỡ trên gan mà nó sẽ tách ra cùng với các trái cật &#8211; <sup>10</sup> giống như phần trích riêng ra từ con bò dâng làm hy lễ kỳ an &#8211; rồi tư tế sẽ đốt những thứ ấy cho cháy nghi ngút trên bàn thờ dâng lễ toàn thiêu. <sup>11</sup> Còn da con bò, tất cả thịt của nó, cùng với đầu, chân, lòng và phân của nó, <sup>12</sup> tóm lại tất cả con bò, thì tư tế sẽ đưa ra ngoài trại, ở một nơi thanh sạch, chỗ đổ tro, và thiêu trên củi đang cháy; nó sẽ được thiêu tại chính nơi đổ tro.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>b. Tạ tội cho cộng đồng Ít-ra-en</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nếu toàn thể cộng đồng Ít-ra-en vô ý phạm tội và đại hội không nhận thấy điều đó, nếu chúng làm một trong những điều mà mệnh lệnh Ðức Chúa cấm làm, khiến chúng mắc lỗi, <sup>14</sup> nhưng rồi chúng biết được tội đã phạm, thì đại hội phải tiến dâng một bò tơ làm lễ tạ tội, và sẽ đưa nó đến trước Lều Hội Ngộ. <sup>15</sup> Các kỳ mục của cộng đồng sẽ đặt tay trên đầu con bò, trước nhan Ðức Chúa, và người ta sẽ sát tế con bò trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Tư tế đã được xức dầu tấn phong sẽ đem một phần máu con bò vào Lều Hội Ngộ. <sup>17</sup> Tư tế sẽ nhúng ngón tay vào máu và rảy bảy lần trước nhan Ðức Chúa, phía trước màn trướng. <sup>18</sup> Tư tế sẽ bôi máu vào các góc cong của bàn thờ đặt trong Lều Hội Ngộ, trước nhan Ðức Chúa, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu đặt ở cửa Lều Hội Ngộ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Còn tất cả mỡ, tư tế sẽ lấy riêng ra và đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. <sup>20</sup> Nó sẽ tế con bò này như đã tế con bò dâng làm lễ tạ tội; tư tế sẽ tế nó như vậy. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho chúng và chúng sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Tư tế sẽ đưa con bò ra ngoài trại và thiêu nó như đã thiêu con bò trước. Ðó là lễ tạ tội cho đại hội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>c. Tạ tội cho một đầu mục</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nếu một đầu mục phạm tội, và vô ý làm một trong những điều mà mệnh lệnh Ðức Chúa, Thiên Chúa của nó, cấm làm, khiến nó mắc lỗi, <sup>23</sup> nếu người ta cho nó biết tội nó đã phạm, thì nó phải đưa đến một con dê làm lễ tiến, một con đực toàn vẹn. <sup>24</sup> Nó sẽ đặt tay trên đầu con dê và sát tế trước nhan Ðức Chúa, ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. Ðó là lễ tạ tội. <sup>25</sup> Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu lễ vật tạ tội và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ máu còn lại xuống chân bàn thờ dâng lễ toàn thiêu. <sup>26</sup> Còn tất cả mỡ, tư tế sẽ đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, như mỡ của hy lễ kỳ an. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy khỏi tội của mình, và người ấy sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>d. Tạ tội cho một thường dân</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Nếu một thường dân vô ý phạm tội, làm một trong những điều mà mệnh lệnh của Ðức Chúa cấm làm, khiến nó mắc lỗi, <sup>28</sup> nếu người ta cho nó biết tội nó đã phạm, thì vì tội đã phạm, nó sẽ đưa đến một con dê làm lễ tiến, một dê cái toàn vẹn. <sup>29</sup> Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. <sup>30</sup> Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu con vật và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ. <sup>31</sup> Còn tất cả mỡ, tư tế sẽ tách ra như người ta tách mỡ ra khỏi hy lễ kỳ an, rồi tư tế sẽ đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ thành hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy, và người ấy sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Nếu người ấy đem dâng tiến một con chiên làm lễ tạ tội, thì phải đem đến một con chiên cái toàn vẹn. <sup>33</sup> Người ấy sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế làm lễ tạ tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. <sup>34</sup> Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu lễ vật tạ tội và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ. <sup>35</sup> Còn tất cả mỡ, tư tế sẽ tách ra như người ta tách mỡ của con chiên dâng làm hy lễ kỳ an, rồi tư tế sẽ đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, bên trên các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy, vì tội người ấy đã phạm, và người ấy sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 05 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Một số trường hợp phải dâng lễ tạ tội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Khi một người nào phạm tội, vì tuy là nhân chứng về một việc đã thấy hoặc đã biết, mà không chịu nói ra sau khi đã nghe lời khuyến cáo long trọng, thì nó phải mang lấy tội một mình;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> hoặc khi một người nào đụng đến bất cứ vật gì ô uế -như xác chết một dã thú ô uế, xác chết một gia súc ô uế, xác chết một con vật ô uế- mà không biết, thì nó trở nên ô uế và mắc lỗi;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> hoặc khi người ấy đụng đến một cái gì ô uế của người ta &#8211; những thứ ô uế khiến người ta trở nên ô uế &#8211; mà không biết, thì sau khi biết, nó mắc lỗi;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> hoặc khi một người nào lỡ lời mà thề làm điều gì bất kỳ tốt xấu &#8211; trong mọi điều một người có thể lỡ lời mà thề &#8211; nhưng không biết, thì sau khi biết, nó mắc lỗi về một trong những điều ấy.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Vậy khi ai mắc lỗi về một trong những điều trên, thì nó phải xưng thú tội mình đã phạm, <sup>6</sup> rồi phải đưa đến dâng Ðức Chúa lễ vật đền tội vì tội đã phạm, là một con chiên cái hay một con dê cái làm lễ tạ tội, và tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó khỏi tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ tạ tội cho một thường dân</strong> (tiếp)</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nếu người ấy không có phương tiện kiếm được chiên dê, thì vì tội đã phạm, nó phải đưa đến dâng Ðức Chúa lễ vật đền tội, là một đôi chim gáy hay một đôi bồ câu non, một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. <sup>8</sup> Nó sẽ đưa đôi chim đến cho tư tế. Trước tiên tư tế sẽ tiến dâng con chim làm lễ tạ tội; tư tế sẽ cấu đầu con chim ở gần gáy, nhưng không tách hẳn ra; <sup>9</sup> tư tế sẽ rảy máu lễ vật tạ tội vào thành bàn thờ, phần máu còn lại sẽ được bóp vào chân bàn thờ. Ðó là lễ tạ tội. <sup>10</sup> Còn con thứ hai, tư tế sẽ dâng làm lễ toàn thiêu như luật định. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho nó khỏi tội đã phạm, và nó sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Nếu người ấy không thể kiếm được một đôi chim gáy hay một đôi bồ câu non, thì vì tội đã phạm, nó phải đưa đến dâng lễ tiến, là bốn lít rưỡi tinh bột làm lễ tạ tội. Người ấy sẽ không đổ dầu lên trên, cũng không bỏ hương vào, vì đó là lễ tạ tội. <sup>12</sup> Người ấy sẽ đưa đến cho tư tế, tư tế sẽ bốc một nắm làm phần kỷ vật dành cho Ðức Chúa và đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, bên trên các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>13</sup> Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho nó, vì tội nó đã phạm trái với một trong những điều trên, và nó sẽ được tha. Tư tế sẽ có phần, như khi người ta dâng lễ phẩm.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lễ đền tội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> &#8220;Khi một người nào bất trung, vô ý phạm đến những của thánh dành cho Ðức Chúa, thì phải đem dâng Ðức Chúa lễ vật đền tội, là một con chiên đực toàn vẹn bắt từ bầy chiên, giá trị bằng một số chỉ bạc &#8211; tính theo đơn vị đo lường của thánh điện &#8211; để làm lễ đền tội.16 Tội nó đã làm thiệt thánh điện bao nhiêu, nó sẽ phải đền, cộng thêm một phần năm, và nộp cho tư tế. Tư tế sẽ dùng con chiên đực dâng làm lễ chuộc tội mà cử hành lễ xá tội cho nó, và nó sẽ được tha.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Nếu một người nào phạm tội và vô tình làm một trong những điều mệnh lệnh Ðức Chúa cấm làm, thì nó mắc lỗi và phải mang lấy tội mình. <sup>18</sup> Nó phải đưa đến cho tư tế một con chiên đực toàn vẹn bắt từ bầy chiên, giá trị như đã quy định, để làm lễ đền tội. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó về tội nó đã vô ý phạm mà không biết, và nó sẽ được tha. <sup>19</sup> Ðó là lễ đền tội; nó quả là mắc lỗi với Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> &#8220;Khi một người nào phạm tội và bất trung với Ðức Chúa, vì đã từ chối không trả cho người đồng bào một vật ký thác, một vật gởi tay hay một vật mất trộm, hoặc vì đã bóc lột người đồng bào, <sup>22</sup> hoặc vì đã từ chối không trả một vật bắt được, khi nó đã thề gian về một trong những điều trên là những tội người ta có thể phạm, <sup>23</sup> thì kẻ phạm tội và mắc lỗi như thế phải trả lại vật mình đã ăn trộm, hoặc của đã bóc lột, hoặc cái đã được ký thác cho mình, hoặc vật bị mất mà mình đã bắt được, <sup>24</sup> hoặc bất cứ vật nào mà nó đã thề gian là không giữ. Nó phải đền đầy đủ, cộng thêm một phần năm, và phải nộp cho chủ của, ngày mà nó dâng lễ đền tội. <sup>25</sup> Nó phải đem dâng Ðức Chúa lễ vật đền tội, là một con chiên đực toàn vẹn bắt từ bầy chiên, giá trị như đã quy định, nộp cho tư tế làm lễ vật đền tội. <sup>26</sup> Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó trước nhan Ðức Chúa, thì nó sẽ được tha, bất kể nó đã làm gì khiến mình mắc lỗi.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 06 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Hàng tư tế và các lễ tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Lễ thượng hiến</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy truyền cho A-ha-ron và các con nó: Ðây là luật về lễ toàn thiêu. Lễ vật toàn thiêu phải ở trên lò trên bàn thờ suốt đêm cho đến sáng, và lửa phải cháy luôn trên bàn thờ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Tư tế sẽ mặc áo vải gai và mặc quần đùi vải gai che mình; nó sẽ hốt tro lễ toàn thiêu mà lửa đã đốt trên bàn thờ, và đổ bên cạnh bàn thờ. <sup>4</sup> Nó sẽ cởi phẩm phục ra, mặc phẩm phục khác vào, rồi đưa tro ra ngoài trại, ở một nơi thanh sạch.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn không tắt: sáng sáng, tư tế sẽ đốt củi trên đó, xếp lễ vật toàn thiêu lên trên và đốt mỡ của lễ vật kỳ an. <sup>6</sup> Lửa phải thường xuyên cháy trên bàn thờ, không bao giờ tắt.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Lễ phẩm</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ðây là luật về lễ phẩm:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Từ lễ phẩm đó, tư tế sẽ trích ra một nắm tinh bột, dầu và tất cả nhũ hương ở trên lễ phẩm, rồi đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, thành hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa, đó là phần kỷ vật dành cho Ðức Chúa. <sup>9</sup> Phần còn lại của lễ phẩm thì A-ha-ron và các con sẽ được ăn; phần đó sẽ được làm thành bánh không men và ăn trong một nơi thánh; chúng sẽ ăn nó tại khuôn viên Lều Hội Ngộ. <sup>10</sup> Phần đó không được trộn men mà nướng. Ðó là phần Ta ban cho chúng từ các lễ hoả tế dâng cho Ta; đó là của rất thánh, giống như lễ tạ tội và lễ đền tội. <sup>11</sup> Mọi đàn ông con trai trong các con A-ha-ron sẽ được ăn phần ấy; đó là quy luật vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, trong những lễ hoả tế dâng Ðức Chúa; tất cả những gì chạm đến các vật ấy sẽ được thánh hiến.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> &#8220;Ðây là lễ tiến mà A-ha-ron và các con sẽ dâng lên Ðức Chúa ngày được xức dầu tấn phong; bốn lít rưỡi tinh bột làm lễ phẩm thường xuyên, một nửa ban sáng và một nửa ban chiều. <sup>14</sup> Lễ phẩm ấy sẽ được chiên trên chảo, với dầu. Sau khi trộn kỹ, ngươi sẽ đem dâng lễ phẩm ấy là bánh đã bẻ thành miếng: đó là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>15</sup> Trong số các con A-ha-ron, tư tế được xức dầu tấn phong để kế vị nó, cũng sẽ làm như thế: đó là quy luật vĩnh viễn. Lễ phẩm sẽ được đốt trọn vẹn cho cháy nghi ngút dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Mọi lễ phẩm của tư tế phải được dâng trọn vẹn, không được ăn.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Lễ tạ tội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron và các con nó:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðây là luật về lễ tạ tội:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Tư tế cử hành lễ tạ tội được ăn lễ vật đó; lễ vật sẽ được ăn trong một nơi thánh, trong khuôn viên Lều Hội Ngộ, <sup>20</sup> tất cả những gì chạm đến thịt lễ vật sẽ được thánh hiến; nếu có máu bắn vào quần áo, thì ngươi phải giặt chỗ có máu bắn vào, trong một nơi thánh. <sup>21</sup> Nồi đất đã dùng để nấu lễ vật sẽ phải đập vỡ, còn nếu nó đã được nấu trong nồi đồng, thì nồi đó phải được cọ sạch và rửa bằng nước. <sup>22</sup> Mọi đàn ông con trai thuộc hàng tư tế sẽ được ăn: đó là của rất thánh. <sup>23</sup> Nhưng mọi lễ vật tạ tội mà máu đã được mang vào Lều Hội Ngộ để cử hành lễ xá tội trong nơi thánh, thì không được ăn; lễ vật đó phải bỏ vào lửa mà thiêu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 07 -</span></strong></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Lễ đền tội</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðây là luật về lễ đền tội, về một của rất thánh:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Phải sát tế lễ vật đền tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu, và tư tế sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ. <sup>3</sup> Tư tế sẽ tiến dâng tất cả mỡ của nó: cái đuôi, lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, <sup>4</sup> hai trái cật và lớp mỡ bọc ngoài, gần lưng, và khối mỡ trên gan mà tư tế sẽ tách ra cùng với các trái cật. <sup>5</sup> Tư tế sẽ đốt những thứ ấy cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. Ðó là lễ đền tội. <sup>6</sup> Mọi đàn ông con trai thuộc hàng tư tế sẽ được ăn; lễ vật ấy sẽ được ăn trong một nơi thánh: đó là của rất thánh.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quyền lợi của các tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Lễ tạ tội thế nào, lễ đền tội cũng vậy: chỉ có một luật duy nhất cho cả hai. Tư tế nào dâng lễ vật để cử hành lễ xá tội, thì lễ vật sẽ thuộc về tư tế đó. <sup>8</sup> Tư tế tiến dâng lễ toàn thiêu của người nào, thì da của lễ vật mà tư tế đó tiến dâng sẽ thuộc về tư tế đó. <sup>9</sup> Mọi lễ phẩm nướng trong lò, mọi lễ phẩm nấu trong nồi hay chiên trên chảo sẽ thuộc về tư tế tiến dâng lễ phẩm ấy. <sup>10</sup> Mọi lễ phẩm nhào với dầu hay để khô sẽ thuộc về các con A-ha-ron.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ð. Hy lễ kỳ an</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>a. Hy lễ tạ ơn</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ðây là luật về hy lễ kỳ an tiến dâng Ðức Chúa:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nếu tiến dâng hy lễ kỳ an kèm với lễ tạ ơn, thì cùng với hy lễ tạ ơn, phải tiến dâng bánh ngọt không men nhào với dầu, bánh tráng không men phết dầu và tinh bột trộn kỹ làm thành bánh nhào với dầu. <sup>13</sup> Cùng với bánh ngọt đó, phải dâng bánh có men làm lễ tiến, kèm theo lễ kỳ an. <sup>14</sup> Phải tiến dâng một phần lấy từ mọi lễ tiến làm phần trích dâng Ðức Chúa. Phần ấy sẽ thuộc về tư tế đã rảy máu của lễ vật kỳ an. <sup>15</sup> Còn thịt của hy lễ kỳ an để tạ ơn, thì phải ăn trong chính ngày tiến dâng, không được để lại gì cho đến sáng hôm sau.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>b. Lễ vật đã khấn hứa hay lễ vật tự nguyện</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nếu hy lễ tiến dâng là lễ vật đã khấn hứa hay lễ vật tự nguyện, thì phải ăn trong chính ngày tiến dâng hy lễ; phần còn lại, được ăn ngày hôm sau. <sup>17</sup> Sang ngày thứ ba, những gì còn lại của hy lễ, phải bỏ vào lửa mà thiêu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy tắc chung</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Sang ngày thứ ba mà người ta cứ ăn thịt của hy lễ kỳ an, thì người tiến dâng hy lễ sẽ không được đoái nhận; nó sẽ không được kể là đã dâng hy lễ: đó là thịt ôi, và người nào ăn thì phải mang tội.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Thịt đã chạm đến bất cứ cái gì ô uế, thì không được ăn, nhưng phải bỏ vào lửa mà thiêu.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Nhưng người nào ở trong tình trạng ô uế mà ăn thịt của hy lễ kỳ an dâng Ðức Chúa, thì sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ. <sup>21</sup> Người nào chạm tới bất cứ cái gì ô uế &#8211; cái gì ô uế của người ta, hay loài vật ô uế, hay bất cứ vật ô uế kinh tởm nào &#8211; mà ăn thịt của hy lễ kỳ an dâng Ðức Chúa, thì người ấy sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Tất cả những gì là mỡ, mỡ bò, mỡ chiên hay mỡ dê, các ngươi không được ăn. <sup>24</sup> Mỡ của con vật chết và mỡ của con vật bị thú dữ xé, có thể dùng vào mọi việc, nhưng tuyệt đối các ngươi không được ăn. <sup>25</sup> Phàm ai ăn mỡ con vật mà người ta đã dâng tiến một phần làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, thì chính người ăn sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Tại khắp nơi các ngươi ở, tất cả những gì là tiết, dù là tiết chim hay tiết loài vật, các ngươi không được ăn. <sup>27</sup> Phàm người nào ăn bất cứ cái gì là tiết, thì sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phần của tư tế</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Ai tiến dâng Ðức Chúa hy lễ kỳ an, thì sẽ đem đến một phần hy lễ kỳ an của mình làm lễ tiến, dâng Ðức Chúa. 30 Chính tay người ấy sẽ đem đến những lễ hoả tế của Ðức Chúa là mỡ kèm theo cái ức, nó sẽ đem cái ức đến để làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa. <sup>31</sup> Tư tế sẽ đốt mỡ cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, còn cái ức thì thuộc về A-ha-ron và các con nó. <sup>32</sup> Các ngươi sẽ cho tư tế cái đùi phải, làm phần trích ra từ hy lễ kỳ an của các ngươi. <sup>33</sup> Người nào trong các con A-ha-ron dâng tiến máu và mỡ của lễ kỳ an, thì cái đùi phải sẽ là phần của nó. <sup>34</sup> Thật vậy, cái ức đã tiến dâng theo nghi thức và cái đùi đã trích ra, thì Ta lấy của con cái Ít-ra-en, từ các hy lễ kỳ an của chúng, và Ta ban cho tư tế A-ha-ron và các con nó: đó là quy luật vĩnh viễn cho con cái Ít-ra-en.&#8221;</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Ðó là phần của ông A-ha-ron và phần của các con ông, lấy từ các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, từ ngày họ được tiến dâng để làm tư tế của Ðức Chúa. 36 Phần đó, Ðức Chúa đã truyền cho con cái Ít-ra-en tặng cho họ, từ ngày Người xức dầu tấn phong họ: đó là quy tắc vĩnh viễn cho họ từ thế hệ này qua thế hệ kia.</span></p>
<p style="text-align:justify;"><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Ðó là luật về lễ toàn thiêu, lễ phẩm, lễ tạ tội, lễ đền tội, lễ trao quyền và hy lễ kỳ an; <sup>38</sup> luật đó, Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê trên núi Xi-nai, trong ngày Người truyền cho con cái Ít-ra-en dâng Ðức Chúa các lễ tiến của họ trong sa mạc Xi-nai.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 08 -</span></strong></p>
<p><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">II. Lễ Tấn Phong Tư Tế</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nghi thức thánh hiến</strong> (Xh 29: 1-37)</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy đem theo A-ha-ron cùng với các con nó, và lấy các phẩm phục, dầu tấn phong, con bò dùng làm lễ tạ tội, hai con cừu đực và giỏ bánh không men. <sup>3</sup> Rồi hãy tập hợp toàn thể cộng đồng ở cửa Lều Hội Ngộ.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ông Mô-sê làm như Ðức Chúa đã truyền cho ông, và cộng đồng tụ tập ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>5</sup> Ông Mô-sê nói với cộng đồng: &#8220;Ðây là điều Ðức Chúa truyền phải làm.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Mô-sê cho ông A-ha-ron và các con ông ấy đến gần, và lấy nước tắm rửa họ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ông mặc áo dài cho ông ấy, thắt đai lưng, choàng áo khoác, và đặt áo ê-phốt trên ông; ông lấy băng chéo của áo ê-phốt thắt cho ông và cho ông mặc áo ấy; <sup>8</sup> ông đeo khăn ngực cho ông ấy và bỏ các thẻ xăm u-rim và tum-mim vào khăn ngực; <sup>9</sup> ông lấy mũ tế đội lên đầu ông ấy và đính vào phía trước mũ tế huy hiệu bằng vàng, là dấu thánh hiến, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ông Mô-sê lấy dầu tấn phong xức Nhà Tạm cùng mọi vật ở trong, và thánh hiến tất cả; <sup>11</sup> ông lấy dầu rảy trên bàn thờ bảy lần, rồi xức dầu bàn thờ cùng mọi đồ phụ thuộc, vạc và đế vạc, để thánh hiến những vật đó. <sup>12</sup> Ông đổ dầu tấn phong lên đầu ông A-ha-ron và xức dầu để thánh hiến ông.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ông cho các con ông A-ha-ron đến gần, mặc áo dài cho họ, thắt đai lưng và lấy mũ đội lên đầu họ, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ông Mô-sê cho dẫn con bò dùng làm lễ tạ tội đến. Ông A-ha-ron và các con ông đặt tay lên đầu con bò dùng làm lễ tạ tội. <sup>15</sup> Ông Mô-sê sát tế nó, lấy máu nó và dùng ngón tay mà bôi vào các góc cong ở chung quanh bàn thờ, và xoá tội cho bàn thờ; ông đổ máu còn lại xuống chân bàn thờ, và cử hành lễ xoá tội cho bàn thờ để thánh hiến. <sup>16</sup> Ông Mô-sê lấy tất cả lớp mỡ ở trên bộ lòng, khối mỡ gan, hai trái cật với lớp mỡ, mà đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. <sup>17</sup> Nhưng con bò, da, thịt và phân nó, thì ông bỏ vào lửa mà thiêu bên ngoài trại, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông cho dẫn con cừu đực dùng làm lễ toàn thiêu đến gần. Ông A-ha-ron và các con ông đặt tay lên đầu con cừu. <sup>19</sup> Ông Mô-sê sát tế nó và rảy máu chung quanh bàn thờ; <sup>20</sup> ông xả con cừu ra từng mảnh, rồi đốt cái đầu, các mảnh đã xẻ và mỡ cho cháy nghi ngút. <sup>21</sup> Còn lòng và chân, ông Mô-sê lấy nước mà rửa, rồi ông đốt tất cả con cừu cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Ðó là lễ toàn thiêu, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông cho dẫn con cừu đực thứ hai đến gần, con cừu dùng cho lễ trao quyền. Ông A-ha-ron và các con ông đặt tay lên nó. <sup>23</sup> Ông Mô-sê sát tế nó, rồi lấy máu bôi vào trái tai phải ông A-ha-ron, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải ông; <sup>24</sup> ông Mô-sê cho các con ông A-ha-ron lại gần và lấy máu bôi vào trái tai phải của họ, vào ngón cái tay phải của họ, và vào ngón cái chân phải của họ; ông Mô-sê rảy máu chung quanh bàn thờ. <sup>25</sup> Ông lấy mỡ, đuôi, tất cả lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, khối mỡ của gan, hai trái cật với lớp mỡ, và đùi phải. <sup>26</sup> Từ trong giỏ bánh không men ở trước nhan Ðức Chúa, ông lấy ra một tấm bánh ngọt không men, một tấm bánh ngọt chiên với dầu và một tấm bánh tráng, và đặt lên trên mỡ và đùi phải. <sup>27</sup> Tất cả những thứ đó, ông đặt trên bàn tay ông A-ha-ron và trên bàn tay các con ông ấy, rồi làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa. <sup>28</sup> Sau đó, ông lấy lại các vật ấy từ bàn tay họ, và đem đốt cho cháy nghi ngút ở bàn thờ, bên trên lễ vật toàn thiêu. Ðó là hy lễ dâng trong ngày trao quyền, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa, là lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>29</sup> Ông Mô-sê lấy cái ức và làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa; đó là phần dành cho ông Mô-sê, lấy từ con cừu dâng trong lễ trao quyền, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Ông Mô-sê lấy dầu tấn phong và lấy máu trên bàn thờ rảy trên ông A-ha-ron và phẩm phục của ông, trên các con ông ấy và phẩm phục của họ; như thế ông thánh hiến ông A-ha-ron và phẩm phục của ông, các con ông và phẩm phục của họ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron và các con ông: &#8220;Hãy nấu thịt ở cửa Lều Hội Ngộ, ở đó hãy ăn thịt và ăn bánh để trong giỏ dùng trong lễ trao quyền, như tôi đã truyền rằng: &#8220;Ông A-ha-ron và các con sẽ ăn thứ ấy. <sup>32</sup> Thịt và bánh còn thừa, ông và anh em hãy bỏ vào lửa mà thiêu. <sup>33</sup> Trong vòng bảy ngày, ông và anh em không được ra khỏi Lều Hội Ngộ, cho đến khi mãn thời gian làm lễ trao quyền cho ông và anh em, vì người ta sẽ làm lễ trao quyền cho ông và anh em trong vòng bảy ngày. <sup>34</sup> Ðức Chúa đã truyền phải làm như hôm nay người ta đã làm để cử hành lễ xá tội cho ông và anh em. <sup>35</sup> Trong vòng bảy ngày, ông và anh em phải ở lại cửa Lều Hội Ngộ, ngày và đêm, phải giữ điều Ðức Chúa truyền giữ, để ông và anh em khỏi chết. Ðó là lệnh truyền tôi đã nhận được.&#8221; <sup>36</sup> Ông A-ha-ron và các con đã làm điều Ðức Chúa dùng ông Mô-sê mà truyền.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 09 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các tư tế nhậm chức</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðến ngày thứ tám, ông Mô-sê gọi ông A-ha-ron và các con ông ấy, cũng như các kỳ mục Ít-ra-en, <sup>2</sup> và nói với ông A-ha-ron: &#8220;Ông hãy bắt một con bê để làm lễ tạ tội, với một con cừu đực để làm lễ toàn thiêu, cả hai còn toàn vẹn, và hãy tiến dâng chúng trước nhan Ðức Chúa. <sup>3</sup> Rồi ông hãy nói với con cái Ít-ra-en rằng: &#8220;Hãy bắt một con dê đực để làm lễ tạ tội, một con bê với một con chiên, cả hai phải được một tuổi, toàn vẹn, để làm lễ toàn thiêu, <sup>4</sup> một con bò đực và một con dê đực để làm lễ kỳ an dâng trước nhan Ðức Chúa, và một lễ phẩm nhào với dầu; vì hôm nay Ðức Chúa sẽ xuất hiện giữa anh em.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Họ đưa đến trước Lều Hội Ngộ những gì ông Mô-sê đã truyền, rồi toàn thể cộng đồng lại gần và đứng trước nhan Ðức Chúa. <sup>6</sup> Ông Mô-sê nói: &#8220;Ðây là điều Ðức Chúa đã truyền cho anh em; anh em hãy thi hành để vinh quang Ðức Chúa xuất hiện giữa anh em.&#8221; <sup>7</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron: &#8220;Ông hãy lại gần bàn thờ, hãy dâng lễ tạ tội và lễ toàn thiêu của ông, để làm lễ xá tội cho ông và cho dân, rồi hãy dâng lễ tiến của dân để cử hành lễ xá tội cho họ, như Ðức Chúa đã truyền.&#8221; <sup>8</sup> Ông A-ha-ron lại gần bàn thờ và sát tế con bê để làm lễ tạ tội cho chính mình. <sup>9</sup> Các con ông A-ha-ron đem máu lại cho ông; ông nhúng ngón tay vào máu, bôi lên các góc cong của bàn thờ, rồi đổ máu xuống trên bàn thờ. <sup>10</sup> Mỡ, hai trái cật và khối mỡ lấy từ gan của lễ vật tạ tội, thì ông đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê; <sup>11</sup> còn thịt và da, ông bỏ vào lửa mà thiêu bên ngoài trại.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông sát tế lễ vật toàn thiêu; các con ông A-ha-ron mang máu đến cho ông, và ông rảy máu chung quanh bàn thờ. <sup>13</sup> Họ cũng mang đến cho ông lễ vật toàn thiêu đã xả thành mảnh, cùng với cái đầu, và ông đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. <sup>14</sup> Ông rửa lòng và chân nó, rồi đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, bên trên lễ toàn thiêu.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ông dâng lễ tiến của dân: ông bắt con dê đực dùng làm lễ tạ tội cho dân, sát tế và dâng nó làm lễ tạ tội như con trước. <sup>16</sup> Ông dâng tiến lễ toàn thiêu và làm như luật định. <sup>17</sup> Ông tiến dâng lễ phẩm: ông bốc một nắm đầy lễ phẩm và đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ, thêm vào lễ toàn thiêu buổi sáng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ông sát tế con bò đực, và con cừu đực làm hy lễ kỳ an cho dân; các con ông A-ha-ron mang máu đến cho ông, và ông rảy máu chung quanh bàn thờ. <sup>19</sup> Mỡ con bò và mỡ con cừu, cái đuôi, mỡ chài, hai trái cật và khối mỡ của gan, <sup>20</sup> thì họ đặt trên những cái ức, và ông đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. <sup>21</sup> Ức và đùi phải, thì ông A-ha-ron làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa, như ông Mô-sê đã truyền.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ông A-ha-ron giơ tay trên dân và chúc phúc cho họ; rồi ông đi xuống, sau khi đã cử hành lễ tạ tội, lễ toàn thiêu và lễ kỳ an. <sup>23</sup> Ông Mô-sê và ông A-ha-ron vào Lều Hội Ngộ, rồi đi ra chúc phúc cho dân. Vinh quang Ðức Chúa xuất hiện giữa toàn dân. <sup>24</sup> Lửa phát ra từ trước nhan Ðức Chúa đốt sạch lễ toàn thiêu và mỡ trên bàn thờ. Thấy thế, toàn dân reo mừng và cúi rạp xuống.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 10 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy định bổ sung</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Trường hợp Na-đap và A-vi-hu</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Hai người con của ông A-ha-ron là Na-đáp và A-vi-hu, mỗi người lấy bình hương của mình, bỏ lửa vào, rồi đặt hương lên trên, họ tiến dâng Ðức Chúa lửa phàm tục, điều mà Người đã không truyền cho họ. <sup>2</sup> Bấy giờ lửa từ trước nhan Ðức Chúa phát ra, thiêu sống họ, họ đã chết trước nhan Ðức Chúa. <sup>3</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron: &#8220;Ðó là điều Ðức Chúa đã phán:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Giữa các kẻ đến gần Ta,</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ta sẽ biểu dương sự thánh thiện của Ta;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">trước mặt toàn dân, Ta sẽ cho thấy vinh quang của Ta.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ông A-ha-ron lặng thinh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Khiêng xác đi</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ông Mô-sê gọi các ông Mi-sa-ên và En-xa-phan, con ông Út-di-ên là chú ông A-ha-ron, và bảo họ: &#8220;Các chú lại đây, khiêng các người anh em của các chú từ nơi thánh ra ngoài trại.&#8221; <sup>5</sup> Họ lại gần, khiêng hai người kia vẫn còn mặc áo dài, đưa ra ngoài trại, như ông Mô-sê đã nói.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Tang chế của tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron và hai người con ông ấy là E-la-da và I-tha-ma: &#8220;Ông và các anh đừng xoã tóc cũng đừng xé áo, để khỏi phải chết, và để Người khỏi nổi giận với toàn thể cộng đồng. Các người anh em của ông và các anh cùng toàn thể nhà Ít-ra-en sẽ khóc những kẻ Ðức Chúa đã thiêu. <sup>7</sup> Ông và các anh cũng không được rời cửa Lều Hội Ngộ, để khỏi phải chết, vì ông và các anh đã được xức dầu tấn phong của Ðức Chúa.&#8221; Họ làm theo lời ông Mô-sê.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Cấm uống rượu</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ðức Chúa phán với ông A-ha-ron rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> &#8220;Ngươi cùng các con ngươi không được uống rượu và đồ uống có men, khi các ngươi vào Lều Hội Ngộ, kẻo các ngươi phải chết. Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi. <sup>10</sup> Như vậy là để phân biệt của thánh với của phàm tục, vật ô uế với vật thanh sạch, <sup>11</sup> và để dạy con cái Ít-ra-en mọi thánh chỉ Ðức Chúa đã dùng ông Mô-sê mà phán với các ngươi.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ð. Phần lễ tiến dành cho tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ông Mô-sê nói với ông A-ha-ron và hai người con còn lại của ông ấy là E-la-da và I-tha-ma: &#8220;Ông và các anh hãy lấy phần lễ phẩm còn lại sau khi đã dâng hoả tế lên Ðức Chúa, và hãy làm thành bánh không men mà ăn bên cạnh bàn thờ, vì đó là của rất thánh. <sup>13</sup> Ông và các anh hãy ăn trong một nơi thánh, vì đó là quyền lợi của ông và quyền lợi của con cái ông, mỗi khi có lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. Ðó là lệnh truyền tôi đã nhận được.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Còn cái ức đã tiến dâng theo nghi thức trước nhan Ðức Chúa và cái đùi đã trích ra, ông cùng các con trai con gái ông sẽ ăn trong một nơi thanh sạch, vì những thứ ấy là phần quy định cho ông và phần quy định cho các con ông, mỗi khi con cái Ít-ra-en dâng hy lễ kỳ an. <sup>15</sup> Cái đùi trích ra và cái ức tiến dâng theo nghi thức, người ta sẽ đem đến cùng với các phần mỡ làm lễ hoả tế, để làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa; rồi đùi và ức đó sẽ là của ông và các con ông. Ðó là quy luật vĩnh viễn, như Ðức Chúa đã truyền.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>E. Quy định đặc biệt về lễ tạ tội</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ông Mô-sê hỏi đi hỏi lại về con dê đực dâng làm lễ tạ tội và thấy là nó đã bị thiêu. Ông nổi giận với hai người con còn lại của ông A-ha-ron là E-la-da và I-tha-ma, và nói: <sup>17</sup> &#8220;Tại sao các anh không ăn lễ vật tạ tội trong nơi thánh, vì đó là của rất thánh? Người đã ban nó cho các anh để xoá bỏ tội lỗi của cộng đồng, để cử hành lễ xá tội cho họ trước nhan Ðức Chúa. <sup>18</sup> Vì máu nó đã không được đưa vào nơi thánh, nên lẽ ra các anh phải ăn nó trong nơi thánh, như tôi đã truyền.&#8221; <sup>19</sup> Ông A-ha-ron nói với ông Mô-sê: &#8220;Này, hôm nay chúng đã tiến dâng lễ tạ tội và lễ toàn thiêu của chúng trước nhan Ðức Chúa. Sau khi sự việc đã xảy đến cho tôi như thế, nếu hôm nay tôi ăn lễ vật tạ tội, thì liệu điều ấy có vừa lòng Ðức Chúa không?&#8221; <sup>20</sup> Nghe vậy, ông Mô-sê lấy làm vừa lòng.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 11 -</span></strong></p>
<p><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">III. Luật Liên Quan Ðến Cái Thanh Sạch Và Cái Ô Uế</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Loài vật thanh sạch và loài vật ô uế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Vật trên đất</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron và bảo các ông rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Trong tất cả các loài vật sống trên đất, đây là những loài các ngươi được ăn:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Mọi con vật có chân chẻ làm hai móng và thuộc loài nhai lại, thì các ngươi được ăn. <sup>4</sup> Tuy nhiên, trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, các ngươi không được ăn các con này: con lạc đà, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; <sup>5</sup> con ngân thử, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; <sup>6</sup> con thỏ rừng, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là ô uế; <sup>7</sup> con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại: các ngươi phải coi nó là loài ô uế. <sup>8</sup> Thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi không được đụng đến; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Vật dưới nước</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Trong tất cả các loài sống dưới nước, đây là những loài các ngươi được ăn:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Còn tất cả những loài không có vây, không có vảy, ở sông hay ở biển, trong số mọi vật nhỏ sống dưới nước và mọi sinh vật sống dưới nước, thì các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm. <sup>11</sup> Các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm: thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi phải coi là vật kinh tởm. <sup>12</sup> Tất cả những loài sống dưới nước mà không có vây, không có vảy, các ngươi phải coi là loài kinh tởm.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Chim chóc</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Trong các loài chim, đây là những loài các ngươi phải coi là kinh tởm: người ta không được ăn, vì là loài kinh tởm: đại bàng, diều hâu, ó biển, <sup>14</sup> diều hâu đen, mọi thứ kền kền, <sup>15</sup> mọi thứ quạ, <sup>16</sup> đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt, <sup>17</sup> cú vọ, cóc, cú mèo,18 chim lợn, bồ nông, ó, <sup>19</sup> cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Côn trùng có cánh</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Mọi loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm. <sup>21</sup> Trong các loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi chỉ được ăn những thứ sau đây: những con ngoài chân ra có thêm càng để nhảy trên đất. <sup>22</sup> Trong số những loài đó, đây là những loài các ngươi được ăn: mọi thứ cào cào, mọi thứ châu chấu, mọi thứ muỗm, mọi thứ dế. <sup>23</sup> Nhưng mọi vật nhỏ có cánh mà có bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ðụng vào loài vật ô uế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Vì các vật ấy, các ngươi sẽ ra ô uế: ai đụng vào xác chết của chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều, <sup>25</sup> bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều. <sup>26</sup> Mọi con vật không có chân chẻ làm hai móng và không nhai lại, các ngươi phải coi là loài ô uế: bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế. <sup>27</sup> Trong số các loài vật đi bằng bốn chân, tất cả các con đi bằng bàn chân, các ngươi phải coi là loài ô uế; bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều. <sup>28</sup> Bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều; các ngươi phải coi chúng là vật ô uế.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ð. Vật nhỏ sống trên mặt đất</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế: chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ thằn lằn, <sup>30</sup> tắc kè, kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, thạch sùng.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy định khác về việc đụng vào vật ô uế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Trong số mọi loài vật nhỏ, các ngươi phải coi những loài trên là ô uế. Bất cứ ai đụng đến chúng khi chúng đã chết, thì sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Trong những con vật đó, con nào chết mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế, dù là đồ dùng bằng gỗ, quần áo, da, bị, mọi đồ dùng để làm một công việc gì; phải nhúng vật ấy vào nước, nó sẽ ra ô uế cho đến chiều, rồi sẽ được thanh sạch. <sup>33</sup> Nếu một con vật rơi vào trong bất cứ bình sành nào, thì tất cả những gì trong đó sẽ ra ô uế, và các ngươi phải đập vỡ bình ấy. <sup>34</sup> Mọi thứ người ta ăn, nếu bị nước bình ấy đổ lên trên, thì sẽ ra ô uế; mọi thứ người ta uống, đựng trong bất cứ bình nào nói trên, sẽ ra ô uế. <sup>35</sup> Một xác chết của chúng mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế; lò và bếp sẽ phải phá đi: các vật ấy là ô uế và các ngươi phải coi là những vật ô uế. <sup>36</sup> Tuy nhiên suối và hầm nước thì khối nước vẫn thanh sạch, nhưng ai đụng đến xác chết của chúng, sẽ ra ô uế. <sup>37</sup> Nếu một xác chết của chúng rơi trên hạt giống để gieo, thì hạt giống vẫn thanh sạch; <sup>38</sup> nhưng nếu đã đổ nước vào hạt giống, mà một xác chết của chúng rơi trên đó, thì các ngươi phải coi hạt giống đó là ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Nếu một con vật làm đồ ăn cho các ngươi mà chết, thì ai đụng vào xác chết của nó, sẽ ra ô uế cho đến chiều; <sup>40</sup> ai ăn thịt xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều; ai mang xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>41</sup> Mọi loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất là vật kinh tởm, không được ăn. <sup>42</sup> Mọi con vật bò bằng bụng, mọi thứ đi bằng bốn chân hay nhiều chân hơn, tóm lại mọi loài vật lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi không được ăn, vì chúng là vật kinh tởm. <sup>43</sup> Các ngươi đừng làm cho chính mình ra kinh tởm vì mọi loài vật nhỏ lúc nhúc, các ngươi đừng làm cho mình ra ô uế vì chúng: các ngươi sẽ ra ô uế vì chúng. <sup>44</sup> Thật vậy, Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi; các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là Ðấng Thánh; các ngươi đừng làm cho chính mình ra ô uế vì mọi loài vật nhỏ bò trên đất. <sup>45</sup> Thật vậy, Ta là Ðức Chúa, Ðấng đã đưa các ngươi từ đất Ai-cập lên, để Ta làm Thiên Chúa của các ngươi; vậy các ngươi phải thánh thiện vì Ta là Ðấng Thánh.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Ðó là luật về loài vật, chim chóc, mọi sinh vật vẫy vùng dưới nước và mọi sinh vật lúc nhúc trên mặt đất, <sup>47</sup> để phân biệt vật ô uế với vật thanh sạch, loài vật được ăn với loài vật không được ăn.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 12 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thanh tẩy đàn bà mới ở cữ</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Khi một người đàn bà có thai và sinh con trai, thì sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt. <sup>3</sup> Ðến ngày thứ tám, đứa trẻ sẽ được cắt bì nơi da quy đầu. <sup>4</sup> Rồi người đàn bà phải đợi ba mươi ba ngày cho máu được thanh tẩy; nó không được đụng đến vật thánh nào và không được vào thánh điện, cho đến khi mãn thời gian thanh tẩy của mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nếu sinh con gái, thì người đàn bà sẽ ra ô uế trong vòng hai tuần, như khi có kinh; rồi nó phải đợi sáu mươi sáu ngày cho máu được thanh tẩy.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Khi mãn thời gian thanh tẩy, dù sinh con trai hay con gái, nó phải đem đến cho tư tế, ở cửa Lều Hội Ngộ, một con chiên một tuổi làm lễ toàn thiêu, và một bồ câu non hay một chim gáy làm lễ tạ tội. <sup>7</sup> Tư tế sẽ tiến dâng chúng trước nhan Ðức Chúa và cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ được thanh tẩy sau khi đã xuất huyết.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu không có phương tiện kiếm được chiên, thì nó sẽ bắt một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non, một con để làm lễ toàn thiêu, một con để làm lễ tạ tội. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, và nó sẽ ra thanh sạch.&#8221;</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 13 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Bệnh phong hủi ở người</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Nhọt, lác, đốm</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Khi trên da thịt người nào phát ra nhọt, lác hoặc đốm, và cái đó trở thành vết thương phong hủi, thì người ta sẽ đưa người ấy đến với tư tế A-ha-ron hoặc với một trong các tư tế, con của A-ha-ron. <sup>3</sup> Tư tế sẽ khám vết thương trên da thịt nó: nếu lông ở vết thương đã chuyển sang màu trắng và vết thương xem ra lõm vào da thịt, thì đó là vết thương phong hủi; sau khi khám, tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế. <sup>4</sup> Nếu là đốm trắng trên da thịt, mà xem ra không lõm vào da, và lông không chuyển sang màu trắng, thì tư tế sẽ cô lập người mắc vết thương trong vòng bảy ngày. <sup>5</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám nó: nếu chính mắt tư tế thấy là vết thương vẫn y nguyên, không lan ra trên da, thì tư tế sẽ lại cô lập nó trong vòng bảy ngày nữa. <sup>6</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ tái khám nó: nếu vết thương đã mờ đi và không lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch: đó là lác; nó sẽ giặt áo và sẽ ra thanh sạch.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Nhưng nếu lác cứ lan ra trên da, sau khi người ấy đã được tư tế khám để được tuyên bố là thanh sạch, thì nó phải được tư tế tái khám. <sup>8</sup> Tư tế sẽ khám: nếu lác đã lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là bệnh phong hủi.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Phong hủi kinh niên</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi trên người nào có vết thương phong hủi, thì phải đưa nó đến với tư tế. <sup>10</sup> Tư tế sẽ khám: nếu ở trên da có nhọt trắng, và nhọt ấy làm cho lông chuyển sang màu trắng, và trong nhọt có thịt đỏ lòm sùi ra, <sup>11</sup> thì đó là bệnh phong hủi kinh niên ở da thịt nó. Tư tế sẽ tuyên bố nó là ô uế; tư tế sẽ không cô lập nó, vì nó là ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Nhưng nếu phong hủi ấy cứ loang ra trên da và phủ tất cả da của người bệnh, từ đầu đến chân, bất kỳ đâu đâu mắt tư tế nhìn thấy, <sup>13</sup> thì tư tế sẽ khám: nếu phong hủi phủ tất cả da, thì tư tế sẽ tuyên bố người bệnh là thanh sạch: nó đã chuyển tất cả ra màu trắng, nó thanh sạch. <sup>14</sup> Nhưng ngày nào thấy người ấy có chỗ thịt đỏ lòm, thì nó sẽ ra ô uế; <sup>15</sup> tư tế sẽ khám chỗ thịt đỏ lòm và sẽ tuyên bố người ấy là ô uế; thịt đỏ lòm là ô uế: đó là bệnh phong hủi. <sup>16</sup> Hoặc khi thịt đỏ lòm lại chuyển sang màu trắng, thì nó sẽ đến với tư tế; <sup>17</sup> tư tế sẽ khám nó: nếu vết thương đã chuyển sang màu trắng, tư tế sẽ tuyên bố vết thương là thanh sạch: người ấy thanh sạch.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Ung</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi người nào có ung ở da mà đã khỏi, <sup>19</sup> nhưng ở chỗ cái ung lại có một nhọt trắng hay một đốm trắng đỏ nhạt, thì nó phải để cho tư tế khám. <sup>20</sup> Tư tế sẽ khám: nếu đốm ấy xem ra ăn sâu vào da và lông đã chuyển sang màu trắng, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là một vết thương phong hủi đã loang ra chỗ cái ung. <sup>21</sup> Nhưng nếu khi tư tế khám mà thấy ở đó không có lông trắng, cái ung không ăn sâu vào da và đã mờ đi, thì tư tế sẽ cô lập nó trong vòng bảy ngày. <sup>22</sup> Nếu vết đốm cứ loang ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là một vết thương. <sup>23</sup> Nhưng nếu vết đốm vẫn y nguyên, không lan ra, thì đó là sẹo của cái ung: tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Phỏng</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Trường hợp khác: khi người nào có chỗ phỏng lửa trên da và ở chỗ phỏng có đốm trắng đỏ nhạt hoặc trắng, <sup>25</sup> thì tư tế sẽ khám chỗ ấy: nếu lông ở đốm đã chuyển sang màu trắng, và vết đốm xem ra lõm vào da, thì đó là phong hủi loang ra ở chỗ phỏng; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là vết thương phong hủi. <sup>26</sup> Nhưng nếu khi tư tế khám mà thấy vết đốm không có lông trắng, không ăn sâu vào da và đã mờ đi, thì tư tế sẽ cô lập người ấy trong vòng bảy ngày. <sup>27</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người ấy: nếu vết đốm cứ lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là vết thương phong hủi. <sup>28</sup> Nhưng nếu vết đốm cứ y nguyên, không lan ra trên da, và đã mờ đi, thì đó là một cái nhọt do phỏng gây ra; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch, vì đó là sẹo của chỗ phỏng.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ð. Chốc</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Khi một người đàn ông hay một người đàn bà có vết thương ở đầu hoặc cằm, <sup>30</sup> thì tư tế sẽ khám vết thương: nếu nó xem ra lõm vào da, có lông vàng và nhỏ, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là chốc, tức là phong hủi ở đầu hay ở cằm. <sup>31</sup> Nhưng nếu khi tư tế khám vết thương chốc, mà nó xem ra không lõm vào da và không có lông đen, thì tư tế sẽ cô lập người có vết thương chốc trong vòng bảy ngày. <sup>32</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương: nếu chốc không lan ra, không có lông vàng và chốc xem ra không lõm vào da, <sup>33</sup> thì người ấy phải cạo đầu cạo cằm nhưng không cạo chỗ chốc, rồi tư tế sẽ lại cô lập người bị chốc trong vòng bảy ngày nữa. <sup>34</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám chỗ chốc: nếu chỗ chốc không lan ra trên da và xem ra không lõm vào da, thì tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch; nó sẽ giặt áo và sẽ ra thanh sạch. <sup>35</sup> Nhưng nếu chỗ chốc cứ lan ra trên da, sau khi người ấy được tuyên bố là thanh sạch, <sup>36</sup> thì tư tế sẽ khám người ấy: nếu chỗ chốc đã lan ra trên da, thì tư tế sẽ không phải tìm xem có lông vàng không; người ấy ô uế. <sup>37</sup> Nhưng nếu chính mắt tư tế thấy là chỗ chốc vẫn y nguyên và có lông đen mọc ở đó, thì chỗ chốc đã khỏi và người ấy là thanh sạch; tư tế sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>E. Lang ben</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>38</sup> Khi trên da thịt một người đàn ông hay một người đàn bà phát ra những đốm, những đốm trắng, <sup>39</sup> thì tư tế sẽ khám: nếu những đốm trên da thịt họ trắng đục, thì đó là lang ben đã loang ra trên da: họ thanh sạch.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>G. Sói đầu</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Người rụng tóc ở đầu là người sói đầu: người ấy thanh sạch. <sup>41</sup> Người rụng tóc phía trước là người sói trán: người ấy thanh sạch. <sup>42</sup> Nhưng nếu chỗ sói đầu hoặc sói trán có vết thương trắng đỏ nhạt, thì đó là phong hủi loang ra ở chỗ sói đầu hoặc sói trán. <sup>43</sup> Tư tế sẽ khám người ấy: nếu nhọt ở vết thương có màu trắng đỏ nhạt ở chỗ sói đầu hoặc sói trán, trông giống như phong hủi da thịt, <sup>44</sup> thì người ấy bị phong hủi: người ấy ô uế. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế; nó bị vết thương ở đầu.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy chế người phong hủi</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>45</sup> Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: &#8220;Ô uế! Ô uế!&#8221; <sup>46</sup> Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phong hủi ở quần áo</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Khi áo có vết phong hủi, áo len hay áo gai,48 áo dệt hay áo đan bằng gai hoặc bằng len, hoặc da hay bất cứ đồ vật gì bằng da, <sup>49</sup> nếu vết ấy xanh hay đỏ nhạt trên áo, trên da, trên áo dệt hoặc đan, hay trên bất cứ đồ vật gì bằng da, thì đó là vết phong hủi: phải đưa cho tư tế khám. <sup>50</sup> Tư tế sẽ khám vết ấy và để riêng đồ vật có vết ra, trong vòng bảy ngày. <sup>51</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết ấy: nếu vết đã lan ra trên áo, áo dệt hay áo đan, trên da, trên bất cứ đồ vật gì làm bằng da, thì đó là phong hủi dễ lây: vật đó là ô uế. <sup>52</sup> Người ta phải đốt áo dệt hay áo đan bằng len hay bằng gai, hay bất cứ đồ vật gì bằng da có vết, vì đó là phong hủi dễ lây; đồ vật ấy phải bỏ vào lửa mà thiêu.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>53</sup> Nhưng nếu khi tư tế khám, vết ấy không lan ra trên áo, áo dệt hoặc áo đan, hay trên bất cứ đồ vật gì bằng da, <sup>54</sup> thì tư tế sẽ truyền giặt đồ vật có vết, rồi lại để riêng nó ra, trong vòng bảy ngày nữa. <sup>55</sup> Sau khi vết đã được gột rửa, tư tế sẽ khám: nếu vết ấy không thay đổi hình dạng và không lan ra, thì đồ vật ấy là ô uế, các ngươi phải bỏ vào lửa mà thiêu: đó là đồ vật bị ăn thủng mặt phải hay mặt trái.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>56</sup> Nhưng nếu khi tư tế khám, vết ấy đã mờ đi sau khi gột rửa, thì tư tế sẽ xé chỗ đó ra khỏi áo hay khỏi da, khỏi áo dệt hoặc áo đan. <sup>57</sup> Nếu nó lại xuất hiện trên áo, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, thì đó là phong hủi đã loang ra: ngươi phải bỏ đồ vật có vết vào lửa mà thiêu. <sup>58</sup> Áo, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, các ngươi đã giặt mà vết đã biến đi, thì sẽ được giặt một lần thứ hai, và sẽ thanh sạch.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>59</sup> Ðó là luật về vết phong hủi trên áo bằng len hoặc bằng gai, áo dệt hoặc áo đan, hay bất cứ đồ vật gì bằng da, để dựa vào đó mà tuyên bố đồ vật ấy thanh sạch hay ô uế.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 14 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ngày thứ tám, nó sẽ lấy hai con chiên đực toàn vẹn, một con chiên cái toàn vẹn, một tuổi, mười ba lít rưỡi tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm, và nửa lít dầu. <sup>11</sup> Tư tế cử hành lễ thanh tẩy sẽ đặt người được thanh tẩy cùng với các lễ vật trước nhan Ðức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>12</sup> Tư tế sẽ bắt một con chiên, tiến dâng làm lễ đền tội cùng với nửa lít dầu, và tư tế sẽ làm nghi thức tiến dâng những thứ ấy trước nhan Ðức Chúa. <sup>13</sup> Tư tế sẽ sát tế con chiên ở nơi sát tế lễ vật tạ tội và lễ vật toàn thiêu, trong nơi thánh; &#8211; vì lễ vật đền tội thuộc về tư tế, cũng như lễ vật tạ tội: đó là của rất thánh. &#8211; <sup>14</sup> Tư tế sẽ lấy máu lễ vật đền tội bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó. <sup>15</sup> Tư tế sẽ lấy nửa lít dầu, đổ một ít vào lòng bàn tay trái; <sup>16</sup> Tư tế sẽ nhúng một ngón tay phải vào dầu ở trong lòng bàn tay trái và lấy ngón tay rảy dầu bảy lần trước nhan Ðức Chúa. <sup>17</sup> Tư tế sẽ lấy dầu còn lại trong lòng bàn tay bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó, bên trên máu lễ vật đền tội. <sup>18</sup> Chỗ dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi lên đầu người được thanh tẩy. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó trước nhan Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Tư tế sẽ làm lễ tạ tội và sẽ cử hành lễ xá tội cho người đang được thanh tẩy khỏi sự ô uế, sau đó sẽ sát tế lễ vật toàn thiêu. <sup>20</sup> Tư tế sẽ dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm trên bàn thờ; tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ thanh sạch.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Nếu nó nghèo không thể kiếm được những thứ ấy, thì nó sẽ chỉ bắt một con chiên đực dùng làm lễ đền tội, người ta sẽ làm nghi thức tiến dâng con chiên ấy để cử hành lễ xá tội cho nó; nó cũng sẽ lấy bốn lít tinh bột nhào với dầu làm lễ phẩm, một nửa lít dầu, <sup>22</sup> và một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non, là những thứ nó có thể kiếm được, một con sẽ dùng làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. <sup>23</sup> Ðến ngày thứ tám, nó sẽ mang những thứ ấy đến cho tư tế, ở cửa lều Hội Ngộ, trước nhan Ðức Chúa, để được thanh tẩy. <sup>24</sup> Tư tế sẽ lấy con chiên dâng làm lễ đền tội và nửa lít dầu mà làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa. <sup>25</sup> Tư tế sẽ sát tế con chiên làm lễ đền tội, rồi lấy máu lễ vật đền tội bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó. <sup>26</sup> Tư tế sẽ đổ một ít dầu vào lòng bàn tay trái; <sup>27</sup> tư tế sẽ dùng một ngón tay phải lấy dầu ở trong lòng bàn tay trái rảy bảy lần trước nhan Ðức Chúa. <sup>28</sup> Tư tế sẽ lấy dầu trong lòng bàn tay bôi vào trái tai phải người được thanh tẩy, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải nó, ở chỗ đã bôi máu lễ vật đền tội. <sup>29</sup> Chỗ dầu còn lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ bôi lên đầu người được thanh tẩy, để cử hành lễ xá tội cho nó trước nhan Ðức Chúa. <sup>30</sup> Còn đôi chim gáy hay cặp bồ câu non, là những thứ người ấy có thể kiếm được, <sup>31</sup> thì trong những con chim nó đã có thể kiếm được, tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu kèm với lễ phẩm. Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho người được thanh tẩy, trước nhan Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ðó là luật về người có vết thương phong hủi mà không thể kiếm được cái cần thiết cho lễ nghi thanh tẩy của mình.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phong hủi nơi nhà cửa</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> &#8220;Khi các ngươi vào đất Ca-na-an mà Ta ban cho các ngươi làm sở hữu, nếu Ta đặt một vết phong hủi vào một nhà trong đất là sở hữu các ngươi, <sup>35</sup> thì chủ nhà sẽ đến báo cho tư tế rằng: &#8220;Tôi thấy trong nhà tôi có cái gì như vết phong hủi.&#8221; <sup>36</sup> Trước khi vào khám vết đó, tư tế sẽ truyền dọn trống nhà, để không có vật gì trong nhà ra ô uế; sau đó tư tế sẽ vào khám nhà. <sup>37</sup> Tư tế sẽ khám vết: nếu vết ở các tường nhà làm thành những chỗ lõm xanh xanh hoặc đỏ đỏ xem ra như ăn sâu vào tường, <sup>38</sup> thì tư tế sẽ ra khỏi nhà, đến tận cửa, và cô lập căn nhà trong vòng bảy ngày. <sup>39</sup> Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ trở lại khám: nếu vết đã lan ra các tường nhà, <sup>40</sup> thì tư tế sẽ truyền gỡ những viên đá có vết và ném ra ngoài thành, vào một nơi ô uế; <sup>41</sup> rồi tư tế sẽ cho cạo tất cả bên trong nhà và đổ vữa đã cạo ra ngoài thành, vào một nơi ô uế. <sup>42</sup> Người ta sẽ lấy những viên đá khác thay vào các viên đá trước, và lấy vữa khác mà trát nhà.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Nếu vết lại loang ra trong nhà, sau khi đã gỡ đá ra, sau khi đã cạo và trát nhà, <sup>44</sup> thì tư tế sẽ đến khám: nếu vết đã lan ra trong nhà, thì đó là phong hủi dễ lây trong nhà, nhà đó ô uế. <sup>45</sup> Người ta sẽ phá nhà đi: đá, gỗ, tất cả vữa của nhà ấy, người ta sẽ đưa ra ngoài thành, vào một nơi ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Ai vào nhà trong suốt thời gian nhà bị cô lập, sẽ ra ô uế cho đến chiều. <sup>47</sup> Ai ngủ trong nhà sẽ phải giặt áo, ai ăn trong nhà sẽ phải giặt áo. <sup>48</sup> Nhưng nếu khi tư tế vào khám, vết đã không lan ra trong nhà sau khi trát lại nhà, thì tư tế sẽ tuyên bố nhà ấy là thanh sạch, vì vết phong hủi đã lành.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>49</sup> Ðể xoá tội cho nhà ấy, tư tế sẽ lấy hai con chim, gỗ bá hương, phẩm cánh kiến và cành hương thảo. <sup>50</sup> Tư tế sẽ sát tế một con chim trên một bình sành đựng nước mạch. <sup>51</sup> Tư tế sẽ lấy gỗ bá hương, cành hương thảo, phẩm cánh kiến và con chim còn sống, nhúng vào máu con chim đã bị sát tế và vào nước mạch, và rảy vào nhà bảy lần; <sup>52</sup> sau khi đã dùng máu con chim, dùng nước mạch, con chim còn sống, gỗ bá hương, cành hương thảo và phẩm cánh kiến mà xoá tội cho căn nhà, <sup>53</sup> tư tế sẽ thả con chim còn sống ra ngoài đồng, ở ngoài thành. Tư tế sẽ cử hành nghi thức xá tội cho căn nhà, và nhà ấy sẽ thanh sạch.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>54</sup> Ðó là luật về mọi vết phong hủi, về chốc, <sup>55</sup> về phong hủi nơi áo và nhà cửa, <sup>56</sup> về nhọt, lác, đốm, <sup>57</sup> để xác định khi nào một vật ô uế, khi nào thanh sạch.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ðó là luật về phong hủi.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 15 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ô uế về sinh dục</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Ðàn ông</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi bất cứ một người đàn ông nào mắc bệnh lậu trong thân thể, thì bệnh lậu đó làm nó ra ô uế. <sup>3</sup> Sự ô uế của nó khi có bệnh lậu là thế này:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Dù thân thể nó tiết ra hay giữ lại mủ lậu, thì nó cũng mắc phải ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Mọi giường người bị lậu nằm, sẽ ra ô uế, mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Người nào đụng vào giường của nó, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ai ngồi lên đồ vật người bị lậu đã ngồi lên, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ai đụng đến thân thể người bị lậu, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu người bị lậu nhổ vào một người thanh sạch, người này sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Mọi cái yên người bị lậu cưỡi lên sẽ ra ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Bất cứ ai đụng vào một đồ vật nào mà người ấy nằm hay ngồi lên, sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ai mang một đồ vật như thế, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Người bị lậu chưa rửa tay mà đụng vào bất cứ người nào, thì người ấy sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Bình sành người bị lậu đụng vào, sẽ phải đập vỡ, còn mọi bình gỗ sẽ được rửa bằng nước.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Khi người bị lậu được lành bệnh, nó phải tính bảy ngày mới được thanh tẩy; nó phải giặt áo, lấy nước tắm rửa thân thể, và nó sẽ ra thanh sạch. <sup>14</sup> Ngày thứ tám, nó sẽ bắt một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu non, đến trước nhan Ðức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ, mà đưa cho tư tế. <sup>15</sup> Tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu; tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, trước nhan Ðức Chúa, vì nó đã bị lậu.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Khi một người đàn ông xuất tinh, thì phải lấy nước tắm rửa thân thể, và sẽ ra ô uế cho đến chiều, <sup>17</sup> khi có xuất tinh mà giây ra bất cứ áo hay đồ da nào, thì sẽ phải lấy nước mà giặt rửa, và những thứ ấy sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi một người đàn bà giao hợp với một người đàn ông, thì cả hai phải lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Ðàn bà</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Khi một người đàn bà ra huyết, huyết từ thân thể chảy ra, thì nó sẽ ra ô uế bảy ngày vì có kinh.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Bất cứ ai đụng vào nó, sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Mọi cái gì nó nằm khi có kinh, sẽ ra ô uế, mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế. <sup>21</sup> Bất cứ ai đụng vào giường của nó, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều. <sup>22</sup> Bất cứ ai đụng vào đồ vật nó đã ngồi lên, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều. <sup>23</sup> Nếu có cái gì trên giường hoặc trên đồ vật nó đã ngồi lên, thì ai đụng đến cái đó, sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Nếu một người đàn ông cứ nằm với nó, thì sự ô uế của kinh nguyệt của nó sẽ truyền sang người ấy: người ấy sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, và bất cứ giường nào người ấy nằm, sẽ ra ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>25</sup> Khi một người đàn bà bị rong huyết trong vòng nhiều ngày, ngoài thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sự ô uế sẽ kéo dài suốt thời gian bị rong huyết; nó sẽ ra ô uế như trong thời gian có kinh. <sup>26</sup> Mọi giường nó nằm trong suốt thời gian rong huyết, sẽ ra ô uế như cái giường trong thời gian nó có kinh; mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế, như bị ô uế trong thời gian nó có kinh. <sup>27</sup> Bất cứ ai đụng vào những thứ đó, sẽ ra ô uế; nó sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Nếu nó không còn rong huyết, nó phải tính bảy ngày, sau đó sẽ được thanh sạch. <sup>29</sup> Ngày thứ tám, nó sẽ bắt một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu non và đem đến cho tư tế, ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>30</sup> Tư tế sẽ dâng một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. Trước nhan Ðức Chúa, tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó, khỏi chứng rong huyết làm cho nó ra ô uế.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Các ngươi hãy bảo con cái Ít-ra-en kiêng cữ khi bị ô uế, như vậy chúng sẽ không phải chết vì sự ô uế của chúng, khi chúng làm cho Nhà Tạm của Ta ở giữa chúng ra ô uế.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Ðó là luật về người bị bệnh lậu và người xuất tinh và bởi vậy ra ô uế, <sup>33</sup> về người khó ở vì kinh nguyệt, về người đàn ông bị lậu hay người đàn bà bị rong huyết, cũng như về người đàn ông nằm với người đàn bà bị ô uế.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 16 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Ngày xá tội</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê sau khi hai người con của ông A-ha-ron chết; chúng đã chết khi lại gần Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: &#8220;Hãy nói với A-ha-ron, anh ngươi, đừng vào bất cứ lúc nào trong thánh điện, phía sau màn trướng, trước nắp xá tội ở trên Hòm Bia, và như vậy nó sẽ không phải chết khi Ta hiện ra trong đám mây trên nắp xá tội.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> A-ha-ron sẽ vào thánh điện như thế này: Nó phải bắt một bò tơ để làm lễ tạ tội và một cừu đực để làm lễ toàn thiêu. <sup>4</sup> Nó sẽ mặc áo dài thánh bằng vải gai, mặc trên mình quần đùi vải gai, thắt đai lưng vải gai, đội mũ tế vải gai. Ðó là phẩm phục thánh, nó sẽ lấy nước tắm rửa thân thể trước khi mặc vào.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Nó sẽ nhận hai con dê đực để làm lễ tạ tội và một con cừu đực để làm lễ toàn thiêu, do cộng đồng con cái Ít-ra-en đem tới. <sup>6</sup> A-ha-ron sẽ tiến dâng con bò tơ làm lễ tạ tội cho chính mình, và sẽ cử hành lễ xá tội cho mình và cho nhà mình. <sup>7</sup> Nó sẽ lấy hai con dê và đặt trước nhan Ðức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ. <sup>8</sup> Nó sẽ bắt thăm chọn giữa hai con dê: một thăm &#8220;dành cho Ðức Chúa&#8221;, một thăm &#8220;dành cho quỷ A-da-dên.&#8221; <sup>9</sup> A-ha-ron sẽ tiến dâng con dê trúng thăm &#8220;dành cho Ðức Chúa&#8221; và dùng làm lễ tạ tội. <sup>10</sup> Còn con dê trúng thăm &#8220;dành cho A-da-dên&#8221;, A-ha-ron sẽ để sống và đặt trước nhan Ðức Chúa, để cử hành lễ xá tội trên nó và thả nó cho A-da-dên trong sa mạc.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> A-ha-ron sẽ tiến dâng con bò tơ dùng làm lễ tạ tội cho chính mình, và cử hành lễ xá tội cho mình và cho nhà mình: nó sẽ sát tế con bò tơ làm lễ tạ tội cho chính mình. <sup>12</sup> Nó sẽ lấy than hồng trên bàn thờ trước nhan Ðức Chúa bỏ đầy vào bình hương, sẽ bốc hai nắm đầy bột hương thơm, và đem vào phía sau màn trướng. <sup>13</sup> Nó sẽ bỏ hương vào lửa, trước nhan Ðức Chúa, và khói hương như mây sẽ phủ nắp xá tội ở trên Chứng Ước, và như vậy nó sẽ không phải chết. <sup>14</sup> Nó sẽ dùng một ngón tay lấy máu con bò tơ rảy trên nắp xá tội, về phía đông; rồi đằng trước nắp xá tội, nó cũng dùng ngón tay mà rảy máu bảy lần.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Nó sẽ sát tế con dê dùng làm lễ tạ tội cho dân, sẽ đem máu nó vào phía sau màn trướng, và cũng sẽ lấy máu đó mà rảy như đã rảy máu con bò tơ: nó sẽ rảy máu đó lên nắp xá tội, và đàng trước nắp xá tội. <sup>16</sup> Nó sẽ cử hành lễ xá tội cho thánh điện, vì những điều ô uế của con cái Ít-ra-en và những việc phản nghịch của chúng, nghĩa là mọi tội lỗi chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Không một người nào được có mặt trong Lều Hội Ngộ, từ khi A-ha-ron vào để cử hành lễ xá tội trong thánh điện, cho đến khi nó ra.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Rồi nó sẽ ra ngoài, đến bàn thờ ở trước nhan Ðức Chúa và sẽ cử hành lễ xá tội cho bàn thờ: nó sẽ lấy máu con bò tơ và máu con dê mà bôi lên các góc cong của bàn thờ. <sup>19</sup> Nó sẽ dùng một ngón tay rảy máu bảy lần lên bàn thờ, mà thanh tẩy cho khỏi các điều ô uế của con cái Ít-ra-en, và thánh hiến bàn thờ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi đã cử hành xong lễ xá tội cho thánh điện, cho Lều Hội Ngộ và bàn thờ, nó sẽ cho dẫn con dê còn sống tới. <sup>21</sup> A-ha-ron sẽ đặt hai tay lên đầu con dê còn sống, sẽ xưng thú trên con vật mọi lỗi lầm của con cái Ít-ra-en, mọi việc phản nghịch của chúng, nghĩa là mọi tội lỗi chúng; nó sẽ trút cả lên đầu con dê, rồi sẽ dùng tay một người đang chờ sẵn mà thả vào sa mạc. <sup>22</sup> Con dê sẽ mang trên mình mọi lỗi lầm của chúng vào hoang địa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> A-ha-ron sẽ vào trong Lều Hội Ngộ, cởi phẩm phục bằng vải gai nó đã mặc khi vào thánh điện; và để lại đó. <sup>24</sup> Nó sẽ lấy nước tắm rửa thân thể trong một nơi thánh, và sẽ mặc lại phẩm phục. Rồi nó sẽ ra mà dâng lễ toàn thiêu của mình và lễ toàn thiêu của dân; nó sẽ cử hành lễ xá tội cho chính mình và cho dân. <sup>25</sup> Còn mỡ của lễ tạ tội, thì nó sẽ đốt cho cháy nghi ngút ở bàn thờ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Người đã thả con dê &#8220;dành cho A-da-dên&#8221; sẽ giặt áo, lấy nước tắm rửa thân thể, sau đó mới được về trại. <sup>27</sup> Con bò tơ dùng làm lễ tạ tội và con dê dùng làm lễ tạ tội, mà máu đã được đưa vào thánh điện để cử hành lễ xá tội, người ta sẽ đem ra bên ngoài trại, bỏ vào lửa mà thiêu, cả da, cả thịt, cả phân. <sup>28</sup> Người đã đốt những con vật đó phải giặt áo, lấy nước tắm rửa thân thể, sau đó mới được về trại.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Ðó sẽ là quy tắc vĩnh viễn cho các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Thật vậy, ngày ấy, sẽ cử hành lễ xá tội cho các ngươi, để thanh tẩy các ngươi: trước nhan Ðức Chúa, các ngươi sẽ được thanh sạch khỏi mọi tội lỗi của các ngươi. <sup>31</sup> Ðối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ: đó là quy tắc vĩnh viễn.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Tư tế đã được xức dầu và được trao quyền làm tư tế thay cho cha mình, sẽ cử hành lễ xá tội. Nó sẽ mặc phẩm phục bằng vải gai, phẩm phục thánh; <sup>33</sup> nó sẽ cử hành lễ xá tội cho thánh điện cực thánh; nó sẽ cử hành lễ xá tội cho Lều Hội Ngộ và cho bàn thờ; nó sẽ cử hành lễ xá tội cho các tư tế và cho toàn dân trong đại hội. <sup>34</sup> Ðó sẽ là quy tắc vĩnh viễn cho các ngươi: mỗi năm một lần sẽ cử hành lễ xá tội cho con cái Ít-ra-en khỏi mọi tội của chúng.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Người ta đã làm như Ðức Chúa truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 17 -</span></strong></p>
<p><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>IV. Luật Về Sự Thánh Thiện</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sát sinh. Các lễ vật.</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng: <sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron, với các con nó cùng toàn thể con cái Ít-ra-en, và bảo chúng: Ðây là lời Ðức Chúa truyền:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Bất cứ người đàn ông nào thuộc nhà Ít-ra-en giết bò, chiên, hoặc dê trong trại, hay giết ngoài trại, <sup>4</sup> mà không mang con vật đến cửa Lều Hội Ngộ để dâng làm lễ tiến cho Ðức Chúa trước Nhà Tạm Ðức Chúa, thì nó sẽ chịu trách nhiệm về máu ấy: nó đã đổ máu, nó sẽ bị khai trừ khỏi dân nó. <sup>5</sup> Như vậy, con cái Ít-ra-en sẽ mang đến những hy lễ mà chúng tế ở ngoài đồng; chúng sẽ mang đến cho tư tế, để dâng Ðức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ, và chúng sẽ tế dâng Ðức Chúa làm hy lễ kỳ an. <sup>6</sup> Tư tế sẽ rảy máu trên bàn thờ Ðức Chúa ở cửa Lều Hội Ngộ, và sẽ đốt mỡ cho cháy nghi ngút thành hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>7</sup> Chúng sẽ không còn tế dâng các hy lễ của chúng cho các thần dê, những thần chúng chạy theo mà làm điếm. Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho chúng, cho các thế hệ của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ngươi hãy bảo chúng: bất cứ người nào, thuộc nhà Ít-ra-en hoặc trong số ngoại kiều sống giữa chúng, dâng lễ toàn thiêu hay hy lễ, <sup>9</sup> mà không đem đến cửa Lều Hội Ngộ để dâng lên Ðức Chúa, thì người ấy sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Bất cứ người nào thuộc nhà Ít-ra-en hoặc trong số ngoại kiều sống giữa chúng, ăn bất cứ thứ huyết nào, thì Ta sẽ quay mặt lại phạt kẻ ăn huyết và sẽ khai trừ khỏi dân nó; <sup>11</sup> vì mạng sống của xác thịt thì ở trong máu, và Ta, Ta đã ban máu cho các ngươi, trên bàn thờ, để cử hành lễ xá tội cho mạng sống các ngươi. Thật vậy, máu xá tội được vì nó là mạng sống. <sup>12</sup> Vì thế, Ta đã bảo con cái Ít-ra-en: Không một ai trong các ngươi được ăn huyết, ngoại kiều sống giữa các ngươi cũng không được ăn huyết.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Bất cứ người nào, thuộc con cái Ít-ra-en hoặc trong số ngoại kiều sống giữa chúng, săn được một con thú hoặc một con chim được phép ăn, thì phải đổ máu nó ra và lấy bụi đất phủ lên; <sup>14</sup> vì mạng sống của mọi xác thịt là máu nó bao lâu nó còn sống, và Ta đã bảo con cái Ít-ra-en: Các ngươi không được ăn huyết của bất cứ xác thịt nào, vì mạng sống của mọi xác thịt là máu nó; bất cứ ai ăn huyết sẽ bị khai trừ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Phàm người nào, dù là người bản xứ hay ngoại kiều, ăn con vật chết hay bị xé, sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều, rồi nó sẽ được thanh sạch. <sup>16</sup> Nếu nó không giặt áo và tắm rửa thân thể, nó sẽ phải mang lấy tội mình.&#8221;</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 18 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Những điều cấm đoán về sinh dục</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. <sup>3</sup> Các ngươi không được làm như người ta làm trên đất Ai-cập, nơi các ngươi đã ở; các ngươi không được làm như người ta làm trên đất Ca-na-an, nơi Ta sắp đưa các ngươi vào. Các ngươi không được theo các quy tắc của chúng. <sup>4</sup> Các ngươi hãy thi hành các quyết định của Ta, giữ và theo các quy tắc của Ta.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các ngươi phải giữ các quy tắc và quyết định của Ta: khi con người đem các điều ấy ra thực hành thì nhờ đó sẽ được sống.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Không người nào trong các ngươi được đến gần một người bà con ruột thịt để lột trần chỗ kín của nó. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của cha ngươi và chỗ kín của mẹ ngươi: đó là mẹ ngươi, ngươi không được lột trần chỗ kín của nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của vợ của cha ngươi: đó là chỗ kín của cha ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em ngươi, dù là con gái của cha ngươi hay con gái của mẹ ngươi, sinh tại nhà hay sinh ở ngoài; ngươi không được lột trần chỗ kín của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của cháu nội gái hay cháu ngoại gái ngươi, vì đó là chỗ kín của ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em cùng cha khác mẹ với ngươi: đó là chị em ngươi, ngươi không được lột trần chỗ kín của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em gái của cha ngươi: đó là ruột thịt của cha ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em gái của mẹ ngươi: đó là ruột thịt của mẹ ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chú bác ngươi; ngươi không được đến gần vợ của chúng: đó là bác gái, là thím ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của con dâu ngươi: đó là vợ của con trai ngươi, ngươi không được lột trần chỗ kín của nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em dâu ngươi: đó là chỗ kín của anh em ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của một người đàn bà và của con gái nó; ngươi không được lấy cháu nội gái hay cháu ngoại gái của nó để lột trần chỗ kín của chúng: đó là ruột thịt của nó; đó là tội ác tày trời.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Ngươi không được lấy chị em của vợ ngươi mà gây ra cảnh ghen tuông, khi lột trần chỗ kín của chúng, lúc vợ ngươi còn sống.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ngươi không được đến gần một người đàn bà đang bị ô uế vì kinh nguyệt, để lột trần chỗ kín của nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Ngươi không được giao hợp với vợ của một người đồng bào, để khỏi ra ô uế vì người đàn bà ấy.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Ngươi không được lấy đứa nào trong con cái ngươi mà nhượng lại cho thần Mô-léc và không được xúc phạm đến danh của Thiên Chúa ngươi. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ngươi không được giao hợp với bất cứ con vật nào, để khỏi ra ô uế vì nó; đàn bà không được đứng trước thú vật để giao cấu với nó: đó là điều quái đản.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Các ngươi đừng làm cho mình ra ô uế vì tất cả những điều đó, bởi lẽ tại tất cả những điều đó, mà các dân tộc Ta sắp tống đi cho khuất mắt các ngươi, đã ra ô uế. <sup>25</sup> Ðất đã ra ô uế: Ta đã phạt nó vì tội lỗi nó, và nó đã mửa dân cư nó ra. <sup>26</sup> Phần các ngươi, hãy giữ các quy tắc và quyết định của Ta, và không được làm một điều nào trong những điều ghê tởm ấy, dù là người bản xứ hay ngoại kiều sống giữa các ngươi. <sup>27</sup> Thật vậy, những người ở trong đất trước các ngươi đã làm tất cả những điều ghê tởm ấy, và đất đã ra ô uế. <sup>28</sup> Nhưng đất sẽ không mửa các ngươi ra, khi các ngươi làm cho nó ra ô uế, như nó đã mửa dân tộc ở đó trước các ngươi. <sup>29</sup> Vì bất cứ ai làm một trong những điều ghê tởm ấy, thì chính người làm sẽ bị khai trừ ra khỏi dân nó. <sup>30</sup> Các ngươi phải giữ điều Ta truyền giữ, là không được thực hành các quy tắc ghê tởm mà người ta đã thực hành trước các ngươi, và các ngươi không được làm cho mình ra ô uế vì những điều ấy. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 19 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chỉ thị về luân lý và phụng tự</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Ðấng Thánh.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Mỗi người trong các ngươi phải kính sợ cha mẹ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Các ngươi phải giữ những ngày sa-bát của Ta. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Các ngươi không được hướng về các tà thần, không được đúc tượng thần mà thờ. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Khi các ngươi tế hy lễ kỳ an dâng Ðức Chúa, các ngươi phải tế thế nào để được đoái nhận. <sup>6</sup> Phải ăn lễ vật đó trong ngày tế lễ và ngày hôm sau; sang ngày thứ ba, cái gì còn lại phải bỏ vào lửa mà thiêu. <sup>7</sup> Sang ngày thứ ba mà cứ ăn, thì đó là thịt ôi, và lễ tế sẽ không được đoái nhận. <sup>8</sup> Người nào ăn, phải mang lấy tội mình, vì đã xúc phạm đến của được thánh hiến cho Ðức Chúa; người ấy sẽ bị khai trừ ra khỏi dòng họ.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Khi các ngươi gặt lúa trong đất của các ngươi, (các) ngươi không được gặt cho tới sát bờ ruộng; lúa gặt sót, (các) ngươi không được mót. <sup>10</sup> Vườn nho (các) ngươi, (các) ngươi không được hái lại, những trái rớt, (các) ngươi không được nhặt: (các) ngươi sẽ bỏ lại cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Các ngươi không được trộm cắp, không được nói dối, không được lừa gạt đồng bào mình. <sup>12</sup> Các ngươi không được lấy danh Ta mà thề gian: làm thế là (các) ngươi xúc phạm đến danh Thiên Chúa của (các) ngươi. Ta là Ðức Chúa. <sup>13</sup> Ngươi không được bóc lột người đồng loại, không được cướp của; tiền công người làm thuê, ngươi không được giữ lại qua đêm cho đến sáng. <sup>14</sup> Ngươi không được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi, Ta là Ðức Chúa. <sup>15</sup> Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử: không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào. <sup>16</sup> Ngươi không được vu khống những người trong dòng họ, không được ra toà đòi người đồng loại phải chết. Ta là Ðức Chúa. <sup>17</sup> Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. <sup>18</sup> Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Các ngươi phải giữ các quy tắc của Ta.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;">Ngươi không được cho hai con vật khác giống giao cấu với nhau, không được gieo trong cánh đồng của ngươi hai thứ hạt khác nhau, không được mặc áo vải hỗn hợp, dệt bằng hai thứ sợi khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi một người đàn ông giao hợp với một người đàn bà, mà người này lại là tỳ thiếp của một người đàn ông khác, nhưng chưa được chuộc hay phóng thích, thì người đàn ông kia sẽ bị phạt; chúng sẽ không bị xử tử, vì người đàn bà chưa được phóng thích. <sup>21</sup> Người đàn ông sẽ đem dâng Ðức Chúa lễ vật đền tội của mình ở cửa Lều Hội Ngộ, đó là con cừu đực dùng làm lễ đền tội. <sup>22</sup> Tư tế sẽ lấy con cừu đực dùng làm lễ đền tội mà cử hành lễ xá tội cho nó, trước nhan Ðức Chúa, vì tội nó đã phạm, và nó sẽ được tha tội đã phạm.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Khi các ngươi đã vào đất và trồng bất cứ cây ăn trái nào, thì các ngươi sẽ kể trái nó là chưa cắt bì; trong ba năm các ngươi phải coi trái nó là chưa cắt bì, không được ăn. <sup>24</sup> Năm thứ tư, mọi trái nó sẽ được thánh hiến trong một buổi lễ mừng Ðức Chúa. <sup>25</sup> Năm thứ năm, các ngươi được ăn trái nó; như thế hoa trái nó sẽ tăng thêm cho các ngươi. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Các ngươi không được ăn gì với máu. Các ngươi không được làm nghề tướng số, chiêm tinh.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Các ngươi không được hớt tóc vòng quanh đầu, không được xén râu. <sup>28</sup> Các ngươi không được rạch mình mà để tang một người chết, không được xăm mình. Ta là Ðức Chúa. <sup>29</sup> Ðừng xúc phạm đến con gái ngươi, nghĩa là bắt nó làm điếm, kẻo đất cũng làm điếm và tràn ngập tội ác tày trời.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Các ngươi phải giữ các ngày sa-bát của Ta và kính trọng thánh điện của Ta. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Các ngươi không được đến với các người ngồi đồng ngồi bóng và không được hỏi ý kiến chúng, kẻo vì chúng mà ra ô uế. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Thấy người đầu bạc, ngươi phải đứng lên, ngươi phải kính trọng người già cả: như vậy là ngươi kính sợ Thiên Chúa của ngươi. Ta là Ðức Chúa. <sup>33</sup> Khi có ngoại kiều cư ngụ với (các) ngươi trong xứ các ngươi, các ngươi đừng bức hiếp nó. <sup>34</sup> (Các) ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; (các) ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai-cập. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử, cũng như khi đo đạc hay cân đong. <sup>36</sup> Các ngươi phải có cán cân đúng, quả cân đúng, đúng thùng, đúng lít. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ðấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Các ngươi phải giữ mọi quy tắc, mọi quyết định của Ta và đem ra thực hành. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 20 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy định về hình phạt</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Tội về nghi tiết</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Bất cứ người nào, thuộc con cái Ít-ra-en hoặc trong số ngoại kiều sống tại Ít-ra-en, dâng một đứa trong con cái mình cho thần Mô-léc, thì sẽ bị xử tử; dân trong xứ sẽ ném đá nó. <sup>3</sup> Phần Ta, Ta sẽ quay mặt lại phạt nó và sẽ khai trừ khỏi dân nó, vì nó đã dâng một đứa con trong con cái mình cho thần Mô-léc, khiến thánh điện Ta ra ô uế và thánh danh Ta bị xúc phạm. <sup>4</sup> Nếu dân trong xứ che mắt không nhìn người ấy, khi nó dâng một đứa trong con cái mình cho thần Mô-léc, để khỏi phải giết nó, <sup>5</sup> thì chính Ta sẽ hướng mặt Ta về người ấy và dòng họ nó, Ta sẽ khai trừ nó và những kẻ làm điếm như nó, những kẻ chạy theo thần Mô-léc mà làm điếm, Ta sẽ khai trừ khỏi dân của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Người nào đến với các người ngồi đồng ngồi bóng để chạy theo chúng mà làm điếm, thì Ta sẽ quay mặt lại phạt người ấy và sẽ khai trừ khỏi dân nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Tội liên quan đến gia đình</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Các ngươi phải giữ các quy tắc của Ta và đem ra thực hành. Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hiến các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Vậy: Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Khi người đàn ông nào nằm với vợ của cha mình, thì đã lột trần chỗ kín của cha mình; cả hai phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>12</sup> Khi người đàn ông nào nằm với con dâu mình, thì cả hai phải bị xử tử; chúng đã làm điều quái đản, máu chúng đổ xuống đầu chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Khi người đàn ông nào lấy cả con gái lẫn mẹ, thì đó là tội ác tày trời; người ta sẽ bỏ nó và hai người đàn bà vào lửa mà thiêu, để không còn tội ác tày trời giữa các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Khi người đàn ông nào giao hợp với con vật, thì phải bị xử tử, và các ngươi sẽ giết con vật.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Khi người đàn bà nào đến gần bất cứ con vật nào để giao cấu với nó, thì (các) ngươi phải giết người đàn bà và con vật; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Khi người đàn ông nào lấy chị em mình, dù là con gái của cha mình hay con gái của mẹ mình, và thấy chỗ kín của người chị em cũng như người này thấy chỗ kín của nó, thì đó là điều bỉ ổi; chúng sẽ bị khai trừ trước mắt những người thuộc về dân của chúng; nó đã lột trần chỗ kín của người chị em nó, thì nó sẽ phải mang lấy tội mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn bà đang khó ở, và lột trần chỗ kín của người đàn bà, thì nó phơi bày nguồn máu của người đàn bà, và người đàn bà lột trần nguồn máu của mình; cả hai sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em gái của mẹ ngươi hay chị em gái của cha ngươi; đó là lột trần người ruột thịt của chính mình; chúng sẽ phải mang lấy tội mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Khi người đàn ông nào nằm với bác gái hay thím mình, thì đã lột trần chỗ kín của bác hay chú mình, chúng sẽ phải mang lấy tội mình, chúng sẽ chết không con cái.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Khi người đàn ông nào lấy chị dâu hay em dâu mình, thì đó là một điều nhơ nhớp; nó đã lột trần chỗ kín của anh em nó, chúng sẽ không có con cái.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lời khuyên nhủ cuối cùng</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Các ngươi phải giữ mọi quy tắc, mọi quyết định của Ta và đem ra thực hành; như vậy đất Ta sắp đưa các ngươi vào ở đó, sẽ không mửa các ngươi ra. <sup>23</sup> Các ngươi không được theo các quy tắc của dân tộc mà Ta sắp tống đi cho khuất mắt các ngươi, vì chúng đã làm tất cả những điều đó, và Ta đã chán ngấy chúng. <sup>24</sup> Bởi vậy Ta đã nói với các ngươi: &#8220;Chính các ngươi sẽ chiếm hữu đất đai của chúng, và chính Ta sẽ ban cho các ngươi chiếm hữu nó, miền đất tràn trề sữa và mật.&#8221; Chính Ta, Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân. <sup>25</sup> Vậy các ngươi phải phân biệt giữa thú vật thanh sạch và ô uế, giữa chim ô uế và thanh sạch; các ngươi đừng làm cho chính mình ra kinh tởm vì thú vật, các loài chim và mọi loài bò dưới đất, tức là các loài Ta đã phân biệt để các ngươi coi chúng là ô uế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Các ngươi phải thuộc về Ta, phải thánh thiện, vì Ta, Ðức Chúa, Ta là Ðấng Thánh, và Ta đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân để các ngươi thuộc về Ta.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Khi người đàn ông hay người đàn bà nào có ma nhập thần ốp, thì phải bị xử tử; người ta sẽ ném đá chúng, máu chúng đổ xuống đầu chúng.&#8221;</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 21 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Sự thánh thiện của hàng tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Các tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> ngoại trừ vì một người gần nhất, một người ruột thịt: mẹ, cha, con trai, con gái, anh em nó. <sup>3</sup> Một người chị em còn trinh, vẫn là người gần nhất với nó, vì chưa thuộc về một người đàn ông, thì nó có thể làm cho mình ra ô uế vì người ấy. <sup>4</sup> Vì là người đứng đầu trong dòng họ mình, nó không được làm cho mình ra ô uế mà trở nên phàm tục.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Các tư tế không được cạo đầu và cắt riềm râu, không được rạch mình. <sup>6</sup> Chúng sẽ được thánh hiến cho Thiên Chúa của chúng và không được xúc phạm đến danh Thiên Chúa của chúng, vì chúng là những người tiến dâng lên Ðức Chúa các lễ hoả tế, là thức ăn dành cho Thiên Chúa của chúng; chúng phải sống thánh thiện.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> Chúng không được lấy một gái điếm hay một người đàn bà bị làm nhục, chúng không được lấy một người đàn bà bị chồng bỏ, vì tư tế được thánh hiến cho Thiên Chúa của mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Ngươi phải coi nó là thánh, vì nó là người tiến dâng thức ăn dành cho Thiên Chúa của ngươi: đối với ngươi, nó sẽ là thánh, vì Ta là Ðấng Thánh, Ta, Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nếu con gái của một tư tế làm nhục chính mình mà đi làm điếm, thì nó làm nhục chính cha nó; nó phải bị bỏ vào lửa mà thiêu.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Thượng tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Tư tế lớn nhất trong hàng anh em nó, người đã được đổ dầu tấn phong lên đầu và được trao quyền khi mặc phẩm phục, thì không được xoã tóc và xé áo, <sup>11</sup> không được đến gần người chết nào, và không được làm cho mình ra ô uế, dù vì cha hay vì mẹ mình. <sup>12</sup> Nó không được ra khỏi thánh điện và không được xúc phạm đến thánh điện của Thiên Chúa nó, vì nó đã được dầu tấn phong của Thiên Chúa nó ghi dấu trên mình. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Nó sẽ cưới một người nữ còn trinh. <sup>14</sup> Ðàn bà goá hay bị chồng bỏ, người bị làm nhục hay làm điếm, những người đó nó không được lấy, mà chỉ được lấy một trinh nữ trong gia tộc mình làm vợ; <sup>15</sup> như vậy, nó sẽ không làm nhục dòng dõi nó trong gia tộc nó, vì Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá nó.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Những trường hợp không được làm tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron: Qua các thế hệ, người đàn ông nào trong dòng dõi ngươi có tật, thì không được lại gần để tiến dâng thức ăn dành cho Thiên chúa của nó. <sup>18</sup> Thật vậy, bất cứ người nào có tật không được lại gần: người đui mù, què quặt, dị tướng, dị hình, <sup>19</sup> người bị gãy chân gãy tay, <sup>20</sup> gù, còi, bị đốm ở mắt, ghẻ, hắc lào, hay bị giập tinh hoàn. <sup>21</sup> Bất cứ người đàn ông nào trong dòng dõi tư tế A-ha-ron có tật, thì không được đến gần để tiến dâng các lễ hoả tế lên Ðức Chúa; nó có tật, nó không được đến gần để tiến dâng thức ăn dành cho Thiên Chúa của nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Thức ăn dành cho Thiên Chúa của nó, những của rất thánh, và những của thánh, nó được ăn, <sup>23</sup> nhưng nó không được tới chỗ màn trướng, không được đến gần bàn thờ, vì nó có tật; như vậy nó sẽ không xúc phạm đến các nơi thánh của Ta, vì Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá những nơi ấy.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> Ông Mô-sê nói thế với ông A-ha-ron, với các con ông này và toàn thể con cái Ít-ra-en.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 22 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Phải thánh mới được ăn của thánh</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Các tư tế</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy bảo A-ha-ron và các con nó, trong những trường hợp sau đây, phải kiêng những của thánh con cái Ít-ra-en thánh hiến cho ta, để khỏi xúc phạm đến thánh danh Ta. Ta là Ðức Chúa. <sup>3</sup> Hãy bảo chúng: Trong các thế hệ các ngươi, bất cứ người nào trong dòng dõi các ngươi, khi bị ô uế, mà lại gần các của thánh con cái Ít-ra-en thánh hiến cho Ðức Chúa, thì người ấy sẽ bị khai trừ cho khuất mắt Ta. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Không người nào trong dòng dõi A-ha-ron bị phong hủi hay bị lậu, được ăn các của thánh khi chưa được thanh sạch. Ai đụng vào bất cứ cái gì đã ra ô uế vì xác chết, người đàn ông đã xuất tinh, <sup>5</sup> người đàn ông đã đụng vào bất cứ một con vật nhỏ nào làm cho người ấy ra ô uế, hay đụng vào người nào làm cho người ấy ra ô uế, dù là thứ ô uế nào, <sup>6</sup> ai đã đụng vào những thứ như vậy, sẽ ra ô uế cho đến chiều, và không được ăn những của thánh khi chưa lấy nước tắm rửa thân thể. <sup>7</sup> Lúc mặt trời lặn, nó sẽ được thanh sạch, bấy giờ nó được ăn những của thánh, vì đó là thức ăn của nó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Con vật chết hay bị thú dữ xé, nó không được ăn, kẻo ra ô uế vì vật đó. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Chúng phải giữ điều Ta truyền giữ, nếu không sẽ mang tội vì chuyện đó và phải chết vì phạm đến của thánh. Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá những của ấy.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Người ngoài</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Không người ngoài nào được ăn của thánh; khách trọ nhà tư tế và người làm thuê không được ăn của thánh. <sup>11</sup> Nhưng nếu tư tế dùng tiền mà mua người nào, thì người ấy được ăn; nô lệ sinh ra trong nhà cũng được ăn thức ăn của tư tế. <sup>12</sup> Con gái một tư tế, nếu lấy một người ngoài, thì không được ăn phần trích ra từ các của thánh; <sup>13</sup> nhưng nếu con gái tư tế goá chồng hay bị chồng bỏ, mà không có con, trở về nhà cha mình như khi còn trẻ, thì được ăn thức ăn của cha, mặc dầu không một người ngoài nào được ăn. <sup>14</sup> Nếu người nào vô ý ăn của thánh, thì phải đền của thánh cho tư tế, cộng thêm một phần năm.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Các tư tế không được phạm đến các của thánh con cái Ít-ra-en đã trích dâng Ðức Chúa; <sup>16</sup> tư tế sẽ làm cho chúng mang một lỗi, một lỗi mà chúng phải đền vì đã ăn các của thánh, vì Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá những của ấy.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Tế vật</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> &#8220;Hãy nói với A-ha-ron, với các con nó cùng toàn thể con cái Ít-ra-en, và bảo chúng: Bất cứ người nào, trong nhà Ít-ra-en hoặc trong số ngoại kiều sống tại Ít-ra-en, vì đã khấn hứa hay tự nguyện, mà dâng lễ tiến của mình, và tiến dâng Ðức Chúa làm lễ toàn thiêu <sup>19</sup> thì phải dâng một con đực toàn vẹn bắt từ đàn bò, chiên hay dê, nếu muốn được đoái nhận. <sup>20</sup> Các ngươi không được tiến dâng con vật nào có tật, vì các ngươi sẽ không được đoái nhận. <sup>21</sup> Khi một người tiến dâng Ðức Chúa bò hay chiên dê làm hy lễ kỳ an để giữ trọn lời khấn hứa hoặc vì đã tự nguyện, thì con vật phải toàn vẹn, không có một tật nào, nếu muốn được đoái nhận. <sup>22</sup> Con vật mù, què, bị cắt xẻo, lở loét, ghẻ, hắc lào, thì các ngươi không được tiến dâng lên Ðức Chúa, không được lấy phần nào đặt trên bàn thờ làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>23</sup> Bò, chiên dê dị hình hay còi, ngươi có thể dâng làm lễ vật tự nguyện, nhưng nếu dâng làm lễ vật đã khấn hứa, thì chúng sẽ không được đoái nhận. <sup>24</sup> Các ngươi không được tiến dâng Ðức Chúa một con vật có tinh hoàn bị giập, bị nghiền, bị moi hay cắt; các ngươi không được làm thế trong đất các ngươi. <sup>25</sup> Các ngươi không được nhận những con vật như thế từ tay người nước ngoài, để tiến dâng làm thức ăn dành cho Thiên Chúa các ngươi: chúng bị thiến tức là có tật, chúng sẽ không được đoái nhận như lễ vật của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> ÐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng: <sup>27</sup> &#8220;Bê, chiên hay dê, sau khi sinh, sẽ ở với mẹ nó bảy ngày; từ ngày thứ tám trở đi, nó sẽ được đoái nhận làm lễ tiến, làm lễ hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>28</sup> Dù là bò hay chiên dê, ngươi không được sát tế mẹ và con cùng một ngày. <sup>29</sup> Khi các ngươi dâng Ðức Chúa hy lễ tạ ơn, hãy dâng thế nào để được đoái nhận; <sup>30</sup> phải ăn lễ vật trong chính ngày đó, các ngươi không được để lại gì cho đến sáng hôm sau. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lời khuyên nhủ cuối cùng</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>31</sup> Các ngươi phải giữ các mệnh lệnh của Ta và đem ra thực hành. Ta là Ðức Chúa. <sup>32</sup> Các ngươi không được xúc phạm đến thánh danh Ta, để Ta biểu dương sự thánh thiện của Ta giữa con cái Ít-ra-en. Ta là Ðức Chúa, Ðấng thánh hoá các ngươi. <sup>33</sup> Ðấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập để làm Thiên Chúa của các ngươi, chính là Ta, Ðức Chúa.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 23 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nghi thức cử hành các lễ trong năm</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các đại lễ của Ðức Chúa là những ngày mà các ngươi phải triệu tập những cuộc họp để thờ phượng Ta. Ðây là những đại lễ của Ta:</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Ngày sa-bát</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Trong sáu ngày, người ta sẽ làm công việc của mình; còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, có cuộc họp để thờ phượng, các ngươi không được làm công việc nào. Ðó là ngày sa-bát kính Ðức Chúa, tại khắp nơi các ngươi ở.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>4</sup> Ðây là các đại lễ của Ðức Chúa, các cuộc họp để thờ phượng mà các ngươi phải triệu tập vào thời gian ấn định:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Tháng thứ nhất, ngày mười bốn trong tháng, vào lúc chập tối, là lễ Vượt Qua kính Ðức Chúa. <sup>6</sup> Ngày mười lăm tháng ấy là lễ Bánh Không Men kính Ðức Chúa. Trong vòng bảy ngày, các ngươi phải ăn bánh không men. <sup>7</sup> Ngày đầu tiên, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào.<sup> 8</sup> Trong vòng bảy ngày, các ngươi phải tiến dâng lễ hoả tế lên Ðức Chúa. Ngày thứ bảy, có cuộc họp để thờ phượng Ta, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Dâng bó lúa đầu mùa</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi các ngươi vào đất Ta ban cho các ngươi, và gặt mùa ở đó, thì phải đem đến cho tư tế một bó lúa, sản phẩm đầu mùa gặt hái của các ngươi. <sup>11</sup> Nó sẽ làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa để các ngươi được đoái nhận; tư tế sẽ làm nghi thức tiến dâng hôm sau ngày sa-bát. <sup>12</sup> Ngày các ngươi làm nghi thức tiến dâng bó lúa ấy, các ngươi phải dâng một con chiên toàn vẹn, một tuổi, làm lễ toàn thiêu lên Ðức Chúa, <sup>13</sup> cùng với lễ phẩm là chín lít tinh bột nhào với dầu: đó là lễ hoả tế dâng Ðức Chúa, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa; lễ tưới rượu kèm theo là hai lít. <sup>14</sup> Cho đến chính ngày đó, khi các ngươi mang lễ phẩm của Thiên Chúa các ngươi đến, các ngươi không được ăn bánh, ăn gié lúa rang và hột lúa mới. Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>15</sup> Từ hôm sau ngày sa-bát, ngày các ngươi đem bó lúa đến để làm nghi thức tiến dâng, các ngươi phải tính bảy tuần, bảy tuần chẵn. <sup>16</sup> Các ngươi phải tính năm mươi ngày cho đến hôm sau ngày sa-bát thứ bảy, và các ngươi sẽ tiến dâng một lễ phẩm mới lên Ðức Chúa: <sup>17</sup> từ những nơi các ngươi ở, các ngươi phải đem đến hai chiếc bánh để làm nghi thức tiến dâng, bánh làm bằng chín lít tinh bột và trộn men mà nướng: đó là của đầu mùa dâng Ðức Chúa. <sup>18</sup> Thêm vào với bánh, các ngươi phải tiến dâng bảy con chiên toàn vẹn, một tuổi, một con bò tơ và hai con cừu đực làm lễ toàn thiêu dâng Ðức Chúa, cùng với lễ phẩm và lễ tưới rượu kèm theo: đó là lễ hoả tế, là hương thơm làm vui lòng Ðức Chúa. <sup>19</sup> Các ngươi phải lấy một con dê đực làm lễ tạ tội và hai con chiên một tuổi làm hy lễ kỳ an; <sup>20</sup> tư tế sẽ làm nghi thức tiến dâng trước nhan Ðức Chúa hai con chiên cùng với bánh đầu mùa: đó là của thánh thuộc về Ðức Chúa, dành cho tư tế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Chính ngày đó, các ngươi phải triệu tập dân, phải họp nhau để thờ phượng Ta; các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào. Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Khi các ngươi gặt lúa trong đất các ngươi, (các) ngươi không được gặt cho tới sát bờ ruộng; lúa gặt sót, (các) ngươi không được mót: (các) ngươi sẽ bỏ lại cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>24</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Tháng thứ bảy, ngày mồng một, đối với các ngươi sẽ là một ngày nghỉ, một ngày tưởng niệm giữa tiếng reo hò, và họp nhau để thờ phượng Ta. <sup>25</sup> Các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào, và phải tiến dâng một lễ hoả tế lên Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> &#8220;Ngoài ra, ngày mồng mười tháng bảy là ngày Xá tội, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, phải ăn chay hãm mình và tiến dâng một lễ hoả tế lên Ðức Chúa. <sup>28</sup> Chính ngày ấy, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào, vì đó là ngày Xá tội, ngày cử hành lễ xá tội cho các ngươi trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. <sup>29</sup> Như vậy bất cứ người nào không ăn chay hãm mình vào chính ngày đó, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ; <sup>30</sup> và bất cứ người nào làm một việc gì vào chính ngày đó, Ta sẽ làm cho nó biến mất không còn dấu vết giữa dân nó. <sup>31</sup> Các ngươi không được làm một công việc nào: đó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở. <sup>32</sup> Ðối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ, và các ngươi phải ăn chay hãm mình. Từ chiều ngày mồng chín đến chiều hôm sau, các ngươi phải nghỉ để giữ ngày sa-bát.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>33</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Ngày mười lăm tháng bảy là lễ Lều kính Ðức Chúa, trong vòng bảy ngày. <sup>35</sup> Ngày đầu tiên, phải họp nhau để thờ phượng Ta, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào. <sup>36</sup> Trong vòng bảy ngày, các ngươi phải tiến dâng lễ hoả tế lên Ðức Chúa. Ngày thứ tám, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, và phải tiến dâng một lễ hoả tế lên Ðức Chúa: đó là một buổi họp long trọng, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Kết luận</strong> (Ðn 29: 39)</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>37</sup> Ðó là các đại lễ của Ðức Chúa, là những ngày mà các ngươi phải triệu tập những cuộc họp để thờ phượng Ta, để tiến dâng lễ hoả tế lên Ðức Chúa: lễ toàn thiêu hay lễ phẩm, hy lễ hay những lễ tưới rượu, việc nào vào ngày đó, <sup>38</sup> không kể các ngày sa-bát của Ðức Chúa, không kể các lễ vật, không kể tất cả các lễ vật đã khấn hứa và tất cả các lễ vật tự nguyện các ngươi dâng Ðức Chúa.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Lại nói về lễ Lều</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Ngoài ra, ngày mười lăm tháng bảy, khi các ngươi đã thu hoa lợi ruộng đất, các ngươi phải mở lễ kính Ðức Chúa trong vòng bảy ngày. Ngày đầu tiên là ngày nghỉ, ngày thứ tám là ngày nghỉ. <sup>40</sup> Ngày đầu tiên, các ngươi phải lấy những trái cây đẹp, những tàu lá chà là, những cành cây nhiều lá và cành liễu mọc bên bờ suối, và phải liên hoan trước nhan Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, trong vòng bảy ngày. <sup>41</sup> Các ngươi phải mừng lễ đó như một lễ kính Ðức Chúa trong vòng bảy ngày mỗi năm: đó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>42</sup> Trong vòng bảy ngày, các ngươi phải ở trong lều bằng cành cây; mọi người bản xứ tại Ít-ra-en phải ở trong lều bằng cành cây,43 để các thế hệ của các ngươi biết rằng Ta đã cho con cái Ít-ra-en ở trong lều bằng cành cây, khi Ta đưa chúng ra khỏi đất Ai-cập. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Ông Mô-sê nói cho con cái Ít-ra-en biết các đại lễ của Ðức Chúa.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 24 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy định bổ sung về nghi lễ</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Ðèn cháy liên lỉ</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy truyền cho con cái Ít-ra-en phải giã ô-liu lấy dầu nguyên chất cho ngươi, để thắp đèn, hầu cho luôn luôn có ngọn lửa cháy. <sup>3</sup> A-ha-ron sẽ đặt chiếc đèn đó bên ngoài bức màn trướng che Chứng Ước, trong Lều Hội Ngộ, sao cho nó luôn luôn cháy từ chiều đến sáng trước nhan Ðức Chúa. Ðó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi. <sup>4</sup> A-ha-ron sẽ phải đặt các đèn trên trụ đèn bằng vàng ròng trước nhan Ðức Chúa, luôn luôn.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Bánh tiến</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> Ngươi phải lấy tinh bột và nướng thành mười hai cái bánh, mỗi cái sẽ là chín lít bột. <sup>6</sup> Ngươi phải xếp bánh thành hai chồng, mỗi chồng sáu cái, trên bàn bằng vàng ròng, trước nhan Ðức Chúa. <sup>7</sup> Trên mỗi chồng, ngươi phải để hương tinh khiết, hương đó sẽ là kỷ vật thay cho bánh, là hoả tế dâng Ðức Chúa. <sup>8</sup> Mỗi ngày sa-bát, người ta phải đặt luôn luôn trước nhan Ðức Chúa, bánh con cái Ít-ra-en dâng: đó là một giao ước vĩnh cửu. <sup>9</sup> Bánh đó sẽ dành cho A-ha-ron và các con nó; chúng sẽ ăn trong một nơi thánh, vì đó là của rất thánh dành cho nó, lấy từ các lễ hoả tế dâng Ðức Chúa: đó là quy luật vĩnh viễn.&#8221;</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Nói phạm thượng. Luật báo phục tương xứng.</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Có một người con trai, mẹ là người Ít-ra-en, cha là người Ai-cập, đến giữa con cái Ít-ra-en, và ngay giữa trại, con của người đàn bà Ít-ra-en đó xô xát với một người đàn ông Ít-ra-en. <sup>11</sup> Con của người đàn bà Ít-ra-en đó nói phạm đến thánh danh và buông lời nguyền rủa. Người ta đem nó đến cho ông Mô-sê. Mẹ nó tên là Sơ-lô-mít, con ông Ðíp-ri, thuộc chi tộc Ðan. <sup>12</sup> Người ta nhốt nó lại, để chờ quyết định theo lệnh Ðức Chúa.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> &#8220;Hãy đưa kẻ nói lời nguyền rủa ra ngoài trại. Tất cả những ai đã nghe, phải đặt tay lên đầu nó, và toàn thể cộng đồng phải ném đá nó. <sup>15</sup> Rồi ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en rằng: Bất cứ người nào nguyền rủa Thiên Chúa của nó, sẽ phải mang lấy tội mình. <sup>16</sup> Ai nói phạm đến danh Ðức Chúa, sẽ bị xử tử: toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó; dù là ngoại kiều hay người bản xứ, nếu nói phạm đến thánh danh, sẽ bị xử tử.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Nếu ai đánh chết bất cứ người nào, thì sẽ bị xử tử. <sup>18</sup> Ai đánh chết một con vật, thì phải đền: vật sống đền vật sống.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Nếu ai làm cho người đồng bào phải mang tật, thì phải xử với nó như nó đã xử với người ta: <sup>20</sup> chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng; nó đã làm cho người khác mang tật thế nào, thì người ta cũng sẽ làm cho nó như vậy. <sup>21</sup> Ai đánh chết một con vật, thì phải đền; ai đánh chết người, sẽ bị xử tử. <sup>22</sup> Các ngươi chỉ được có một pháp luật, cho ngoại kiều cũng như cho người bản xứ, vì Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ông Mô-sê nói thế với con cái Ít-ra-en. Họ liền đưa kẻ nói lời nguyền rủa ra ngoài trại và ném đá nó. Con cái Ít-ra-en làm như Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 25 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các năm thánh</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Năm hưu lễ</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Trên núi Xi-nai, Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi các ngươi vào đất Ta sắp ban cho các ngươi, đất phải nghỉ một sa-bát kính Ðức Chúa. <sup>3</sup> Trong sáu năm, (các) ngươi sẽ gieo vãi trong cánh đồng của (các) ngươi, trong sáu năm, (các) ngươi sẽ tỉa vườn nho của (các) ngươi, và (các) ngươi sẽ thu hoa lợi. <sup>4</sup> Nhưng năm thứ bảy sẽ là một sa-bát, một thời kỳ đất nghỉ, một sa-bát kính Ðức Chúa: (các) ngươi không được gieo vãi trong cánh đồng của (các) ngươi, không được tỉa vườn nho của các ngươi; <sup>5</sup> (các) ngươi không được gặt lúa tự nhiên mọc sau mùa gặt, không được hái những chùm nho từ vườn nho không cắt tỉa của (các) ngươi: đó sẽ là một năm đất nghỉ. <sup>6</sup> Sản phẩm tự nhiên của đất trong năm sa-bát sẽ nuôi các ngươi, tôi tớ nam nữ của (các) ngươi, người làm thuê của (các) ngươi, khách trọ nhà (các) ngươi; tóm lại các người trú ngụ nơi (các) ngươi. <sup>7</sup> Còn gia súc và dã thú ở trong đất (các) ngươi, thì tất cả hoa lợi của đất sẽ là lương thực cho chúng.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Năm toàn xá</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> (Các) ngươi phải tính bảy tuần năm, nghĩa là bảy lần bảy năm; thời gian của bảy tuần năm đó là bốn mươi chín năm. <sup>9</sup> Tháng thứ bảy, ngày mồng mười trong tháng, (các) ngươi sẽ thổi tù và giữa tiếng reo hò; vào ngày Xá tội, (các) ngươi sẽ thổi tù và trong toàn xứ các ngươi. <sup>10</sup> Các ngươi sẽ công bố năm thứ năm mươi là năm thánh và sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó. Ðối với (các) ngươi, đó là thời kỳ toàn xá: mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình, mỗi người sẽ trở về dòng họ của mình. <sup>11</sup> Ðối với các ngươi, năm thứ năm mươi sẽ là thời kỳ toàn xá: các ngươi không được gieo, không được gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa. <sup>12</sup> Vì đó là thời kỳ toàn xá, một năm thánh đối với các ngươi, các ngươi sẽ ăn hoa lợi của đồng ruộng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>13</sup> Năm toàn xá đó, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình. <sup>14</sup> Nếu các ngươi bán cái gì cho người đồng bào hoặc mua cái gì từ tay người đồng bào, thì đừng ai làm thiệt hại người anh em mình. <sup>15</sup> Ngươi sẽ mua của người đồng bào theo số năm sau năm toàn xá, và nó sẽ bán cho ngươi theo số năm thu hoạch. <sup>16</sup> Còn nhiều năm thì ngươi mua giá cao, còn ít năm thì ngươi mua giá thấp, vì nó bán cho ngươi một số năm thu hoạch. <sup>17</sup> Không ai trong các ngươi được làm thiệt hại người đồng bào, nhưng (các) ngươi phải kính sợ Thiên Chúa của (các) ngươi, vì Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của (các) ngươi.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Thiên Chúa bảo đảm về năm sa-bát</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Các ngươi phải đem ra thực hành các quy tắc của Ta, phải giữ và đem ra thực hành các quyết định của Ta, và các ngươi sẽ được sống yên hàn trên đất ấy. <sup>19</sup> Ðất sẽ sinh hoa trái, các ngươi sẽ được ăn no nê và được sống yên hàn tại đó.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>20</sup> Có lẽ các ngươi sẽ nói: &#8220;Năm thứ bảy chúng tôi sẽ ăn gì, nếu chúng tôi không gieo vãi và không thu hoa lợi?&#8221; <sup>21</sup> Ta sẽ truyền cho phúc lành của Ta đến với các ngươi vào năm thứ sáu, và phúc lành sẽ sinh hoa lợi đủ cho ba năm. <sup>22</sup> Năm thứ tám, các ngươi sẽ gieo vãi, nhưng sẽ lấy hoa lợi cũ mà ăn; đến năm thứ chín, đến khi gặt hoa lợi năm ấy, các ngươi sẽ ăn hoa lợi cũ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuộc đất, chuộc nhà</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Ðất thì không được bán đứt, vì đất là của Ta, còn các ngươi chỉ là ngoại kiều, là khách trọ nhà Ta. <sup>24</sup> Trong toàn xứ sẽ thuộc quyền sở hữu của các ngươi, các ngươi phải cho người ta quyền chuộc lại đất. <sup>25</sup> Nếu người anh em của (các) ngươi lâm cảnh túng thiếu và phải bán một phần sở hữu của nó, thì người có quyền chuộc, tức là người bà con gần nhất, sẽ đến chuộc lại cái mà người anh em nó đã bán. <sup>26</sup> Nếu ai không có bà con có quyền chuộc, nhưng lại có phương tiện và kiếm được tiền chuộc, <sup>27</sup> thì nó sẽ tính những năm từ khi bán, còn trội bao nhiêu, nó sẽ trả cho người mua, và sẽ trở về phần sở hữu của mình. <sup>28</sup> Nhưng nếu nó không kiếm được phương tiện để trả tiền lại cho người kia, thì của nó bán sẽ ở lại trong tay người mua cho đến năm toàn xá; đến thời kỳ toàn xá, của bán sẽ ra khỏi tay người mua, và người bán sẽ trở về phần sở hữu của mình.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>29</sup> Nếu người nào bán nhà ở, trong một thành có tường luỹ, thì quyền chuộc sẽ kéo dài đến hết năm bán; quyền chuộc nhà sẽ kéo dài một năm. <sup>30</sup> Nếu trong vòng một năm trọn mà nhà không được chuộc, thì nhà ở trong thành có tường luỹ sẽ thuộc hẳn về người mua và con cháu nó; vào năm toàn xá, nhà sẽ không ra khỏi tay nó. <sup>31</sup> Nhà cửa trong các làng không có tường luỹ chung quanh, thì được kể như đồng ruộng; người ta có quyền chuộc những nhà ấy, và năm toàn xá những nhà ấy sẽ ra khỏi tay người mua.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Còn các thành của các thầy Lê-vi, nhà cửa trong các thành thuộc quyền sở hữu của chúng, thì các thầy Lê-vi mãi mãi có quyền chuộc. <sup>33</sup> Dù một thầy Lê-vi đã mua, thì nhà đã bán -trong một thành là sở hữu của nó- sẽ ra khỏi tay người mua vào thời kỳ toàn xá, vì nhà cửa trong các thành của các thầy Lê-vi là sở hữu của chúng giữa con cái Ít-ra-en. <sup>34</sup> Còn đồng cỏ chung quanh các thành của chúng thì không được bán, vì đó là phần sở hữu vĩnh viễn của chúng.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Chuộc người</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>35</sup> Nếu người anh em của (các) ngươi lâm cảnh túng thiếu, và không trả nợ được (các) ngươi, thì (các) ngươi phải nâng đỡ nó, dù nó là ngoại kiều hay khách trọ, để nó có thể sống bên (các) ngươi. <sup>36</sup> Với nó, (các) ngươi không được lấy lãi ăn lời, nhưng (các) ngươi phải kính sợ Thiên Chúa, và người anh em của (các) ngươi sẽ có thể sống bên (các) ngươi. <sup>37</sup> (Các) ngươi không được cho nó vay bạc của (các) ngươi để lấy lãi và vay lương thực của (các) ngươi để ăn lời. <sup>38</sup> Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ðấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, để ban cho các ngươi đất Ca-na-an và để làm Thiên chúa của các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>39</sup> Nếu người anh em của (các) ngươi lâm cảnh túng thiếu bên cạnh (các) ngươi và phải bán mình cho (các) ngươi, thì (các) ngươi không được bắt nó làm công việc của người nô lệ; <sup>40</sup> nó sẽ ở với (các) ngươi như một người làm thuê, một khách trọ, và sẽ phục vụ trong nhà (các) ngươi cho đến năm toàn xá; <sup>41</sup> khi đó, nó cùng với con cái nó sẽ ra khỏi nhà (các) ngươi, sẽ trở về thị tộc mình, sẽ trở về phần sở hữu của cha ông nó. <sup>42</sup> Quả thế, chúng là tôi tớ của Ta, mà Ta đã đưa ra khỏi đất Ai-cập, không được bán chúng như bán nô lệ. <sup>43</sup> (Các) ngươi không được thống trị chúng cách hà khắc, nhưng hãy kính sợ Thiên Chúa của (các) ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Tôi tớ nam nữ mà (các) ngươi sẽ có, phải là những người thuộc các dân tộc chung quanh các ngươi; các ngươi sẽ mua tôi tớ nam nữ từ các dân tộc ấy. <sup>45</sup> Các ngươi cũng có thể mua trong số con cái các khách trọ, trú ngụ giữa các ngươi, trong các gia đình của chúng đang ở giữa các ngươi, những kẻ chúng đã sinh ra trên đất các ngươi: chúng sẽ là sở hữu của các ngươi. <sup>46</sup> Các ngươi sẽ để chúng lại làm gia nghiệp cho con cái các ngươi mai sau; để con cái các ngươi giữ làm sở hữu. Các ngươi có thể bắt chúng làm nô lệ mãi mãi, nhưng anh em các ngươi là con cái Ít-ra-en, thì không ai trong các ngươi được thống trị cách hà khắc.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>47</sup> Nếu một ngoại kiều hay khách trọ giữa (các) ngươi có phương tiện, và nếu người anh em của (các) ngươi lâm cảnh túng thiếu bên cạnh nó và phải bán mình cho ngoại kiều đó hoặc cho khách trọ giữa (các) ngươi, hoặc cho con cháu một gia đình ngoại kiều, <sup>48</sup> thì sau khi bán mình, người anh em ấy vẫn có quyền chuộc: một người trong các anh em nó có thể chuộc nó; <sup>49</sup> chú bác nó hay con của chú bác nó, hay một người bà con ruột thịt trong gia tộc nó có thể chuộc nó; hoặc nếu có phương tiện thì có thể tự chuộc mình. <sup>50</sup> Với người đã mua nó, nó sẽ tính thời gian từ năm nó bán mình cho đến năm toàn xá, và giá tiền bán nó cứ tuỳ số năm mà tính, theo lương công nhật của người làm thuê. <sup>51</sup> Nếu còn nhiều năm, thì nó cứ tuỳ theo số năm ấy mà khấu trừ vào tiền bán nó, để trả tiền chuộc mình. <sup>52</sup> Nếu còn lại ít năm trước năm toàn xá, thì nó sẽ tính theo số năm ấy mà trả tiền chuộc. <sup>53</sup> Nó sẽ ở với người kia như một người làm thuê từ năm nọ sang năm kia, nhưng người kia không được thống trị nó cách hà khắc.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>54</sup> Nếu nó không được chuộc bằng những cách trên, thì nó sẽ được ra đi, nó cùng với các con nó, vào năm toàn xá. <sup>55</sup> Thật vậy, con cái Ít-ra-en làm tôi tớ cho Ta, chúng là tôi tớ của Ta, những kẻ Ta đã đưa ra khỏi đất Ai-cập. Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 26 -</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Tóm kết</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Các người không được làm ra các tà thần mà thờ, không được dựng tượng và trụ đá để mà thờ, không được đặt trong đất các ngươi hình tượng bằng đá để sụp lạy chúng, vì Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. <sup>2</sup> Các ngươi phải giữ ngày sa-bát của Ta và kính sợ thánh điện của Ta. Ta là Ðức Chúa.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các lời chúc phúc</strong> (Ðnl 7: 12-24; 28: 1-14)</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Nếu các ngươi theo các quy tắc của Ta, nếu các ngươi giữ các mệnh lệnh của Ta và đem ra thực hành, <sup>4</sup> thì Ta sẽ ban mưa cho các ngươi đúng mùa, đất sẽ sinh hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ ra trái; <sup>5</sup> các ngươi sẽ được gặt lúa cho đến thời hái nho, và sẽ được hái nho cho đến thời gieo giống; các ngươi sẽ được ăn bánh của mình no nê và sẽ được sống yên hàn trên đất các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> Ta sẽ thiết lập hoà bình trong đất các ngươi, và các ngươi sẽ ngủ nghỉ mà không ai quấy phá, Ta sẽ khiến thú dữ biến khỏi đất các ngươi, và gươm sẽ không đi qua đất các ngươi. <sup>7</sup> Các ngươi sẽ đuổi kẻ thù của các ngươi, và chúng sẽ bị gươm đâm ngã gục trước mặt các ngươi. <sup>8</sup> Năm người trong các ngươi sẽ đuổi được một trăm, một trăm người trong các ngươi sẽ đuổi được mười ngàn, và kẻ thù của các ngươi sẽ bị gươm đâm ngã gục trước mặt các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Ta sẽ hướng về các ngươi, sẽ cho các ngươi sinh sôi nảy nở thật nhiều và sẽ giữ vững giao ước của Ta với các ngươi.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>10</sup> Các ngươi sẽ ăn lúa cũ, lúa mùa trước, và sẽ đổ lúa cũ ra lấy chỗ cho lúa mới.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>11</sup> Ta sẽ đặt Nhà Tạm của ta giữa các ngươi, và sẽ không chán ghét các ngươi. <sup>12</sup> Ta sẽ đi đi lại lại giữa các ngươi; Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta. <sup>13</sup> Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ðấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng nữa; Ta đã bẻ gông bẻ ách cho các ngươi và đã cho các ngươi tiến bước hiên ngang.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Các lời nguyền rủa</strong> (Ðnl 28: 15 -68)</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Nhưng nếu các ngươi không nghe Ta và không đem tất cả các mệnh lệnh đó ra thực hành, <sup>15</sup> nếu các ngươi gạt bỏ các quy tắc của Ta và chán ghét các quyết định của Ta, mà không đem ra thực hành các mệnh lệnh của Ta, lại huỷ bỏ giao ước của Ta, <sup>16</sup> thì Ta cũng vậy, Ta sẽ làm cho các ngươi như thế này:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>17</sup> Ta sẽ quay mặt lại phạt các ngươi và các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; các kẻ ghét các ngươi sẽ thống trị các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn dù không có người đuổi theo.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>18</sup> Dù vậy, nếu các ngươi vẫn không chịu nghe Ta, thì Ta sẽ còn sửa phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi. <sup>19</sup> Ta sẽ bẻ gãy sự kiêu hùng của các ngươi, Ta sẽ làm cho trời các ngươi ra như sắt, đất các ngươi ra như đồng; <sup>20</sup> các ngươi sẽ tiêu hao sức lực uổng công, đất các ngươi sẽ không còn sinh hoa màu, cây cối của đất sẽ không còn ra trái.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>21</sup> Nếu các ngươi chống Ta và không muốn nghe Ta, thì Ta sẽ còn đánh phạt các ngươi gấp bảy lần tội lỗi các ngươi. <sup>22</sup> Ta sẽ sai dã thú đến giữa các ngươi, chúng sẽ cướp con cái các ngươi, tiêu diệt gia súc các ngươi và giảm dân số các ngươi đến nỗi đường sá của các ngươi thành hoang vắng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>23</sup> Dù vậy, nếu các ngươi vẫn không chịu để Ta sửa dạy, mà cứ chống Ta, <sup>24</sup> thì Ta cũng vậy, Ta sẽ chống các ngươi và Ta cũng sẽ đánh phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi các ngươi. <sup>25</sup> Ta sẽ giáng xuống các ngươi lưỡi gươm báo oán để rửa hận cho giao ước. Các ngươi sẽ rút cả vào trong các thành của các ngươi, nhưng Ta sẽ gửi ôn dịch đến giữa các ngươi, và các ngươi sẽ bị trao vào tay kẻ thù. <sup>26</sup> Khi Ta làm cạn nguồn lương thực nuôi các ngươi, thì mười người đàn bà sẽ nướng bánh của các ngươi trong một lò duy nhất và sẽ chia bánh cho các ngươi theo định lượng; các ngươi sẽ ăn mà chẳng được no.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>27</sup> Dù vậy, nếu các ngươi vẫn không chịu nghe Ta mà cứ chống Ta, <sup>28</sup> thì Ta sẽ nổi cơn lôi đình chống các ngươi và Ta cũng sẽ sửa phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi các ngươi. <sup>29</sup> Các ngươi sẽ ăn thịt con trai, ăn thịt con gái các ngươi. <sup>30</sup> Ta sẽ tiêu huỷ những nơi cao của các ngươi, sẽ chặt những hương án của các ngươi, sẽ chất thây các ngươi trên thây những ngẫu tượng của các ngươi, và Ta sẽ chán ghét các ngươi. <sup>31</sup> Ta sẽ làm cho thành thị của các ngươi nên chốn tan hoang, sẽ tàn phá những thánh điện của các ngươi; các ngươi có dâng hương thơm làm vui lòng Ta, Ta cũng không ngửi. <sup>32</sup> Chính Ta sẽ tàn phá đất của các ngươi, và kẻ thù của các ngươi đến ở đó sẽ phải sửng sốt trước cảnh tượng ấy. <sup>33</sup> Còn các ngươi, Ta sẽ phân tán giữa các dân tộc, Ta sẽ tuốt gươm đuổi theo các ngươi; đất các ngươi sẽ bị tàn phá và thành thị của các ngươi sẽ nên chốn tan hoang. <sup>34</sup> Bấy giờ đất sẽ được hưởng bù những năm sa-bát của nó, suốt thời gian nó bị tàn phá và các ngươi phải ở trong đất của kẻ thù; bấy giờ đất sẽ nghỉ và sẽ được hưởng bù những năm sa-bát của nó. <sup>35</sup> Suốt thời gian nó bị tàn phá, nó sẽ nghỉ bù những năm sa-bát của các ngươi mà nó đã không được nghỉ, khi các ngươi sống ở đó. <sup>36</sup> Những kẻ còn lại trong số các ngươi, Ta sẽ làm cho chúng nản lòng trong đất của kẻ thù chúng. Tiếng một chiếc lá bay sẽ đuổi theo chúng; chúng sẽ chạy trốn như chạy trốn lưỡi gươm, và sẽ ngã gục dù không có người đuổi theo. <sup>37</sup> Chúng sẽ vấp vào nhau, người nọ vào người kia, như trước lưỡi gươm, dù không có người đuổi theo. Các ngươi sẽ không đứng vững trước mặt quân thù; <sup>38</sup> các ngươi sẽ bị diệt vong giữa các dân tộc, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ nuốt các ngươi. <sup>39</sup> Những kẻ còn lại trong số các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của chúng, trong đất của kẻ thù chúng; chúng sẽ chết dần chết mòn vì lỗi lầm của cha ông chúng, cộng với lỗi lầm của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>40</sup> Chúng sẽ xưng thú lỗi lầm của chúng và lỗi lầm của cha ông chúng: chúng đã phạm tội bất trung đối với Ta, lại còn chống Ta, <sup>41</sup> khiến Ta cũng chống chúng và đưa chúng đến đất của kẻ thù chúng. Bấy giờ tâm hồn không cắt bì của chúng sẽ tự hạ, và bấy giờ chúng sẽ chịu phạt vì lỗi lầm của chúng. <sup>42</sup> Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Gia-cóp, Ta cũng sẽ nhớ lại giao ước của Ta với I-xa-ác và giao ước của Ta với Áp-ra-ham; Ta sẽ nhớ lại đất ấy.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>43</sup> Ðất sẽ bị chúng bỏ rơi và sẽ được hưởng bù những năm sa-bát của nó, khi đất bị tàn phá không có chúng ở nữa, khi chúng chịu phạt vì lỗi lầm của chúng, bởi lẽ chúng đã gạt bỏ các quyết định của Ta và chán ghét các quy tắc của Ta.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>44</sup> Nhưng cả khi ấy nữa, khi chúng ở trong đất của kẻ thù chúng, Ta cũng sẽ không gạt bỏ chúng và không chán ghét chúng, đến nỗi tận diệt chúng và huỷ bỏ giao ước của Ta với chúng, vì Ta là Ðức Chúa, Thiên Chúa của chúng. <sup>45</sup> Vì chúng, Ta sẽ nhớ lại giao ước với tiền nhân chúng, những kẻ Ta đã đưa ra khỏi đất Ai-cập, trước mắt các dân tộc, để Ta là Thiên Chúa của chúng. Ta là Ðức Chúa.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>46</sup> Ðó là các thánh chỉ, quyết định và luật lệ Ðức Chúa đã dùng ông Mô-sê mà lập ra giữa Người với con cái Ít-ra-en tại núi Xi-nai.</span></p>
<p><strong><span style="color:#0000ff;font-family:Times New Roman;font-size:large;">- Chương 27 -</span></strong></p>
<p><strong><span style="color:#ff0000;font-family:Times New Roman;font-size:medium;">Phụ Lục</span></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>A. Loài người</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>1</sup> Ðức Chúa phán với ông Mô-sê rằng:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>2</sup> &#8220;Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Nếu ai muốn giữ trọn lời khấn hứa dâng một người cho Ðức Chúa, thì phải định giá như sau:</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>3</sup> Nếu là phái nam từ hai mươi đến sáu mươi tuổi, thì phải định giá là mười lăm lượng bạc, tính theo đơn vị đo lường của thánh điện; <sup>4</sup> nếu là phái nữ, thì phải định giá là chín lượng;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>5</sup> từ năm đến hai mươi tuổi, thì phải định giá nam là sáu lượng, nữ là ba lượng;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>6</sup> từ một tháng đến năm tuổi, thì phải định giá nam là mười lăm chỉ bạc, nữ là chín chỉ bạc;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>7</sup> từ sáu mươi tuổi trở lên, thì phải định giá nam là bốn mươi lăm chỉ bạc, nữ là ba lượng.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>8</sup> Nếu ai túng thiếu, không trả nổi giá đó, thì phải đặt nó trước mặt tư tế để tư tế định giá; tư tế sẽ dựa vào khả năng của người khấn hứa mà định giá.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>B. Loài vật</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>9</sup> Nếu là một con vật thuộc loại có thể dâng làm lễ tiến lên Ðức Chúa, thì bất cứ con nào người ta hiến cho Ðức Chúa đều là của thánh. <sup>10</sup> Không được đổi, không được thay thế con tốt bằng con xấu, hay con xấu bằng con tốt. Nếu cứ thay thế một con vật này bằng một con khác, thì cả con vật này lẫn con vật thay thế đều là của thánh. <sup>11</sup> Nếu là một con vật ô uế, thuộc loại không được dâng làm lễ tiến lên Ðức Chúa, thì phải đặt con vật trước mặt tư tế; <sup>12</sup> tư tế sẽ định giá nó là tốt hay xấu, và tư tế định giá thế nào thì cứ như vậy. <sup>13</sup> Nếu muốn chuộc lại, thì phải trả thêm một phần năm giá đã định.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>C. Nhà cửa</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>14</sup> Khi một người thánh hiến nhà mình làm của thánh dâng Ðức Chúa, thì tư tế sẽ định giá nhà ấy là tốt hay xấu; tư tế định giá thế nào thì cứ y như vậy. <sup>15</sup> Nếu người đã thánh hiến nhà muốn chuộc lại, thì sẽ phải trả thêm một phần năm giá đã định và nhà ấy sẽ là của nó.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>D. Ðồng ruộng</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>16</sup> Nếu một người thánh hiến cho Ðức Chúa một cánh đồng là sở hữu của mình, thì phải dựa vào số lượng lúa giống mà định giá: hai mươi thùng giống lúa mạch là mười lăm lượng bạc. <sup>17</sup> Nếu nó thánh hiến cánh đồng ngay từ năm toàn xá, thì cứ theo như giá đã định. <sup>18</sup> Nếu nó thánh hiến cánh đồng sau năm toàn xá, thì tư tế sẽ tính giá tuỳ theo số năm còn lại cho đến năm toàn xá, và có giảm bớt giá đã định.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>19</sup> Nếu người đã thánh hiến cánh đồng muốn chuộc lại, thì sẽ phải trả thêm vào đó một phần năm giá đã định, và cánh đồng sẽ thuộc về nó. <sup>20</sup> Nếu nó không chuộc lại cánh đồng nhưng bán cho người khác, thì cánh đồng không chuộc lại được nữa, <sup>21</sup> và khi cánh đồng ra khỏi tay người mua, vào thời kỳ toàn xá, thì cánh đồng sẽ là của thánh dâng Ðức Chúa, như một cánh đồng được biệt hiến; cánh đồng sẽ thuộc quyền sở hữu của tư tế.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>22</sup> Nếu nó thánh hiến cho Ðức Chúa một cánh đồng nó đã mua, chứ không phải cánh đồng thuộc quyền sở hữu của nó, <sup>23</sup> thì tư tế sẽ tính số tiền phải trả cho đến năm toàn xá, và ngay hôm đó người kia phải nộp theo giá đã định; đó là của thánh dâng Ðức Chúa. <sup>24</sup> Ðến năm toàn xá, cánh đồng sẽ lại về tay người bán, là người có quyền sở hữu đất. <sup>25</sup> Mỗi khi định giá thì phải theo đơn vị đo lường của thánh điện: một se-ken ăn hai mươi ghê-ra.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>Quy định đặc biệt về việc chuộc lại những của thánh hiến</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>a. Con đầu lòng</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>26</sup> Con đầu lòng trong đàn gia súc, không ai được thánh hiến: vì là con đầu lòng, nó đã thuộc về Ðức Chúa; dù là bò hay chiên dê, nó thuộc về Ðức Chúa. <sup>27</sup> Nhưng nếu là loài vật ô uế, thì có thể chuộc theo giá đã định, cộng thêm một phần năm; nếu nó không được chuộc, thì sẽ được bán theo giá đã định.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>b. Của biệt hiến</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>28</sup> Tuy nhiên, trong những cái thuộc về một người &#8211; như người, gia súc hay cánh đồng là sở hữu của nó &#8211; bất cứ cái gì nó đã biệt hiến dâng Ðức Chúa làm của biệt hiến, thì không được bán, cũng không được chuộc. Mọi của biệt hiến là của rất thánh, nó thuộc về Ðức Chúa. <sup>29</sup> Của biệt hiến mà là một người biệt hiến, thì không thể được chuộc: nó phải bị xử tử.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><strong>c. Thuế thập phân</strong></span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>30</sup> Mọi thuế thập phân đánh vào đất, trích từ sản phẩm của đất và từ hoa trái của cây cối, đều thuộc về Ðức Chúa: đó là của thánh dâng Ðức Chúa. <sup>31</sup> Nếu người nào muốn chuộc một phần thuế thập phân, thì phải trả thêm một phần năm.</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>32</sup> Mọi thuế thập phân đánh vào bò và chiên dê, tức là một phần mười của mọi vật đi qua dưới cây gậy người chăn, đều là của rất thánh dâng Ðức Chúa. <sup>33</sup> Không được tìm xem con nào tốt hay xấu và không được thay thế; nếu cứ thay thế, thì con vật ấy và con vật thay thế sẽ là của rất thánh, không thể được chuộc lại.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family:Times New Roman;font-size:small;"><sup>34</sup> Ðó là những mệnh lệnh Ðức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê nói lại cho con cái Ít-ra-en, trên núi Xi-nai.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<br />  <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gofacebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/facebook/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gotwitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/twitter/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/giotregiaoxutando.wordpress.com/412/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=giotregiaoxutando.wordpress.com&amp;blog=6595862&amp;post=412&amp;subd=giotregiaoxutando&amp;ref=&amp;feed=1" width="1" height="1" />]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://giotregiaoxutando.wordpress.com/2010/12/28/sach-le-vi/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="" medium="image">
			<media:title type="html">Giới trẻ Tân Độ</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>
